+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 2/2 đầuđầu 12
kết quả từ 41 tới 48 trên 48

Chủ đề: DẪN VÀO THÁNH NHẠC - Lm. Đỗ Xuân Quế (biên khảo)

  1. #7
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Bài 4
    Thánh Kinh và Thánh Nhạc

    Người viết: Trần Phúc Nhân


    Thánh nhạc có liên hệ chặt chẽ với Thánh Kinh (TK). Chúng ta sẽ tìm hiểu mối liên hệ đó qua hai phần: ca nhạc trong TK, và TK trong Thánh nhạc.

    I. CA NHẠC TRONG THÁNH KINH :
    A) Trong Cựu Ước:
    Theo Cựu Ước, âm nhạc bắt nguồn từ Giu-van, một người thuộc dòng dõi Ca-in là con trai của ông tổ loài người :“Giu-van là ông tổ của những người chơi đàn” (St 4,21).
    1. Trong đời sống
    Ca nhạc là một hình thức văn hóa diễn tả tâm tình của con người qua âm điệu, vì thế được dùng trong nhiều hoàn cảnh, nhất là những dịp vui. Người ta tiễn đưa người thân “trong niềm vui, tiếng hát, tiếng trống, tiếng đàn” (St 31,27), mừng chiến thắng bằng tiếng ca (Xh 15,1; Tl 5,1), có kèm theo nhảy múa và đánh trống (Xh 15,20), với tiếng đàn tiếng kèn (2 Sb 20,28). Âm nhạc được sử dụng trong các bữa tiệc (Is 5,12; Am 6,5), trong đám rước dâu (1 Mcb 9,37.39). Nhà vua có các nam nữ ca sĩ (2 Sm 19,35; Gv 2,8), thì chú bé chăn chiên cũng biết gảy đàn (1 Sm 16,23).
    Khi buồn, người ta không ca hát múa nhảy nữa (Ac 5,14-15), treo đàn lên cành dương liễu (Tv 137,2). Tuy nhiên âm nhạc cũng được dùng trong những dịp tang tóc : TK còn ghi lại bài văn tế của ông Đa-vít khóc vua Sao-lê và hoàng tử Gio-na-than (2 Sm 1,18-27) và các bài Ai ca than van về thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị phá hủy; trong đám tang có những người khóc mướn (Gv 12,5) và những người thổi sáo (Mt 9,23).
    2. Trong Phụng tự
    Như trong các tôn giáo khác, ca nhạc cũng có một chỗ đứng trong việc phụng tự Do thái giáo. Bài ca cổ nhất trong văn chương tiếng Híp-ri là bài ca tụng Chúa của bà Mi-ri-am, chị ông Mô-sê :
    “Hãy hát mừng Đức Chúa,
    Đấng cao cả uy hùng,
    Kỵ binh cùng chiến mã,
    Người xô xuống đại dương” (Xh 15,21).
    Âm nhạc được dùng để gợi hứng cho các ngôn sứ (1 Sm 10,5; 2 V 3,15).
    Trong đền thờ Giê-ru-sa-lem , âm nhạc phụng vụ được dành cho các thầy Lê-vi. Theo 1 Sb 15,16-24, việc tổ chức các thầy Lê-vi chuyên lo về Thánh nhạc đã có từ thời vua Đa-vít. Theo 1 Sb 25, vua Đa-vít đã chọn các con của các ông A-xáp, Hê-man và Giơ-đu-tun làm ca sĩ, nhạc công trong việc thờ phượng, và chia họ làm 24 ban. Có thể là một tổ chức qui mô như thế phản ảnh thực trạng của một thời muộn hơn là của thời Đa-vít, nhưng có sự gán ghép đó cho vua Đa-vít là vì vua có tài ca nhạc : khi còn trẻ Đa-vít đã được triệu vào triều để gảy đàn, làm dịu cơn điên của vua Sao-lô (1 Sm 16,16-23) ; khi làm vua, Đa-vít thích lễ nhạc và đích thân nhảy múa theo tiếng nhạc trước hòm bia Thiên Chúa (2 Sm 6,5.14-16). Cũng chính vì thế mà vua được coi là tác giả bộ Thánh vịnh.
    Thánh vịnh là những bài thơ dùng trong phụng vụ với nhạc khí kèm theo. Ở đầu nhiều Tv có những tiêu đề trong đó hình như có chỉ dẫn về cách hát, cách đệm nhạc, ví dụ Tv 54,1 : “Phần nhạc trưởng. Với đàn dây. Thi khúc. Của Đa-vít” ; Tv 69,1 : “Phần nhạc trưởng. Theo điệu Bông huệ. Của Đa-vít”. Có lẽ các bài đó đã được hát, hay đúng hơn được ngâm theo những cung điệu nào đó, với tiếng đàn đệm ; nhưng ngày nay người ta không biết đích xác những cung điệu ấy xưa như thế nào.
    3. Nhạc khí
    Trong TK có nói tới ba loại nhạc khí :
    a. Nhạc khí thổi, gồm có kèn bạc (kèn thẳng, chiều dài khoảng 1 m, dùng để triệu tập dân chúng và trong phụng vụ), tù và (bằng sừng dê), sáo.
    b. Nhạc khí gảy, có đàn kinnor (có lẽ là đàn lia (lyre), nhỏ hơn, mang đi được ; tại Bê-ni Hát-san, ở phía Bắc Ai-cập, người ta đã tìm thấy trong một ngôi mộ cổ thuộc thế kỷ 19 trước công nguyên một bức họa vẽ một người châu Á vừa đi vừa gảy đàn), đàn neben (có lẽ là hạc cầm (harpe), lớn hơn). Trong TK đôi khi còn xác định : đàn tám dây, đàn mười dây.
    c. Nhạc khí gõ, có chũm chọe, trống con, dùng để giữ nhịp khi hát và múa (Xh 15,20; 1 Sm 16,8 ; Is 5,12), và có lẽ là một loại sênh tiền nào đó (1 Sm 18,6).
    Các nhạc khí được dùng cả trong đời sống dân sự, cả trong các nghi lễ thờ phượng. Tv 67(68),26 tả một đám rước : “Ca đoàn mở lối, ban nhạc theo sau, giữa là thanh nữ khua trống nhịp nhàng”. Tv 150 là một bản đại hòa tấu, có nói đến đủ ba loại nhạc khí : tù và, sáo, đàn, chũm chọe, trống.
    B) Trong Tân Ước :
    1. Trong Giáo Hội sơ khai
    Phụng vụ Ki-tô giáo phần nào phát xuất từ phụng vụ Do thái nên lúc đầu cũng dùng các bài ca của đạo Do thái. Như ở Mt 26,30 nói : “Hát Tv xong, thày trò đi ra lên núi Ơ-liu” ; các Tv đó là Tv 115-118 người Do thái quen hát vào cuối bữa ăn Vượt qua. Theo sách Công vụ, thời Giáo Hội sơ khai, các môn đệ Chúa ki-tô vẫn lên đền thờ Giê-ru-sa-lem cầu nguyện (2,46 ; 3,1). Nhưng họ còn họp nhau tại tư gia để nghe các tông đồ giảng và cử hành lễ bẻ bánh 2,42.46-47). Chắc trong các buổi họp này, ngoài các Tv, dần dần các tín hữu có dùng thêm các thánh ca của mình, như thánh Phao-lô viết : “Hãy cùng nhau xướng đáp những bài thánh vịnh , thánh thi và những bài ca do Thần khí linh hứng” (Ep 5,18 ; x. 1 Cr 14,26). Khi vui, người tín hữu hát thánh ca (Gc 5,13), nhưng cả khi bị giam trong ngục, ông Phao-lô và ông Xi-la cũng hát thánh ca và các người tù khác nghe (Cv 16,25).
    Trong Tân Ước có ghi lại một số thánh ca. Các thánh ca này thuộc hai loại. Một loại có hình thức và lối văn giống các Tv, đó là các bài ca của Đức Ma-ri-a (Lc 1,46-55), của ông Da-ca-ri-a (1,68-79), của ông
    Si-mê-on (2,29-32). Còn loại thứ hai có hình thức uyển chuyển hơn , như các vinh tụng ca ở Lc 2,14 (thiên thần hát) ; 1 Tm 1,17 ; 3,16 ; 6,15-16 ; Kh 4,8.11 ; 5,9.12-13 v.v..., hoặc các bài chúc tụng về mầu nhiệm Chúa Ki-tô ở Ep 1,3-14 ; 5,14 ; Pl 2,6-11 ; Cl 1,12-20 v.v... Các bài ca này, trước khi được ghi lại trong Tân ước, có lẽ đã được dùng trong phụng vụ thời các thánh tông đồ, cũng như nay vẫn còn chỗ đứng trong phụng vụ Giáo Hội.
    2. Trong phụng vụ Thiên quốc
    Sách khải huyền cho biết : chúng ta không những hát ở trần gian, mà trên trời còn sẽ muôn đời ca hát. Thật vậy hạnh phúc trên trời là một niềm vui cộng đồng (qua hình ảnh một bữa tiệc, một đám hội), mà niềm vui tập thể biểu lộ ra trong tiếng ca tiếng nhạc, nên sách khải huyền nói rằng các người được Thiên Chúa chọn cũng ca hát. Kh 5,8-9 : Trước ngai Thiên Chúa và Con Chiên, 24 vị kỳ mục (là 12 ngôn sứ với 12 tông đồ, hoặc 12 chi tộc Ít-ra-en cũ với 12 chi tộc Ít-ra-en mới ?) phủ phục, tay gảy đàn và miệng hát bài ca mới. Kh 14,1-3 : Tác giả nghe thấy ở trên trời có tiếng lớn như tiếng nước lũ, tiếng sấm, như tiếng những nhạc sĩ vừa gảy đàn vừa hát. Đó là tiếng những người được cứu chuộc hát bài ca mới tạ ơn Thiên Chúa. Kh 15,2-3 : Các người thắng Con Thú (tức là quyền lực đối nghịch Thiên Chúa) cầm đàn của Thiên Chúa và hát bài ca của ông Mô-sê.
    Phụng vụ của chúng ta phản ánh phụng vụ trên trời và tiên báo phụng vụ đó, nên cũng dành phần quan trọng cho âm nhạc. Khi hát, chúng ta hợp với ca đoàn các thiên thần và các thánh chúc tụng tạ ơn Chúa, nói lên niềm vui vì được cứu chuộc và được ở trong Cộng đoàn Giáo Hội, đồng thời ước mong và chuẩn bị một ngày nào sẽ được gia nhập ca đoàn thiên quốc ca tụng Chúa muôn đời.

