|
|
CHÚA NHẬT XX TN:
DÂN NGOẠI ĐƯỢC MỜI GỌI TIN VÀO THIÊN CHÚA
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí - Gp. Xuân Lộc
Có một từ chúng ta hay dùng để chỉ người ngoài đạo, đó là “bên lương”. Từ này phát xuất từ thời bách hại đạo tại Việt Nam. Lúc ấy, người tín hữu Công Giáo bị khắc lên mặt hai chữ “tả đạo” và bị buộc sống trong các làng không có đạo, dưới sự giám sát của cư dân bản địa. Những người không theo đạo thời bấy giờ được gọi là “bên lương”, có lẽ muốn nói đến chữ “lương thiện”, để đối lập với người tín hữu bị gán cho là “tả đạo” (phản động). Cũng chính từ đây, giữa người có đạo và người không có đạo đã nảy sinh cái nhìn không thiện cảm về nhau: bên này coi bên kia là những người xấu. Do di sản lịch sử ấy, cái nhìn nghi kỵ vẫn còn ảnh hưởng đến nhiều người ngày nay, tạo nên khoảng cách và sự dè chừng giữa một số người Công Giáo và những người ngoài đạo. Bên có đạo coi người ngoại đạo như thuộc về thế giới của ma quỷ, còn người ngoại đạo nhìn người theo đạo như một thế giới khép kín, bí ẩn.
Người Do Thái ngày xưa cũng mang cái nhìn phân biệt và kỳ thị tôn giáo rất mạnh. Họ cho rằng Thiên Chúa là Chúa của người Do Thái mà thôi, tất cả mọi dân tộc khác đều bị Thiên Chúa loại trừ. Người Do Thái nhìn tất cả những dân tộc khác là dân ngoại, bị ô uế và cấm người Do Thái giao du, tiếp xúc với dân ngoại. Sự cấm đoán, nghi kỵ này xuất phát từ lý do tôn giáo, vì sợ rằng khi giao du với dân ngoại, người Do Thái sẽ bị lây nhiễm những thói quen, tập tục của dân ngoại và còn bị cám dỗ thờ cúng các thần minh của dân ngoại.
Thưa quý OBACE, trong cái nhìn khắt khe của người Do Thái như thế, Lời Chúa hôm nay lại mở ra một tầm nhìn bao dung, rộng lớn của Thiên Chúa. Thiên Chúa không loại trừ bất cứ một người nào, dân tộc nào, tất cả đều được mời gọi trở nên đoàn dân của Thiên Chúa và được hưởng ơn cứu độ. Bài đọc một, qua tiên tri Isaia, Thiên Chúa đã nói: “Ta sẽ dẫn những người ngoại bang lên núi thánh của Ta.”
Có thể nói, lời sấm truyền qua miệng Isaia quả là một cái nhìn hết sức tiến bộ trong quan niệm Do Thái. Qua vị tiên tri, Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người, mọi dân tuân giữ giới răn và lề luật của Ngài. Bất cứ ai sống công minh, chính trực thì đều được xem là dân của Thiên Chúa. Hơn nữa, Chúa còn tuyên bố: người dân ngoại nào gắn bó với Thiên Chúa, phụng thờ và yêu mến Thánh Danh Ngài, thì cũng trở nên tôi tớ của Ngài. Thiên Chúa còn hứa nếu dân ngoại dâng hy lễ trên bàn thờ, Ngài sẽ đón nhận. Vì “nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện cho muôn dân.” Giêrusalem sẽ không còn là nơi thờ phượng độc quyền của dân Do Thái nữa, và Thiên Chúa cũng không còn là độc quyền của Israel; Ngài sẽ là Chúa của mọi dân tộc, và đền thờ Giêrusalem sẽ là nơi cho tất cả các dân tộc thờ phượng.
Tuy nhiên, câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay thoạt nghe khiến nhiều người thắc mắc: “Phải chăng Chúa Giêsu cũng vẫn mang cái nhìn nghi kỵ với dân ngoại như những người Do Thái khác?” Chúa Giêsu cùng các môn đệ đến vùng Tia và Siđôn, những vùng đất của người Phênixi, nằm ngoài lãnh thổ Israel. Trong vùng đất dân ngoại ấy, có một người phụ nữ, có lẽ đã tin vào Chúa Giêsu. Khi nghe tin Ngài đến, bà đã chạy đến và kêu cứu: “Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Người phụ nữ này là dân ngoại, nhưng lại tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia mà các tổ phụ Israel đã loan báo. Bà dùng chính lời của các ngôn sứ để gọi Người là Con vua Đavít, vì bà tin rằng Đấng Cứu Thế sẽ xuất thân từ dòng dõi vua Đavít; bà còn xin Người cứu con gái bà khỏi quỷ ám, chứng tỏ bà tin rằng Đức Giêsu có quyền trên ma quỷ.
Nhiều người ngạc nhiên vì người phụ nữ này lại biết về Chúa Giêsu và tin nhận Ngài, và họ càng ngạc nhiên hơn về thái độ và phản ứng của Chúa. Khi bà kêu xin, Chúa im lặng như không nghe thấy, không đáp lời. Thế nhưng, bà không thất vọng; bà vẫn kiên trì theo sau nài xin, đến nỗi các môn đệ phải lên tiếng xin Chúa giùm bà. Chúa Giêsu đã trả lời có vẻ rất cứng rắn: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi.” Có lẽ khi trả lời với các môn đệ như thế, Chúa không có ý giới hạn sứ mạng cứu độ cho riêng dân Israel, nhưng Người muốn nói đến sự ưu tiên, ơn cứu độ dành cho Israel trước, rồi mới đến các dân tộc khác.