    II. THÁNH KINH TRONG THÁNH NHẠC
    Theo Hiến chế Công đồng về phụng vụ, lời ca của các bài hát phụng vụ phải phù hợp với giáo lý Công giáo và tốt nhất là lấy từ Thánh Kinh (TK) và phụng vụ (số 121). Thật vậy, lời TK là lời linh hứng, nghĩa là được Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn cho các tác giả viết, nên không có lời nào thánh thiện và cao quý bằng. Lời của các tác giả khác, dù hay đến mấy, cũng không thể sánh bàng. Đàng khác, lời Tv là thơ nên nhiều khi cũng rất hay. Vì thế, các bài hát phụng vụ chính thức năng dùng lời TK (lưu ý : ở đây chỉ nói đến các bài ca có trong các sách phụng vụ chính thức, chứ không nói đến các bài thánh ca do các nhạc sĩ sáng tác).
    1- Một số bài ca phụng vụ không trực tiếp lấy lời TK
    Có thể kể các thánh thi đầu mỗi giờ kinh, kinh Vinh danh, bài ca Tán tụng (Te Deum). Nhưng các bài ca này nhiều khi mượn ý và đôi khi cũng mượn lời TK. Ví dụ : kinh Vinh danh có câu đầu lấy ở Lc 2,14 và câu : “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” mượn từ Ga 1,29 ; bài ca Tán tụng có mượn lời tung hô của các Xê-ra-phim ở Is 6,3 và những câu cuối cùng của bài toàn là những câu Tv.
    2- Đa số các bài ca phụng vụ lấy lời TK
    Ở đây chỉ nêu ra những bài ca trong thánh lễ : ca nhập lễ, ca hiệp lễ, Tv đáp ca, lời tung hô Tin Mừng, Kinh Thánh Thánh Thánh, Kinh Lạy Chiên Thiên Chúa . Về những bài này, ta có những nhận xét sau đây :
    Khi lấy lời TK, phụng vụ ít khi lấy cả một đoạn, mà chỉ lấy một ít câu ; có khi không lấy liên tục nhưng lượm lặt những câu hợp hơn ; hoặc có khi trong một câu lại cắt đi hay thêm vào một ít chữ, hoặc lấy ở chỗ khác ráp vào nữa. Phụng vụ làm như thế là nhằm lấy những yếu tố nào thích hợp hơn với mục tiêu của bài ca.
    Có thể đan cử ví dụ bài Thánh Thánh Thánh. Phần đầu “Thánh ... trời đất đầy vinh quang Chúa” lấy lại bài của các Xê-ra-phim ở Is 6,3 nhưng thêm chữ “trời”. Phần sau : “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô Chúa trên các tầng trời” là lời dân chúng tung hô khi rước Chúa Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem ở Mt 21,. Nhưng câu “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến” lại mượn từ Tv 118,26 ; câu hoan hô Chúa (Ho-san-na) trên các tầng trời” thì Ho-san-na lấy ở Tv 118,25a, còn “trên các tầng trời” đã được thêm vào.
    Các Tv đáp ca cũng thế. Phụng vụ chỉ dùng toàn bộ một Tv nếu ngắn, còn thường trích ra một số câu hợp hơn với Bài đọc 1 đi trước. Về Tv đáp ca này có một số điều cần phải lưu ý.
    3- Thánh vịnh đáp ca
    Ở nhiều nhà thờ ta thấy thay vì đọc hay hát Tv đáp ca như Sách Bài đọc chỉ, thì người ta hát một bài nào khác. Làm như thế có đúng phụng vụ không ? Cha Roguet, chuyên viên phụng vụ giải thích : “Gọi là Tv đáp ca vì Tv thường do ca đoàn hay một người xướng, còn giáo dân chỉ hát câu đáp, tức là một điệp khúc ngắn lặp lại sau mỗi câu Tv. Nhưng chữ “đáp ca” còn có một ý nghĩa sâu hơn : trong phần phụng vụ Lời Chúa, Thiên Chúa nói với ta trước, và chúng ta hát một Tv để đáp lại. Tv đáp ca không phải là một bài hát để lấp chỗ trống. Tv này cần phải được lắng nghe thực sự trong thinh lặng. Đây là một cách suy niệm Bài đọc 1 trước đó và giúp ta lĩnh hội ý nghĩa Bài đọc đó trong sự cầu nguyện. Tv được phụng vụ chọn lựa tùy theo Bài đọc 1, cho nên có thể coi như một Bài đọc thứ 4” (Tìm hiểu Thánh lễ số 22 ; ba bài đọc kia là bài Cựu Ước, bài Thánh thư và bài Tin Mừng). Như vậy ta thấy rõ : Tv đáp ca có liên hệ chặt chẽ với Bài đọc 1 trước đó và phải là một bài Tv hoặc thánh ca lấy từ TK, chứ không phải là bài ca có tính cách trang trí, lấy lời của một người phàm nào, dù hay đến mấy.
    Khi hát Tv đáp ca thì làm thế nào ? Lý tưởng là hát Tv chỉ định trong sách Bài đọc. Trong thực tế, điều này khó thực hiện, vì chỉ có rất ít Tv được dệt nhạc và cộng đoàn thường không dủ khả năng để hát mỗi lần. Khi nào Tv đã được dệt nhạc thì có thể hát (nhưng lưu ý : nhiều khi phụng vụ chỉ dùng một số câu chứ không lấy cả Tv). Một giải pháp khác là dệt một điệu nhạc dễ vào câu đáp (điệp khúc), còn các câu riêng thì do một người xướng lên bằng một cung giọng đơn giản. Sách lễ Rô-ma (Qui chế Tổng quát, số 36) còn đưa ra một giải pháp nữa, ít được biết đến : Khi nào hát thì tùy theo Mùa phụng vụ có thể dùng một số câu đáp chung và một số Tv chung, thay cho các Tv đáp ca được chỉ định trong sách Bài đọc (xem Phụ lục ở cuối bài này).
    4- Một số từ Híp-ri dùng trong phụng vụ
    Trong các sách phụng vụ tiếng La-tinh chỉ còn ba từ : A-men, Ha-lê-lui-a và Ho-san-na. Trong một ít bài hát tiếng Việt đôi khi ta còn gặp Gia-vê, Ma-ra-na-tha. Ta thử tìm hiểu ý nghĩa và cách dùng những từ này.
    A-MEN có nghĩa là “thật như thế”, “tôi đồng ý”. Phụng vụ năng dùng A-men, nhưng lời thưa A-men đặc biệt long trọng ở cuối Lời nguyện nhập lễ và nhất là ở cuối Kinh Tạ ơn (Kinh nguyện Thánh Thể), trước Kinh Lạy Cha, nói lên sự đồng tình của cộng đoàn với lời cầu nguyện của linh mục. Nên nghiên cứu cách nào để làm nổi bật hai lời thưa A-men đó.
    HA-LÊ-LUI-A là phiên âm từ Halơlu-Yah (trong tiếng Híp-ri có chữ h, thiết tưởng ta cũng nên giữ) : halơlu là “hãy ca tụng” ; Yah là một dạng tắt của tên Gia-vê. Ha-lê-lui-a là “Hãy ca tụng Chúa”, vì thế là một lời tung hô. Theo Khải huyền 19,1.3.4.6, Ha-lê-lui-a được dùng trong bài ca khải hoàn trên thiên quốc. Vì thế thánh tiến sĩ Âu-tinh nói : chúng ta hát Ha-lê-lui-a khi còn đi trên đường ở trần thế, để thêm can đảm, thêm sức tiến về quê trời, nơi chúng ta sẽ muôn đời hát Ha-lê-lui-a. Khi hát, nếu cần cắt chữ ra thì cắt theo nghĩa, tức là Ha-lê-lu Ha-lê-lui-a. chứ đừng cắt Ha-lê Ha-lê-lui-a (như thấy trong một vài bài hát).
    HO-SAN-NA dùng trong bản La-tinh kinh Thánh Thánh Thánh (xem phần số 2 ở trên). Bản chính thức tiếng Việt dịch là “Hoan hô Chúa”, chỉ có bộ lễ Nguyễn Văn Trinh dùng Ho-san-na.
    GIA-VÊ là danh Chúa trong Cựu ước. Trong một số bài hát tiếng Việt còn gặp từ này. Thực ra trong Cựu ước Híp-ri, tên Chúa được viết tắt bằng bốn phụ âm YHVH. Bốn phụ âm này đọc với nguyên âm nào thì không rõ, vì chính người Do-thái, do kính trọng, đã từ lâu không đọc tên Chúa, mà hễ gặp YHVH thì đọc là A-đo-nai, nghĩa là “Chúa chúng tôi”. Đọc là Giê-hô-va chắc chắn là không đúng. Nhiều học giả TK cho rằng đọc là Gia-vê (Yahveh), nhưng cũng không chắc, vì có ý kiến cho rằng có lẽ đọc là Gia-vô (Yahvoh). Dầu sao, đối với chúng ta vấn đề đó không quan trọng vì phụng vụ Giáo hội, tiếp nối truyền thống Do thái, không hề đọc tên Chúa, mà chỉ dùng Ky-ri-os (Hy lạp) hoặc Do-mi-nus (La tinh), nghĩa là “Chúa”. Vì thế chúng ta cũng nên tránh dùng Gia-vê trong các bài hát (trừ khi những bài cũ đã lỡ soạn rồi) và khi soạn bài hát thì nên dùng “Chúa” hay “Đức Chúa” (như Hoàng Kim). Như thế hợp với truyền thống phụng vụ hơn.
    MA-RA-NA-THA là một từ tiếng A-ram gặp ở 1Cr 16,22. Tùy theo cách ngắt chữ, có thể có hai nghĩa : Ma-ran a-tha là “Chúa ngự đến”, Ma-ra-na tha là “Lạy Chúa chúng con, xin ngự đến” (Kh 22,20 có lời tương tự : “Lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến”).
    Như đã thấy trên, thánh nhạc có liên hệ chặt chẽ với TK. Vì thế muốn soạn và dùng thánh nhạc cho đúng và cho thấm thía ý nghĩa, cần phải học phải biết TK.
    Nếu hiểu ý nghĩa TK và việc sử dụng TK trong phụng vụ, ta sẽ chọn bài hát đúng chỗ và đúng mùa phụng vụ. Ta cũng sẽ có thể soạn những bài ca thích hợp, tránh được trường hợp đáng tiếc như bài Hãy vùng đứng của Vinh Hạnh lấy lời Is 60 và có cảm hứng nhạc rất khá, nhưng lại không dệt nhạc những câu 3-6 (nói về các vua tiến bước theo ánh sáng của Giê-ru-sa-lem và các dân nước sẽ mang lễ vật, vàng với trầm hương đến) nên nếu dùng trong lễ Hiển linh (là hoàn cảnh thích hợp nhất) thì thấy thiếu. Bài Hát lên một bài ca mới của cùng một tác giả cũng thế : bài này là Tv 97 (98), thánh vịnh đặc trưng của Mùa Giáng sinh, nhưng lại thiếu câu 2-3 là hai câu quan trọng nhất (“Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ ... toàn cõi đất đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”), do đó bài ca hùng hồn này trở nên què quặt ... Ngược lại, soạn với lời ca lấy cảm hứng từ TK thì không những lời ca phong phú và đúng với đường lối Giáo hội, mà hơn nữa bài ca được bảo đảm có giá trị lâu dài, vì lời ca do nhạc sĩ sáng tác dễ chạy theo thời trang và do đó cũng rất chóng lỗi thời, còn lời ca lấy từ TK (và phụng vụ) thì không bao giờ già đi (về mặt này có lẽ phần nào cũng có thể lấy Vinh Hạnh làm ví dụ ...).


    PHỤ LỤC :


    CÁC CÂU ĐÁP CHUNG VÀ THÁNH VỊNH ĐÁP CA CHUNG
    1. Các câu đáp chung có thể dùng (khi hát) với bất cứ Tv đáp ca nào trong Mùa PV
    + Mùa Vọng : Xin Chúa đến cứu chuộc chúng con.
    + Mùa Giáng sinh : Lạy Chúa, hôm nay chúng con đã nhìn thấy (hoặc : được chiêm ngưỡng) vinh quang Chúa.
    + Mùa Chay : Lạy Chúa, xin nhớ lại ân tình và tín nghĩa của Chúa. (hoặc tình thương và lòng thành tín của Ngài)
    + Mùa Phục sinh : Ha-lê-lui-a (2 hoặc 3 lần)
    + Mùa Thường niên :
    a) Với Tv tán tụng :
    - Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ
    - Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Ngài, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu
    - Hát lên mừng Chúa một bài ca mới
    b) Với Tv cầu xin :
    - Chúa gần gũi những ai kêu cầu chúa
    - Lạy Chúa, xin nhận lời và cứu độ con
    - Chúa là Đấng từ bi nhân hậu
    2. Các Thánh vịnh đáp ca chung có thể hát thay cho Tv được chỉ định trong sách Bài đọc, tùy thuộc Mùa (số trước là số của bản PV, số trong ngoặc là số của bản Híp-ri)
    + Mùa Vọng :
    . Tv 24 (25),4bc-5ab.8-9.10+14 (câu đáp : 1b) lấy ở Mùa Vọng, CN 1C.
    . Tv 84 (85),9ab-10.11-12.13-14 (câu đáp 8) lấy ở Mùa Vọng, CN 2B.
    + Mùa Giáng sinh :
    . Tv 97 (98),1.2-3ab.3cd-4.5-6 (câu đáp : 3c) lấy ở lễ Giáng sinh, lễ ngày
    + Mùa Chay :
    . Tv 50 (51),3-4.5-6a.12-13.14+17 (câu đáp : x.3a) lấy ở Mùa Chay CN 1A
    . Tv 90 (91),1-2.10-11.12-13.14-15 (câu đáp : x.15b) lấy ở Mùa Chay CN 1C
    . Tv 129 (130),1-2.3-4ab.4c-6.7-8 (câu đáp : 7) lấy ở Mùa Chay CN 5A
    + Mùa Phục sinh :
    . Tv 117 (118),1-2.16ab-17.22-23 (câu đáp : 24) lấy ở lễ Phục sinh, lễ ngày
    . Tv 65 (66),1-3a.4-5.6-7a.16+20 (câu đáp : 1) lấy ở Mùa Phục sinh, CN 6A
    + Mùa Thường niên :
    . Tv 18B (19B),8.9.10.15 (câu đáp : Gioan 6,64b) lấy ở Mùa Thường niên, CN 3C
    . Tv 26 (27),1.4.13-14 (câu đáp : 1a) lấy ở Mùa Thường niên, CN 3A
    . Tv 33 (34),2-3.4-5.6-7.8-9 (câu đáp : 9a) lấy ở Mùa Thường niên, CN 19B
    . Tv 63 (63),2.3-4.5-6.8-9 (câu đáp : 2b) lấy ở Mùa Thường niên, CN 12C
    . Tv 94 (95),1-2.6-7.8-9 (câu đáp : 8) lấy ở Mùa Thường niên, CN 4B
    . Tv 99 (100),2.3.5 (câu đáp : 3c) lấy ở Mùa Thường niên, CN 11A
    . Tv 102 (103),1-2.3-4.8+10.12-13 (câu đáp : 8a) lấy ở Mùa Thường niên, CN 7A
    . Tv 144 (145),1-2.8-9.10-11.13cd-14 (câu đáp : x.1) lấy ở Mùa Thường niên, CN 14A
    Hy vọng các nhạc sĩ sẽ dệt nhạc (dễ dễ một chút) các câu đáp chung và các thánh vịnh đáp ca theo đúng tinh thần phụng vụ.



    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  2. Có 3 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  3. #6
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    (tiếp theo)