Người phụ nữ có lẽ đã nghe được câu trả lời ấy, nhưng bà vẫn không nản lòng, vẫn tiếp tục nài xin: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” Chúa Giêsu đã đáp lại bằng một lời như dứt khoát: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con.” Người phụ nữ không hề tuyệt vọng. Trái lại, với tình yêu lớn lao dành cho đứa con gái sắp chết, với niềm hy vọng cuối cùng đặt nơi Chúa Giêsu, bà thưa: “Thưa Ngài, lũ chó con cũng được ăn những miếng bánh vụn từ bàn ăn của chủ rơi xuống.” Chúa Giêsu vô cùng ngạc nhiên về lòng tin và câu trả lời của bà, Người liền thực hiện phép lạ: “Lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào thì sẽ được như vậy.”
Nghe câu trả lời của Chúa Giêsu, nếu là người Việt, ta có thể nghĩ đó là lời khinh miệt nặng nề. Nhưng thực ra, đó là một thành ngữ quen thuộc của người Do Thái, hàm ý: người ta rất quý mến những chú chó con, có thể bồng ẵm cả ngày, chăm sóc như con mình, nhưng dù có thương đến đâu cũng không thể lấy phần ăn của con cái mà cho chúng. Hiểu được thành ngữ này, câu trả lời của người phụ nữ cũng mang ý nghĩa: bà không mong được Chúa yêu thương ưu ái ngang hàng với Israel, nhưng bà và con bà cũng giống như những “chú cún con” được ông chủ yêu thương, nên cũng được hưởng những mẩu bánh vụn từ bàn ăn của chủ.
Câu trả lời của người phụ nữ dân ngoại đã khiến Chúa ngạc nhiên về lòng tin của bà. Lòng tin ấy mạnh mẽ hơn của nhiều người Israel, những người đã thừa hưởng lời hứa, đã được nghe Chúa giảng và thấy Người làm phép lạ, nhưng vẫn không tin. Câu chuyện Tin Mừng kết thúc: “Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh.”
Thưa quý OBACE, nhiều người Do Thái ngày xưa cho rằng chỉ cần là con cháu Ápraham thì đương nhiên được hưởng ơn cứu độ mà không cần phải cố gắng. Vì thế, họ tỏ ra khinh thường Đức Giêsu và từ chối lời giảng dạy của Người. Trong khi đó, nhiều dân ngoại khi nghe Chúa Giêsu thì đã tin theo Người. Tin Mừng hôm nay cho thấy: Thiên Chúa không bao giờ giới hạn tình thương của Ngài; Ngài muốn ban ơn cứu độ cho tất cả mọi dân tộc, mọi quốc gia. Tất cả những ai tin và tuân giữ lề luật của Chúa, sống theo Tin Mừng của Chúa Giêsu, đều được hưởng ơn cứu độ.
Vậy nếu nói như thế, chúng ta có còn cần phải loan báo Tin Mừng nữa không? Thưa, Thiên Chúa vẫn cần và vẫn cậy nhờ chúng ta. Ngài trao cho mỗi người sứ mạng đem Tin Mừng đến cho muôn dân. Vì thế, chúng ta phải tiếp nối và làm cho ơn cứu độ của Chúa được lan tỏa rộng rãi đến mọi người. Chắc chắn không phải tất cả mọi người trên thế giới sẽ được lãnh nhận phép rửa, nhưng ít nhất họ cũng có thể nghe biết Tin Mừng của Chúa Giêsu, chứng kiến đời sống tốt lành của các tín hữu, và từ đó có thiện cảm, có lòng yêu mến đối với Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Cho dù những dân ngoại chưa được rửa tội, nhưng nhờ lối sống chứng tá đạo đức của người tín hữu, tinh thần Tin Mừng có thể lan tỏa và thấm sâu vào cách ứng xử của xã hội, trở thành một nét văn hóa sống, đó cũng là cơ hội để ơn cứu độ của Chúa đến với anh chị em khác.
Khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, ơn cứu độ mới chỉ là một hạt mầm được gieo vào tâm hồn mỗi người. Qua thời gian, mỗi người phải liên tục vun xới, chăm sóc, làm cho hạt giống đức tin ấy bén rễ, đâm chồi, trổ hoa và sinh trái trong cuộc đời mình. Mảnh đất tâm hồn qua thời gian có thể bị chai lì, bạc màu bởi sự lười biếng, bởi không nghe Lời Chúa, không tham dự Thánh Lễ và rước lễ, bởi từ chối nhổ cỏ dại qua Bí tích Giải Tội. Dần dần, sỏi đá và gai góc sẽ bóp nghẹt hạt giống đức tin trong tâm hồn, và từ đó ý thức trách nhiệm loan báo Tin Mừng cũng bị bỏ quên.
Xin Chúa giúp mỗi người biết không ngừng làm mới lại đời sống đạo của mình, và xin ban cho chúng ta lòng hăng say, nhiệt thành, khao khát đem Tin Mừng của Chúa đến với anh chị em chung quanh. Amen.
Các chủ đề cùng thể loại mới nhất:
|
|