    III. ĐÀN HÁT TRONG PHỤNG VỤ :

    A) Hát lúc nào?
    1- Hát khi cử hành Thánh lễ :
    “Khi cử hành Thánh lễ có giáo dân tham dự, nhất là những ngày Chúa nhật và ngày lễ, nên hết sức coi trọng hình thức lễ hát hơn, dù cử hành nhiều lần trong cùng một ngày” (id. số 27). Như vậy rõ ràng phải cố gắng cử hành mọi Thánh lễ có kèm theo ca hát, dù phải phân biệt “lễ trọng, lễ hát và lễ đọc”.
    Vậy phải hát những bài gì khi cử hành Thánh lễ ? Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 29,30,31 phân biệt 3 cấp bậc tham gia lễ hát. Đó là :
    a. Bậc nhất gồm có :
    + Lời chào của linh mục và lời đáp của giáo dân.
    + Lời nguyện.
    + Các câu tung hô Tin Mừng.
    + Lời nguyện tiến lễ.
    + Kinh tiền tụng với những câu đối đáp và Kinh “Thánh, Thánh, Thánh”.
    + Lời tụng ca kết thúc kinh tạ ơn.
    + Kinh Lạy Cha với lời nhắn nhủ và lời cầu nguyện tiếp.
    + Lời chúc bình an.
    + Lời nguyện hiệp lễ.
    + Những công thức kết lễ.
    b. Bậc hai gồm :
    + Kinh Xin Chúa thương xót, Vinh Danh và Lạy Chiên Thiên Chúa.
    + Kinh Tin Kính.
    + Lời nguyện giáo dân.
    c. Bậc ba gồm :
    + Những bài hát lúc nhập lễ và rước lễ.
    + Bài hát sau bài đọc hoặc thánh thư.
    + Alleluia trước khi đọc Tin Mừng.
    + Bài hát tiến lễ.
    + Các bài đọc sách thánh, trừ khi thấy nên đọc hơn hát.
    “Cách sử dung các cấp bậc tham gia được qui định như sau : bậc nhất có thể dùng riêng một mình; bậc hai và bậc ba chỉ được dùng tất cả hay một phần chung với bậc nhất. Như vậy, các tín hữu sẽ luôn luôn được khuyến khích dự phần ca hát một cách đầy đủ” (id. số 28).
    Ngoài ra Huấn thị “De musica in sacra liturgia” còn có những chỉ dẫn rõ ràng và cụ thể về việc hát các phần Thường lễ và Riêng lễ như sau :
    (i) Đối với các phần Thường lễ, cộng đoàn tín hữu nên tham gia một cách đồng bộ và tích cực chứ không được giao khoán cho ca đoàn. Lúc đó những bài trong phần này “có thể chia cho ca đoàn và giáo dân, hoặc chia cho hai phía giáo dân; có thể hát luân phiên từng câu thích hợp, hoặc từng khúc trong toàn thể bản văn” (id. số 33).
    Đặc biệt nếu là những bài tạ ơn, thì có thể giao cho ca đoàn miễn là không loại trừ hoàn toàn sự tham gia của cộng đoàn. (id số 33)
    (ii) Đối với các bài hát phần Riêng lễ thì không bắt buộc cộng đoàn tín hữu tham gia đồng bộ và tích cực như phần Thường lễ. Có thể giao cho ca đoàn phụ trách. Tuy nhiên khi có những điệp khúc dễ hát và “những hình thức âm nhạc thích hợp” thì “cộng đoàn tín hữu nên hết sức tham gia hát phần Riêng lễ”, đặc biệt là “bài hát sau các bài đọc, dưới hình thức đáp ca (thánh vịnh xướng đáp)” (id. số 32).
    2- Hát khi cử hành các Bí tích và Á bí tích :
    “Nên hết sức cử hành kèm theo ca hát các Bí tích và Á bí tích có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của cộng đồng xứ đạo, như các lễ Thêm sức, Truyền Chức Thánh, Hôn Phối, Cung hiến Thánh đường hay bàn thờ, lễ An táng, v.v... Tính cách lễ lạ của các nghi thức đó sẽ giúp cho việc mục vụ hữu hiệu hơn” (id. số 42)
    Cũng Huấn thị này số 44 khuyên nên soạn những cung điệu thích hợp để dùng trong lúc cử hành các Bí tích và Á bí tích, cũng như các lễ nghi đặc biệt khác trong năm Phụng vụ, miễn là phù hợp với những qui định của Giáo quyền và có lưu ý đến khả năng của mỗi Cộng đoàn.
    Ngay cả những buổi tĩnh tâm, giờ thánh, suy tôn Lời Chúa, cử hành Lời Chúa, v.v ... thì “Thánh nhạc cũng rất hữu hiệu để nuôi dưỡng lòng đạo đức của tín hữu”. Đặc biệt những lúc này nên sử dụng các Thánh vịnh, các bài hát tôn giáo bình dân, đàn đại quản cầm và các nhạc khí khác, ... có thể giúp ích cho việc đạo đức, thánh thiện (id. số 45).
    3- Hát kinh Phụng vụ :
    “Hát kinh Phụng vụ là hình thức thích hợp nhất với bản tính của kinh này” (id. số 36)
    Huấn thị khuyên các giáo sĩ, tu sĩ nên hát kinh Phụng vụ, ít là vào những giờ chính như Kinh Sáng và Kinh Chiều nên hát một phần kinh, hay ít là vào các ngày Chủ nhật và các ngày lễ (id. số 36, 39). Đặc biệt nên “hát những phần tự bản chất đòi phải hát như Xướng đáp, Thánh thi, Thánh ca” (id. số 37).
    Huấn thị cũng khuyên các vị có trách nhiệm “thúc đẩy các tín hữu đọc chung một vài phần kinh Phụng vụ vào những ngày Chủ nhật và lễ Trọng, đặc biệt giờ Kinh Chiều hoặc những giờ kinh khác”. (id. số 38)
    B) Ngôn ngữ ca hát:
    1- Tiếng Latinh :
    a. Phải ưu tiên dùng ca điệu Gregorio trong những lễ nghi Phụng vụ có ca hát cử hành bằng tiếng Latinh (id. số 49a).
    b. Ngay cả những nơi đã dùng tiếng bản quốc trong khi cử hành Thánh lễ, các vị chủ chăn cũng thỉnh thoảng nên duy trì một hoặc vài Thánh lễ cử hành bằng tiếng Latinh - đặc biệt là lễ hát - trong một vài Thánh đường (id. số 47), hay ít ra là liệu cho tín hữu biết hát chung với nhau bằng tiếng Latinh những bài trong phần Thường lễ dành riêng cho họ (id. số 46; hiến chế PV số 54).
    c. Việc sử dụng các bài thánh ca Latinh (đặc biệt là Bình ca) trong những lễ nghi Phụng vụ cử hành bằng tiếng bản xứ không có gì bất tiện cả. Bởi vì theo Huấn thị “trong cùng một buổi cử hành Phụng vụ vẫn có thể hát một vài bài bằng một ngôn ngữ khác” (id. số 50).
    2- Tiếng bản quốc :
    Công đồng Vaticanô 2 trong hiến chế Phụng vụ số 36 đã mở ra một kỷ nguyên mới khi cho phép các Giáo hội địa phương dùng tiếng bản quốc trong các lễ nghi Phụng vụ. Điều đó đồng thời đi đôi với việc cho phép sử dụng những cung điệu soạn cho những bản văn bằng tiếng bản quốc :
    a. “Phải tôn trọng đặc tính và những qui luật của mỗi ngôn ngữ cũng như phải để ý đến đặc tính của mỗi dân tộc” (id. số 53).
    b. Phải tuân theo những qui luật của Thánh nhạc (id. số 53), và các cung điệu mới phải được thẩm quyền địa phương phê chuẩn mới được sử dụng trong Phụng vụ (id. số 54, 56).
    c. Phải tham khảo các cung điệu cổ truyền của Phụng vụ Latinh (id. số 55), phải nghiên cứu, khảo sát các hình thể thánh ca Latinh (id. số 58) để rút ra được những gì còn phù hợp với nhu cầu mới của Phụng vụ.
    C) Các hình thể thánh ca trong Phụng vụ :
    Như trên đã nói, cho dù Giáo hội cho phép chúng ta sử dụng những cung điệu mới soạn cho các bản văn tiếng bản xứ trong các lễ nghi Phụng vụ, chúng ta cũng phải tham khảo tối đa các hình thể thánh ca Latinh khi soạn những cung điệu mới đó. Bởi vì các hình thể này đã đạt tới mức độ hoàn chỉnh và hòa hợp một cách tuyệt diệu với các động tác phụng vụ. Đặc biệt thánh lễ được tiến hành như một vở kịch với các vai chánh tế, phó tế, giáo dân, người đọc sách, ca xướng viên, ca đoàn ... lúc đọc, lúc hát, lúc ngâm vịnh, lúc độc tấu, lúc hợp xướng, lúc đối đáp, ... với các hình thể hoàn chỉnh và hợp lý như :
    1- Hình thể tụng kinh (psalmodie) dùng để ngâm thánh vịnh.
    2- Hình thể Thánh vịnh có đáp ca (Psalmus responsorius) dùng cho các bài Đáp ca.
    3- Hình thể Đối ca với Thánh vịnh (Antiphona cum psalmo suo) dùng cho ca
    Nhập lễ, ca Dâng lễ, ca Hiệp lễ (x. Qui chế Tổng quát cho các số 26, 50, 56i).
    4- Hình thể đọc (Toni communes) dùng cho các bản văn có tính cách văn xuôi như :
    Cung lời nguyện (Toni orationum), các loại Cung sách như Cung tiên tri (Tonus prophetiae) - Cung thánh thư (Tonus Epistolae) - Cung Phúc âm (Tonus Evangelii) ...
    5- Hình thể ca vãn (Hymnus) dùng cho các bài Đối ca đi với Thánh vịnh ...
    Từ đó có những tuyển tập Thánh ca dùng trong Phụng vụ Latinh như : Antiphonarium gồm các bài Đối ca dùng cho các giờ Kinh Chiều, Kyriale gồm các Bộ lễ, Graduale gồm các bài sử dụng trong thánh lễ như ca nhập lễ - ca dâng lễ - ca hiệp lễ, Ceremoniale, Missale, Officium divinum, Lectionarium, v.v ...
    D) Việc sử dụng nhạc khí trong Phụng vụ :
    1- Phụng vụ Latinh vẫn coi trọng vai trò của đại quản cầm trong Phụng vụ. Ngoài ra, nói chung, Giáo hội cho phép sử dụng các loại nhạc khí khác trong phụng vụ, kể cả các nhạc khí đặc biệt của các dân tộc, miễn là “chúng thích hợp được để dùng vào việc thánh với công dụng thiêng thánh, hay hợp với vẻ trang trọng của đền thờ, và thực sự giúp cho các tín hữu sốt sắng hơn” (id. số 61).
    2- Các nhạc khí được dùng để đệm cho tiếng hát, nhưng không được lấn át tiếng hát (id. số 61, 63, 64).
    3- Có thể độc tấu nhạc khí (hay cả dàn nhạc) trước khi linh mục tiến vào bàn thờ, lúc dâng lễ vật, trong khi rước lễ và lúc cuối lễ (id. số 64). Nhưng không được độc tấu các nhạc khí trong Mùa Vọng và Mùa Chay, trong tuần Tam nhật Vượt Qua, và trong giờ Kinh Lễ cầu hồn (id. số 65).
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  4. Được cám ơn bởi:


  5. #5
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Bài 3
    Thánh Nhạc và phụng vụ


    Đức Thánh Cha Pio X gọi Thánh nhạc là “Nữ tỳ của Phụng vụ”, nghĩa là Thánh nhạc hoàn toàn lệ thuộc vào Phụng vụ, nhằm “phục vụ” Phụng vụ mà thôi. Và cũng có thể hiểu là không có Thánh nhạc, Phụng vụ vẫn đầy đủ và đứng vững, chẳng mất mát gì.

    Đức Thánh Cha Pio XII trong Thông điệp “Mediator Dei” đã coi Thánh nhạc như là “thành phần cần thiết của Phụng vụ”. Cái nhìn về vai trò của Thánh nhạc trong Phụng vụ đã thay đổi. Từ nay Thánh nhạc đã có chỗ đứng thực sự trong Phụng vụ, và là chỗ đứng cần thiết.

    Ngày nay, với Hiến chế về Phụng vụ của Công đồng Vaticano (số 112), Giáo Hội đã coi Thánh nhạc là “thành phần hoàn chỉnh” (pars integrans) của Phụng vụ. Như vậy, có nghĩa là : Phụng vụ mà không có Thánh nhạc, Phụng vụ còn thiếu xót. Và chúng ta có thể kết luận là : một nghi lễ Phụng vụ chỉ được coi là đầy đủ và hoàn hảo, khi được cử hành với Thánh nhạc :“Lễ nghi Phụng vụ sẽ mang hình thức cao quý hơn, khi được cử hành kèm theo ca hát, khi mỗi thừa tác viên chu toàn đúng nhiệm vụ của mình, và khi có dân chúng tham dự” (Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 5, PV số 113).


    I. THÁNH NHẠC TRONG TƯƠNG QUAN VỚI PHỤNG VỤ :

    Dựa trên các văn kiện của Giáo Hội liên quan đến Phụng vụ và Thánh nhạc, chúng ta thấy có những mối tương quan sau đây :
    (i) Thánh nhạc phải tùy thuộc và theo sát nghi thức Phụng vụ chứ không thể đứng độc lập, và càng không thể bắt Phụng vụ phải nhường bước. Như thế, Thánh nhạc mới chu toàn nhiệm vụ của mình trong Phụng vụ :“Thánh nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động Phụng vụ bao nhiêu, thì càng thánh hơn bấy nhiêu” (PV 112).
    Do đó không thể chấp nhận việc một số ca đoàn hát những bản nhạc đâu đâu không ăn nhập gì với Phụng vụ, hoặc hát những bản nhạc dài dòng lê thê làm gián đoạn nghi thức Phụng vụ, bắt chủ tế và cộng đoàn phải chờ đợi, như thể trong các rạp hát ...
    (ii) Thánh nhạc góp phần và làm cho lễ nghi Phụng vụ mang một hình thức cao quý và long trọng hơn :“Hoạt động Phụng vụ mang một hình thức cao quý hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng với tiếng hát do các thừa tác viên có chức thánh chủ sự và giáo dân tích cực tham dự” (PV số 112, 113; x. “De musica in sacra liturgia” số 5).
    (iii) Thánh nhạc làm cho cộng đoàn tín hữu tham dự một cách linh động và tích cực vào Phụng vụ Thánh, đồng thời Thánh nhạc cũng giúp cho tín hữu cầu nguyện và biểu lộ sự hiệp nhất và tính cộng đồng trong Phụng vụ :“Quả vậy, dưới hình thức này (hình thức cử hành Phụng vụ có ca hát) lời kinh được diễn tả cách thâm thúy hơn; mầu nhiệm của Phụng vụ, với đặc tính đẳng cấp và cộng đồng, được biểu lộ rõ ràng hơn; sự hiệp nhất tâm hồn nhờ sự kết hợp tiếng nói, mà đạt được cách sâu xa hơn; những tâm tư được nâng lên từ vẻ đẹp của sự vật thánh, tới thực tại vô hình cách dễ dàng hơn”. (MS. số 5; x. PV số 112 và 114; x. Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 5).
    (iv) Thánh nhạc diễn tả được tính phấn khởi và niềm vui trong cử hành Phụng vụ, vì mọi cuộc họp Phụng vụ đều là cuộc “họp mừng”, là “tham dự và nếm trước Phụng vụ trên trời”, “là nơi chúng ta hợp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh ca ngợi tôn vinh Chúa” (x. PV số 8). Nhất là việc cử hành Lễ Tạ Ơn trong đó hiện tại hóa “sự vinh thắng và khải hoàn nhờ cái chết của Người” (x. PV số 6).
    (v) Một bài thánh ca có tính dẫn nhập vào việc cử hành Phụng vụ, làm nổi bật ý nghĩa của thánh lễ ngày hôm đó, hoặc của mùa Phụng vụ đang cử hành. Thí dụ : bài Ca nhập lễ, Thánh vịnh đáp ca trong suốt mùa Phục sinh có thể được thay bằng ALLELUIA.

    II. NHỮNG NHÂN VẬT PHỤNG VỤ :

    “Muốn tổ chức một buổi cử hành Phụng vụ cho đích đáng thì trước tiên phải phân chia và thi hành các chức vụ cho đúng, khiến mỗi thừa tác viên hay mỗi tín hữu, khi thi hành các chức vụ, sẽ chỉ làm và làm hết những gì thuộc phận sự của mình thôi, chiếu theo bản tính của sự vật và những qui tắc Phụng vụ (PV số 28). Những công việc tổ chức cũng đòi ta phải giữ đúng ý nghĩa và bản chất của mỗi phần và mỗi bài hát. Muốn đạt mục đích ấy thì phải hát thật sự, đặc biệt những bản văn nào đương nhiên cần hát, và phải tôn trọng thể loại cũng như hình thức của những bản văn đó, do bản tính chúng đòi hỏi” (Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 6).
    Như thế rõ ràng phải có sự phân chia chức vụ giữa những người tham gia cử hành Phụng vụ, và “trong các lễ nghi phụng vụ, các người sau đây chiếm một vị trí đặc biệt : linh mục và các thừa tác viên, vì chức thánh của họ, rồi đến người đọc sách thánh, dẫn lễ, và các người thuộc ca đoàn, vì thừa tác vụ của họ (PV số 29)” (id. số 13)
    Để giới hạn vấn đề, chúng ta chỉ xét đến vai trò của các nhân vật Phụng vụ liên quan đến phạm vi Thánh nhạc trong Phụng vụ. Sau đây là qui tắc tổng quát :“Khi chọn những bài để hát, phải dành ưu vị cho những bài do bản tính có tầm quan trọng hơn : trước hết những phần linh mục chủ sự hay thừa tác viên hát và giáo dân thưa đáp; thứ đến những bài do linh mục và giáo dân cùng hát; sau đó mới thêm dần những bài chỉ dành riêng cho giáo dân, hoặc dành riêng cho ca đoàn” (id. số 7).
    A) Linh mục và thừa tác viên :
    Huấn thị “De musica in sacra liturgia” và Qui chế tổng quát Sách lễ Roma chú trọng rất nhiều đến những câu tung hô và đối đáp giữa chủ tế hay thừa tác viên với cộng đoàn và những bài dành cho chủ tế và giáo dân cùng hát, như đã nói ở trên. Vì thế vai trò của chủ tế và thừa tác viên trong vấn đề hát rất quan trọng. Bởi vậy chủ tế và thừa tác viên không được bỏ hát để đọc chỉ vì như thế đỡ mất công luyện tập cho mình (id. số 8). Và ngay cả khi hát được thì sẽ không hát chỉ vì phải hát, hoặc hát mà không luyện tập hay chuẩn bị gì. Tuy nhiên, nếu hát mà làm ngăn trở cho cộng đoàn vì ngang cung hay không đúng giọng hoặc lệch lạc cách nào đó, thì phải đọc thong thả, nghiêm trang rõ ràng những chổ cần phải hát. Đặc biệt những phần có giáo dân đối đáp thì chủ tế và thừa tác viên phải cố gắng để hát những câu xướng như “Đây là Mầu nhiệm Đức tin” chẳng hạn, để cho giáo dân tung hô và đáp lại.
    Những phần dành cho chủ tế và cộng đoàn cùng hát thì chủ tế phải hát, chứ không nên đứng yên hay làm công việc khác, như mở sách tìm lời nguyện nhập lễ, kinh tiền tụng hay kinh nguyện thánh thể :“Linh mục chủ tế và các thừa tác viên thuộc mọi cấp nên hát với giáo dân và toàn thể cộng đồng tín hữu khi họ cùng hát” (id. số 26). Chủ tế là người đứng đầu cộng đoàn Phụng vụ nên có bổn phận phải chuẩn bị, tổ chức, khích lệ và linh động hóa cộng đoàn cả về phương diện âm nhạc nữa.
    B) Cộng đoàn :
    Hầu hết các văn kiện liên quan đến Phụng vụ và Thánh nhạc đều khuyến khích và đề cao vai trò của cộng đoàn trong việc tích cực tham gia vào những phần ca hát trong các lễ nghi Phụng vụ. Lý do là vì :
    1- Chỉ khi “tham gia trọn vẹn, ý thức và tích cực như chính bản chất của Phụng vụ đòi hỏi” (id. số 15), các tín hữu mới chu toàn nhiệm vụ Phụng vụ của mình. Sự “tham gia trọn vẹn” này trước hết phải nội tại, nghĩa là “phải kết hợp lòng trí mình với điều họ đọc hay nghe, và cộng tác với ơn trên ban xuống” (id. số 15a). Nhưng sự tham gia này cũng phải có tính chất ngoại tại nữa, nghĩa là “được biểu lộ ra bằng những câu tung hô, những lời đối đáp và những bài ca” (id. số 15b).
    2- Như đã nói ở trên, mỗi cuộc cử hành phụng vụ là một “cuộc họp mừng”. Thế nhưng, “không có gì tưng bừng và vui vẻ hơn trong một buổi cử hành phụng vụ mà toàn thể cộng đoàn biểu lộ đức tin và lòng đạo đức của mình ra bằng lời ca tiếng hát” (id. số 16).
    Chính vì thế “phải nghiêm túc và kiên trì huấn luyện ca hát cho toàn thể giáo dân cùng một lúc với việc huấn luyện phụng vụ, tùy theo tuổi tác, hoàn cảnh, nếp sống, và trình độ kiến thức tôn giáo của họ”. (id số 18).
    C) Ca đoàn :
    Ca đoàn là một bộ phận cần thiết, có một vai trò rõ rệt được qui định trong các văn kiện về Thánh nhạc. Trên nguyên tắc, trong tất cả những phần nghi thức có ca hát, lý tưởng nhất là toàn thể cộng đoàn cùng chung lời ca tiếng hát. Tuy nhiên, trong thực tế “nếu giáo dân chưa được luyện tập đủ, và nếu dùng những bài hát nhiều bè, thì có thể giao một số bài hát của cộng đoàn cho nguyên ca đoàn thôi, miễn là không loại họ ra không cho hát những phần dành cho họ” (id. số 16c).
    Các huấn thị về Thánh nhạc cũng như Hiến chế về Phụng vụ đều lưu tâm cổ võ việc thành lập các ca đoàn hay ít là các ban hát, nhóm ca viên trong các dòng tu, các chủng viện, các nhà thờ chính tòa cũng như các nhà thờ, nhà nguyện lớn nhỏ.
    1- Phải cố gắng thành lập các “Ca đoàn”, hay ít là “Những ban hát nhà nguyện” hoặc “Các nhóm ca viên” để họ có thể hát những bài mà cộng đoàn không thể hát nổi, hay chưa được chuẩn bị để hát (id. số 19a). Tuy nhiên “không được chấp nhận thói quen giao hết cho một mình ca đoàn hát Phần Riêng lễ và Phần Thường lễ, mà loại hẳn không cho cộng đoàn hát” (id. số 16c).
    2- Nếu không có điều kiện để thành lập một ca đoàn, dù chỉ là một “ca đoàn khiêm tốn” thì phải liệu cho có “ít nhất một hoặc hai ca viên được huấn luyện vừa đủ. Ca viên đó phải có thể xướng lên một vài bài đơn giản cho dân chúng tham gia, đồng thời cũng phải biết điều khiển và yểm trợ chính các tín hữu đó nữa” (id. số 21).
    Vì vậy phải huấn luyện cho ca đoàn không những về âm nhạc mà cả về Phụng vụ và đạo đức (id. số 24), ngõ hầu ca đoàn hiểu rõ ý nghĩa và mục đích của Phụng vụ để phục vụ cho hữu hiệu. Đáng tiếc là phần đông các ca đoàn của chúng ta chỉ chú trọng đến hát mà ít để tâm hay chẳng để tâm gì đến phụng vụ, tuy rất nhiệt thành và có nhiều năng khiếu. Nếu không hiểu biết gì về Phụng vụ và không ý thức về mục đích của việc ca hát trong Phụng vụ, thì thật “tội nghiệp” cho họ, vì trình diễn mà không được thù lao, hát thánh ca mà không đạt mục đích.
    (còn tiếp)


    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  6. Được cám ơn bởi:


  7. #4
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    (tiếp theo)
    B) Hình thức tốt đẹp (Bonitas formae)
    Ở đây Giáo Hội đã dùng một cách nói bình dân, dễ hiểu để đề cập đến một vấn đề cốt yếu trong âm nhạc là : hình thể âm nhạc. Đây là vấn đề quan trọng nhất trong sáng tác và là căn bản của sáng tác. Học sáng tác là học các kỹ thuật để tạo nên một hình thức nào đó cho các ý nhạc của mình, để có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Vincent d’Indy đã viết 4 cuốn sách về sáng tác (dày cả ngàn trang) trong đó, ông chỉ nói về các hình thể âm nhạc và rồi trưng ra các thí dụ của các nhạc sĩ bậc thầy. Trong cuốn I, trang 9-21, tác giả lý luận rằng : yếu tố đệ nhất của nghệ thuật là nhịp điệu, mà nhịp điệu đòi hỏi sự xếp đặt; muốn xếp đặt cho có trật tự thì phải có suy nghĩ. Sự xếp đặt có trật tự, ta gọi là hình thức.
    1- Các hình thức văn chương và âm nhạc nói chung :
    + Trong văn chương ta có hình thức văn xuôi, văn vần. Văn xuôi thì có văn kể chuyện, thư tín, đơn từ,... Văn vần thì có các loại vịnh, phú, lục, thơ, ..., thơ thì có các thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ tuyệt, thơ mới, ...
    + Trong các lời nguyện Phụng vụ, cũng có hình thức lời nguyện, thường gồm có 3 phần : mở đầu bằng việc tôn vinh Thiên Chúa, rồi đến phần xin ơn, và kết thúc là nhờ sự chuyển cầu của Đức Kitô.
    + Trong âm nhạc, thuộc lãnh vực khí nhạc có những hình thức như : sonate, suite, trio, scherzo, variation, prélude, ...; thuộc lãnh vực ca nhạc có : cantate, oratorio, opéra, choral, ...
    2. Các hình thức Thánh ca trong Phụng vụ :
    Nếu âm nhạc nói chung đã có những hình thức của nó, thì Thánh nhạc cũng có những hình thức riêng của mình. Đây là điểm độc đáo của Phụng vụ Kitô giáo. Sau đây là những hình thức thánh ca thông dụng trong Phụng vụ :
    + Hình thức đọc : Tonus
    + Hình thức tụng kinh, tức là hát Thánh vịnh : Psalmodia
    + Hình thức đối ca : Antiphona
    + Hình thức đáp ca : Responsorium
    + Hình thức ca vãn : Hymnus, Sequentia
    + Hình thức ca khúc : Canticum
    + Hình thức bộ lễ : Kyriale
    Trong Tự sắc “Tra le sollecitudini” của ĐTC Pio X qui định :
    - số 10c : bản “Tantum ergo” phải viết theo hình thức ca vãn (hymnus)
    - số 10a : trong một bộ lễ, kinh Thương Xót, Vinh Danh, Tin Kính, ... không được sáng tác thành những bài ca biệt lập.
    Sắc lệnh của Đức Thánh Cha Urbano VIII cũng dạy :“Thánh nhạc phải phục tòng Thánh lễ, chứ không phải Thánh lễ phục tòng Thánh nhạc”.
    Sắc lệnh của Công đồng Triđentinô về Thánh nhạc và Thông điệp “Annus qui” viết : Thánh nhạc khác nhạc đời ở chỗ khi hát lên, lời kinh phải được nghe và hiểu rõ ràng chứ không bị dòng nhạc lấn át. Vì thế Giáo Hội cấm hát loại Aria và A solo trong nhà thờ. Aria là loại hát ngân nga dài dòng thường được dùng trong ca nhạc kịch (Opera).
    3- Hình thức lời ca:
    Thiết tưởng cũng nên nói tới hình thức văn chương của lời ca trong một bài thánh ca. Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 53 viết : “Khi đưa ra những bản dịch theo lối phổ thông để dệt nhạc, đặc biệt bản dịch các Thánh vịnh, các chuyên viên nên làm thế nào để vừa trung thành với bản văn Latinh lại vừa thích nghi được với bản văn viết bằng ngôn ngữ hiện đại. Phải tôn trọng đặc tính và những qui luật của mỗi ngôn ngữ cũng như phải để ý đến đặc tính của mỗi dân tộc. Khi soạn những cung điệu mới, các nhạc sĩ phải hết sức quan tâm đến những dữ kiện trên cùng những qui luật của Thánh nhạc”.
    Do đó lời ca của một bài thánh ca Việt nam phải có tính văn chương, càng gieo vận càng tốt, đúng ngữ pháp, ngắt câu đúng chỗ, hợp với dấu giọng Việt nam ...
    Chúng ta có thể kết luận như sau :
    (i) Nói đến sáng tác là nói đến hình thức. Mà hình thức là sắp xếp cho có trật tự, có đầu có đuôi, tức là có bố cục đàng hoàng. Một bài văn, một bản nhạc đều có hình thức của nó. Nếu có dòng ca hay, nhịp điệu phong phú mà không có hình thức đúng đắn thì không thể gọi là một bản nhạc hay. Nếu có những ý nhạc độc đáo, mà không biết khai triển, sắp xếp, thì không thể có tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa. Hiến chế Phụng vụ số 124 dạy phải loại bỏ ra khỏi nhà thờ những tác phẩm có “hình thức tồi tệ, nghệ thuật thiếu sót, tầm thường hay giả tạo”.
    (ii) Tại Việt nam cho tới nay, có thể nói chúng ta chưa có những bài thánh ca bình dân dùng trong Phụng vụ, mà chỉ có những bài thánh ca bình dân tôn giáo, tạm chấp nhận để dùng thay thế các bài thánh ca Phụng vụ. Bởi vì hầu hết các bài thánh ca cho tới nay đều được sáng tác theo hình thức ca khúc (canticum), đang khi trong Phụng vụ có nhiều hình thức khác nhau thích hợp cho từng phần trong nghi thức Phụng vụ (như đã trình bày ở mục B)2- nói trên).
    Vấn đề là cần học hỏi, khảo cứu để sáng tác những bản thánh ca phụng vụ đúng nghĩa theo đòi hỏi của Giáo Hội :“Trước hết phải đẩy mạnh việc học hỏi và thực hành ca hát nhạc Gregorio; vì những đức tính đặc biệt của nó, nhạc này vẫn là nền tảng có giá trị cao để vun trồng Thánh nhạc” (HT “De musica in sacra liturgia” số 51). Ngay cả khi soạn những cung điệu cho các bản văn Phụng vụ bằng tiếng bản xứ “các nhạc sĩ nên xem các cung điệu cổ truyền của Phụng vụ Latinh đã dùng về cùng một mục đích, có thể soi sáng gì để soạn ra các cung điệu cho các bản văn bằng ngôn ngữ hiện đại không” (id.số 55). “Các nhạc sĩ nên bắt tay vào công việc mới mẻ này với mối bận tâm tiếp tục một truyền thống đã cung cấp cho Hội Thánh một kho tàng đích thực trong việc thờ phượng Chúa. Họ nên khảo sát các tác phẩm thời xưa, các thể loại và đặc tính của chúng, đồng thời cũng phải nghiên cứu cẩn thận các qui luật và nhu cầu mới của Phụng vụ. Như thế các hình thức mới sẽ phát sinh từ các hình thức đã có sẵn, do một sự phát triển có thể nói được là cơ yếu, và các tác phẩm mới sẽ tạo ra một phần mới cho ca mục âm nhạc của Hội Thánh, không bất xứng với quá khứ một chút nào”. (id. số 58)
    (iii) Trong mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực nghệ thuật, càng biết nhiều và biết rõ luật lệ, người ta càng tự do để hành động, và dĩ nhiên là hành động có tiêu chuẩn. Còn những người không biết đến nơi đến chốn thường bạo gan, và làm bừa chẳng theo tiêu chuẩn nào.Người ta không sinh ra để giữ luật, nhưng luật lệ giúp con người sống tự do cách đúng đắn hợp lý, chứ không phải thứ tự do phóng túng bừa bãi.
    (iv) Khi soạn những bản thánh ca bằng tiếng bản xứ, rất nhiều người đã lấy lý do thử nghiệm để đưa vào thánh đường những cung điệu mới hoàn toàn xa lạ với bầu không khí linh thánh, trang nghiêm của Phụng vụ. Về điểm này Huấn thị “De musica in sacra liturgia” đã nghiêm cấm cách dứt khoát :“Không được viện lý do dùng thử, mà làm những điều gai chướng, không xứng với sự thánh thiện của nơi chốn, và sự trang trọng của các lễ nghi Phụng vụ cũng như lòng đạo đức của tín hữu” (số 59).
    C) Tính phổ cập (tính quốc tế)
    Tự sắc của ĐTC Pio X viết : bài thánh ca phải có dân tộc tính, tuy nhiên phải tuân theo luật lệ của nghệ thuật, của Thánh nhạc, để bất cứ người của quốc gia nào khi nghe, cũng phải có một cảm tưởng tốt.
    1- Tuân theo luật lệ của Thánh nhạc :
    Tất cả những nguyên tắc về Thánh nhạc mà Giáo Hội ban hành đều áp dụng trong toàn thể Giáo Hội. Vậy những bài nằm trong đường hướng chung, không đi ra ngoài chỉ dẫn của Giáo Hội sẽ phổ cập và được đón nhận trong Phụng vụ, vì đáp ứng đúng mục đích của Thánh nhạc.
    2- Có giá trị đích thực về nghệ thuật :
    Âm nhạc của mỗi dân tộc có một sắc thái riêng, Giáo Hội khuyến khích và chấp nhận đem vào Thánh nhạc để làm giàu cho kho tàng Thánh nhạc của Giáo Hội; nhưng phải là thứ âm nhạc đã phát triển vừa có tính dân tộc vừa có tính hiện đại, chứ không phải thứ âm nhạc thô sơ, mà bất cứ dân tộc nào khi nền văn minh chưa phát triển cũng đều đã trải qua.
    Qui luật của nghệ thuật nói chung, và qui luật của Thánh nhạc nói riêng, là những qui luật được mọi người chấp nhận và được dạy ở các nhạc viện. Một tác phẩm có tính dân tộc, được sáng tác bằng những kỹ thuật hoàn chỉnh thì bất cứ ai và ở thời nào, cũng công nhận. Tác phẩm đó có tính phổ cập. Trái lại, lấy những nhạc đề dân ca ghép lại với nhau thành một bản nhạc, mà không sử dụng những kỹ thuật khai triển nhạc đề, thì liệu có tính quốc tế không ?
    Khi Giáo Hội nói đến tính phổ cập, tức là Giáo Hội muốn nói đến kỹ thuật trong sáng tác. Một bài ca bản nhạc được sáng tác đúng kỹ thuật mới có tính phổ cập. Các môn học trong nhạc viện như : hòa âm, đối âm, tẩu pháp, phối dàn nhạc, ... là nhằm giúp cho học viên có được những phương tiện, những kỹ thuật để khai thác những ý nhạc dồi dào và phong phú, độc đáo, do năng khiếu đưa tới. Một nhạc sĩ đúng nghĩa, không chỉ có năng khiếu trời cho, mà còn phải học hành đầy đủ; hơn nữa một nhạc sĩ Thánh nhạc lại càng có lý do để học nhiều hơn nữa. Học thành tài là như vậy đó. Khi đã lớn tuổi, đã chín muồi trong nghệ thuật âm nhạc, thế mà Beethoven cũng vẫn ngưng sáng tác một thời gian để tìm đến với các nhạc sĩ tên tuổi và bạn bè, mà học hỏi thêm, trau dồi kỹ thuật nhiều hơn nữa.
    Vậy chúng ta có thể nói : một bài ca đã có tính thánh thiện và hình thức tốt đẹp, thì đương nhiên có tính phổ cập.

    IV. VẤN ĐỀ KIỂM DUYỆT THÁNH NHẠC :

    Dấu ấn cuối cùng để bài ca bản nhạc trở thành Thánh nhạc là sự phê chuẩn của Giáo quyền. Một tác phẩm dù đã đạt được tất cả những tiêu chuẩn nêu trên vẫn phải được phê chuẩn theo qui định của Giáo Hội, trước khi được sử dụng trong Phụng vụ. Tự sắc “Tra le sollicitudini” số 14 của ĐTC Pio X quy định :“Các Giám mục phải thành lập trong địa phận mình một ban gồm những người chuyên môn về Thánh nhạc để kiểm duyệt các nhạc phẩm sử dụng trong Phụng vụ”. Giáo luật khoản 1393 cũng viết :“Tại tất cả các Tòa Giám mục phải bổ nhiệm các vị có chức vụ kiểm duyệt ...”. Tân Giáo luật khoản 823 thì viết :“Để các chân lý Đức tin và phong hóa được vẹn tuyền, các chủ chăn trong Hội Thánh có nhiệm vụ và có quyền kiểm duyệt những gì đã viết ra về Đức tin hay phong hóa ...”


    * Tại sao Giáo Hội phải kiểm duyệt Thánh nhạc?
    1- Vì Thánh nhạc liên quan mật thiết với Tín Lý và Phụng vụ. Thánh nhạc đóng vai trò tích cực trong việc giáo dục, truyền bá và diễn tả Đức tin. Mà Đức tin thì chỉ có một Đức tin Công giáo duy nhất, do Huấn quyền Giáo Hội nắm giữ và giảng dạy. Do đó chỉ có một mình Huấn quyền Giáo Hội mới có quyền phê chuẩn những gì liên quan đến phạm vi Đức Tin.
    2- Vì Thánh nhạc cũng là một bộ môn nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì có tính cách đa giá (từ xấu đến đẹp, từ dở đến hay còn có nhiều mức giá trị khác. Không như các chân lý khoa học, có tính lưỡng giá : đúng hoặc sai), và thiên về tình cảm, nên dễ bị nhận định cách chủ quan theo sở thích, kiến thức và cảm nhận của mỗi cá nhân. Do đó phải có một Ủy ban Chuyên môn có thẩm quyền mới có thể đánh giá cách khách quan và trung thực về tính nghệ thuật đích thực của một tác phẩm.
    3- Vì thực sự đã có những sai trái, lạm dụng đã từng làm cho Thánh nhạc suy đồi. Những sai trái lạm dụng này có thể làm tục hóa tính linh thánh của Phụng vụ, xúc phạm đến Thiên Chúa tối cao và làm tổn thương đến lòng đạo đức của cộng đồng Dân Chúa.


    Nói tóm lại, Giáo Hội không loại trừ một hình thức nghệ thuật nào, nhưng những nghệ thuật đó khi đem vào trong Phụng vụ thì phải là nghệ thuật xứng đáng và thích hợp (x. PV số 123 và MS số 9).



    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  8. Có 4 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  9. #3
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Bài 2
    Thánh Nhạc và những qui luật của Thánh Nhạc


    I. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI THÁNH NHẠC :
    A) Định nghĩa :
    Theo Huấn thị “De Musica in Sacra Liturgia” số 4a thì
    ” Thánh nhạc là loại âm nhạc được sáng tác cho việc cử hành Phụng vụ, gồm được tính thánh thiện và hình thức tốt đẹp” (HT; “Concerts dans les Églises” số 6 (5.11.1987) ).
    Câu định nghĩa gồm hai phần rõ rệt :
    1- Chủ đích của Thánh nhạc : là nhằm cho việc cử hành Phụng vụ, chứ không nhằm cho những sinh hoạt trần thế. Cho nên một số bài ca dù mang màu sắc tôn giáo, hay đặt lời đạo vào, mà tác giả không có ý “sáng tác cho việc cử hành Phụng vụ” thì không nên đưa vào trong thánh lễ mà hát. Thí dụ :
    + Những bài lieder của Schubert : Ave Maria, Tình ca, ...
    + Những bài của Brahms.
    + Những bài của Duval, Sourire, Cocagnac, ...
    + Symphonie số 9 của Beethoven, ...
    2) Gồm những đặc tính để được gọi là Thánh nhạc : tính thánh thiện và hình thức tốt đẹp. Cho nên dù đã có chủ đích sáng tác nhằm cho việc cử hành Phụng vụ, mà một số bài ca thiếu những đặc tính của Thánh nhạc, thì cũng không nên sử dụng trong Phụng vụ.
    B) Phân loại :
    Huấn thị “De Musica in sacra liturgia” số 4b cũng phân loại Thánh nhạc như sau :
    1- Ca điệu Gregorio (cũng gọi là Bình Ca)
    2- Các hình thức khác nhau của thánh ca đa âm xưa và nay.
    3- Thánh nhạc cho đại quản cầm và các nhạc khí đã được công nhận.
    4- Thánh ca bình dân, phụng vụ và tôn giáo.
    * Lưu ý :
    (i) Ngày xưa Thánh nhạc chỉ gồm có 3 loại : Bình Ca, Nhạc đa âm, Nhạc cho đại quản cầm như đã nêu trên. Cả 3 loại này đều được sử dụng trong Phụng vụ của Giáo hội. Còn loại Thánh ca bình dân, không được kể vào Thánh nhạc. Chỉ kể từ Huấn thị “De musica sacra” (3.9.1958), loại Thánh ca bình dân mới được kể vào Thánh nhạc. (Đàng khác, các tôn giáo ngoài Công giáo, chẳng hạn như Thệ phản, chỉ có loại thánh ca tôn giáo mà không có loại thánh ca phụng vụ).
    (ii) Thông cáo của Ủy ban Thánh nhạc ngày 22.11.1970 đã phân Thánh ca bình dân phụng vụ và tôn giáo làm 3 loại : Phụng ca, Thánh ca, Giáo ca. Nói tỉ mỉ hơn, phải hiểu Thánh ca bình dân là những bài thánh ca bằng tiếng bản xứ, được chia làm hai loại :
    + Ca phụng vụ (Phụng ca) : những bài dùng trong Phụng vụ, lời là lời của bản văn Phụng vụ. Có 2 thứ:
    - Những bài thuộc nghi thức Phụng vụ như : Kinh Vinh danh, Thánh vịnh đáp ca, Ha-lê-lui-a, Thánh thánh thánh.
    - Những bài kèm theo nghi thức Phụng vụ như : ca Nhập lễ, ca Dâng lễ, ca Hiệp lễ, Lạy Chiên Thiên Chúa.
    + Ca tôn giáo : là những bài nhạc đạo mà
    - Lời không phải là bản văn Phụng vụ, nhưng đã được Giáo quyền cho phép hát trong khi cử hành Phụng vụ (Thánh ca). Thí dụ : “Con sẽ bước lên bàn thờ”.
    - Được sử dụng ngoài Phụng vụ, trong những buổi tĩnh tâm, cầu nguyện, giáo lý, sinh hoạt tôn giáo ngoài Phụng vụ, hoặc trình diễn ... (Giáo ca). Thí dụ :
    • “Requiem” của Mozart
    • “Missa solemnis” của Beethoven
    • “Ave Maria” của Schubert và của Gounod
    • Những ca khúc của Duval, Sourire, Cocagnac, ...
    • “Jesus Christ Superstar”, “Rock and Roll Opera”, ...

    II. MỤC ĐÍCH CỦA THÁNH NHẠC :

    Hiến chế về Phụng vụ số 112 đã nêu ra thật rõ ràng :
    “Mục đích của Thánh nhạc là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu”.
    A) Làm vinh danh Chúa :
    Để cho Thánh nhạc đạt tới mục đích là làm vinh danh Chúa, thì Thánh nhạc :
    1- Phải tuân theo “những qui tắc, luật lệ của truyền thống, và qui luật trong Giáo Hội” (PV. 112)
    “Truyền thống âm nhạc của toàn thể Giáo Hội đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn mọi nghệ thuật khác, nhất là vì điệu nhạc thánh đi liền với lời ca, làm nên thành phần cần thiết hoặc kiện toàn của Phụng vụ trọng thể” (PV.112)
    “Khi bắt tay vào công việc mới này, các nhạc sĩ phải lo lắng tiếp tục một truyền thống đã cung cấp cho Giáo Hội kho tàng đích thực trong việc thờ phượng Thiên Chúa. Họ phải khảo cứu các thể loại, các đặc điểm của các tác phẩm dĩ vãng. Họ còn phải cân nhắc kỹ lưỡng các luật lệ và các đòi hỏi của Phụng vụ, để các hình thức mới sẽ do các hình thức cũ nảy sinh một cách có cơ cấu, và những tác phẩm mới sẽ có một địa vị mới trong kho tàng âm nhạc của Giáo Hội, địa vị này không được bất xứng với quá khứ” (HT “Musicam sacram’số 59).
    “Những ai hiến thân cho công việc này (những vị thừa sai) phải có một kiến thức đầy đủ cả về Phụng vụ, cả về nhạc cổ truyền của Giáo Hội, và cả về ngôn ngữ, dân ca và cách diễn tả đặc biệt của dân tộc mình đang phục vụ” (id. số 61).
    2- Phải tuân theo sự hướng dẫn của Giáo Hội trong những chỉ thị liên quan đến Thánh nhạc của các văn kiện Giáo Hội qua các thời đại. Sau đây là những văn kiện của Giáo Hội liên quan đến Thánh nhạc trong những năm gần đây :
    - Tự sắc “Tra le Sollecitudini” của Đức Pio X, ban hành ngày 22.11.1903.
    - Thông điệp “Musicae sacrae disciplina” của Đức Pio XII, 25.12.1955.
    - Huấn thị “De musica sacra” của Thánh bộ Phụng tự, 03.09.1958.
    - Hiến chế về Phụng vụ, chương VI của Công đồng Vaticano II, 14.04.1963.
    - Huấn thị “De musica in sacra liturgia” của Thánh bộ Phụng tự, 05.03.1967
    - Qui chế tổng quát sách lễ Roma do Thánh bộ Phụng tự công bố ngày 06.04.1969.
    - “Concerts dans les églises”, 05.11.1987.
    Vậy ta có thể kết luận : chỉ khi nào Thánh nhạc tuân theo truyền thống và sự hướng dẫn của Giáo Hội, lúc đó Thánh nhạc mới đạt được mục đích đầu tiên là “làm vinh danh Thiên Chúa”.
    B) Thánh hóa các tín hữu :
    Thánh nhạc có mục đích nâng tâm hồn tín hữu lên với Chúa và nhờ đó, họ được thánh hóa. Do đó Thánh nhạc phải có tính “linh thánh” mới thánh hóa các tín hữu được.
    Thánh nhạc có những quy luật khách quan phải được tuân theo, vì Thánh nhạc là nghệ thuật chân chính và là nghệ thuật thánh, hơn là Thánh nhạc phải chiều theo những xu hướng cảm tình nhất thời và mau qua của con người. Đàng khác, Thánh nhạc không phải là loại “nhạc theo thời trang”, nhằm đáp ứng thị hiếu hay thay đổi của con người, chỉ được đánh giá trong một thời điểm, một hoàn cảnh nhất định. Trái lại, Thánh nhạc phải là nghệ thuật đích thực, mà nghệ thuật đích thực thì có giá trị trường tồn qua thời gian. Chính giá trị nghệ thuật chân chính của Thánh nhạc cũng có khả năng nâng con người lên tới Đấng là Chân, Thiện, Mỹ.
    Nói cho cùng, một khi Thánh nhạc đã đạt được mục đích là làm vinh danh Chúa thì đương nhiên cũng có khả năng thánh hóa các tín hữu.
    III. NHữNG ĐẶC TÍNH CỦA THÁNH NHẠC:
    A) Tính thánh thiện (Sanctitas)
    Tính thánh thiện của Thánh nhạc được bảo đảm do các yếu tố :
    1- Lời ca :
    Muốn có được tính thánh thiện thì lời Thánh ca :
    + Phải phù hợp với giáo lý Công giáo.
    + “Tốt hơn cả là rút ra từ Thánh Kinh và các nguồn mạch Phụng vụ” (x. PV. 121)
    Sở dĩ lời Thánh ca “tốt hơn cả là rút ra từ Thánh Kinh” vì 2 lý do sau :
    a. “Trong việc cử hành Phụng vụ, Thánh Kinh giữ vai trò tối quan trọng. Thật vậy, người ta trích từ Thánh Kinh những bài để đọc cũng như những ca vịnh để hát. Chính nguồn cảm hứng về sức phấn khởi của Thánh Kinh cũng làm xuất phát những lời kinh nguyện và những bài Ca Phụng vụ. Cần phải phát huy lòng mộ mến Thánh Kinh đậm đà và sống động” (PV. số 21). Thánh ca kèm theo Phụng vụ cũng phải đi song hành với Phụng vụ, nghĩa là nên dùng chính lời Thánh Kinh hoặc các bản văn Phụng vụ để dệt nhạc.
    b. Lời Chúa trong Thánh Kinh tự bản chất có tính thánh thiện và do đó có sức thánh hóa các tâm hồn. Vì thế thánh Phaolô khuyên các tín hữu :“Anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng” (CL. 3,16 ; x. Ep. 5,19).
    2- Âm nhạc :
    Đã gọi là âm nhạc thì phải gồm đủ 3 yếu tố : dòng ca, nhịp điệu và hòa âm.
    a. Dòng ca : là những dấu nhạc cao thấp đi theo nhau tạo nên, tiếng chuyên môn gọi là chuyển hành. Và chuyển hành thì có loại chuyển hành liền bậc (quãng 2) và chuyển hành cách bậc (từ quãng 3 trở lên). Trong Tự sắc số 3 ĐTC Pio X có viết : “Một bài ca viết cho thánh đường, càng giống Bình ca trong cách chuyển hành, thì càng thánh thiện”. Mà cách chuyển hành của Bình ca thông thường là chuyển hành liền bậc. Vậy :
    + Khi dòng ca càng chuyển hành liền bậc, càng giống Bình ca thì càng có tôn giáo tính. Xét về mặt sáng tác, những dòng ca chuyển hành liền bậc chứa đựng một nội dung hòa âm phong phú.
    + Những dòng ca dùng quá nhiều nửa cung nhân tạo biểu lộ một tâm trạng ủy mị, não nuột, ươn ái, và như vậy không được chấp nhận. Bình ca chỉ sử dụng ba loại nửa cung : Mi-Fa, Si-Đô, La-Sib.
    + Những dòng ca dùng quá nhiều chuyển hành cách bậc, nhất là sử dụng những quãng nhạc lớn, đó là biểu tượng một tâm hồn phóng túng, lãng mạn, như trong ca nhạc kịch. Những loại dòng ca này cũng không được chấp nhận. Trong những lối chuyển hành cách bậc, thì Bình ca :
    - hay sử dụng quãng 4 đúng và quãng 5 đúng : là những quãng không trưởng, không thứ, không buồn, không vui. Thí dụ : Salve Regina (P.R p.276)
    - không chuyển hành quãng 4 tăng (quá cứng cỏi, khó hát, nên được mệnh danh là “Diabolus in musica”, thằng quỷ trong âm nhạc), quãng 5 giảm (quá yếu ớt), quãng 6 (có tính lãng mạn, kịch trường).
    Chính vì thế, theo chủ trương và truyền thống của Giáo Hội qua các thời đại, cung điệu thánh phải loại trừ các yếu tố như sau :
    + Theo “Decretum Gratianum” năm 1140, những cung điệu tuồng kịch phải loại ra khỏi Phụng vụ.
    + Hiến chế “Docta sanctorum patrum” của ĐTC Gioan XXII năm 1324 qui định : những cung điệu lả lướt phát xuất từ những tâm hồn lãng mạn không được chấp nhận trong Phụng vụ.
    + Trong phiên họp khoáng đại năm 1562-1563 Công đồng Tridentinô đã nghiêm cấm sử dụng trong Phụng vụ những điệu nhạc ủy mị, những điệu nhạc đi săn, những điệu nhạc xuất trận. Do đó những bài ca sử dụng quá nhiều cách trải dấu, là kiểu đặc biệt của kèn đồng đi săn, và kèn tiến quân, sẽ không được chấp nhận. Bình ca đôi khi cũng có trải dấu, nhưng rất tiết kiệm. Thí dụ các bài : Adorote, Attende, ...
    + Theo Thông điệp “Annus qui” của ĐTC Benedictus XIV ban hành năm 1750 thì những điệu nhạc mang tính chất trần tục, phóng túng, và kịch trường không được dùng trong Phụng vụ.
    + Giáo luật khoản 1264 loại trừ tất cả những thứ âm nhạc lả lướt, không trong sạch khỏi Phụng vụ. Tân Giáo luật khoản 2 cũng xác nhận lại điều đó khi viết : “Những luật Phụng vụ hiện hành, cho đến nay vẫn tiếp tục giữ hiệu lực, trừ một hai khoản nghịch với các khoản của Tân Giáo luật”.
    b. Nhịp điệu : là do những dấu nhạc dài vắn tạo nên.
    Nhịp điệu phong phú hơn dòng ca, nên nhịp điệu rất quan trọng trong việc tạo nên một dòng ca thánh thiện hay trần tục, “đạo” hay “đời”. Ngay từ đầu khi con người xuất hiện đã có nhịp điệu với những bộ gõ ... rồi vũ điệu. Các vũ điệu dần dần được thuần thục hóa, phong phú hóa như các điệu : Sarabande, Polka, Polonaise, Gavotte, Allemande, ... Xã hội hiện tại với những vũ điệu quay cuồng phải chăng phản ảnh tâm trạng sa đọa, bất an, xao xuyến của con người thời đại ? - Các điệu nhạc Jazz, rồi Rock and Roll, Pop rồi Disco ... ta tạm gọi tất cả các loại nhạc đó là kích động nhạc, là những loại nhạc khai thác những nhịp điệu giật gân, cuồng loạn, đồng thời sử dụng cả đủ loại tiếng động, ánh sáng và nhiều yếu tố không phải của âm nhạc đích thực. (X. Tô Hải, “Những ảnh hưởng của nhạc Rock Pop trong xã hội phương Tây”, Tạp chí Âm nhạc số 1/1987).
    Vậy, nhịp điệu là thánh thiện, có tôn giáo tính ? - Thực ra nhịp điệu nào cũng tốt cả. Vấn đề tốt hay xấu là do cách sử dụng cũng như do hoàn cảnh được sử dụng.

    Giáo Hội nói gì về nhịp điệu
    ?
    + Trong thư đề ngày 25-1-1967, Đức Hồng Y Lercaro, Chủ tịch Hội đồng thực thi Hiến chế Phụng vụ, đã viết : “Những điều gì là thế tục phải loại ra khỏi Phụng vụ, như điệu Jazz ...”.
    + Trong thư gởi Đại hội Thánh nhạc Ý (đăng trên Osservatore Romano số 39), Đức Hồng Y Jean Villot, Quốc Vụ Khanh Tòa thánh, có viết : “Cố gắng tránh và cấm tất cả những loại âm thanh, nhạc khí có tính cách thế tục, đặc biệt những bài hát kích động, gay cấn, rùm beng, làm náo động khung cảnh thanh lịch của nghi thức Phụng vụ. Những thứ nhạc đó không thể nào xứng hợp với mục đích cao cả của Phụng vụ là thánh hóa con người”.
    c. Hòa âm :
    Bất cứ một dòng ca nào, dù là tiếng mẹ ru con trong đêm vắng, cũng đã có sẵn hòa âm, vì hòa âm vốn tiềm ẩn trong những dấu nhạc cao thấp đi theo sau đó.
    Đặc biệt đối với những bài đa âm đồng điệu hay đa điệu viết theo những kỹ thuật hòa âm hay đối âm, thì đâu là tiêu chuẩn để đánh giá tôn giáo tính của chúng ? - Nói chung, hòa âm vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, được đúc kết từ những kỹ thuật, nghệ thuật, kinh nghiệm hòa âm sáng tác của biết bao nhạc sĩ thiên tài từ cổ chí kim. Những kinh nghiệm và những kỹ thuật hòa âm đó đã được toàn thế giới công nhận và đưa vào học tập, giảng dạy trong tất cả các nhạc viện. Do đó, những tác phẩm viết sai kỹ thuật hòa âm và đối âm, phản lại nghệ thuật âm nhạc phổ quát, không được con người chấp nhận, thì làm sao xứng đáng để dâng lên Thiên Chúa được.
    Ngoài ra, không phải chỉ cần viết đúng luật hòa âm và đối âm là đã bảo đảm có tính thánh thiện ! Những phong cách hòa âm cầu kỳ, chỉ cốt gây những ấn tượng mạnh và bất ngờ có thực sự hợp với bầu không khí thanh thản của việc cầu nguyện hay không ? Những lối đệm đàn theo các điệu Fox trot, Twist, Soul, Surf, Agogo,... với dàn nhạc kích động mà bộ trống là chủ yếu, có thích hợp với tính thánh thiện của Phụng vụ hay không ?
    3- Liên kết với Phụng vụ :
    Hiến chế Phụng vụ số 112 viết : “Thánh nhạc càng liên kết chặt chẽ với động tác Phụng vụ bao nhiêu thì càng Thánh bấy nhiêu”. Vậy trong khi cử hành Phụng vụ như Thánh lễ, Thánh nhạc phải:
    + Có những bài ca đúng chỗ. Chẳng hạn phải hát đúng bài Thánh vịnh Đáp ca hoặc một bài Thánh vịnh tương đương, chứ không được hát bất cứ bài nào lúc đáp ca. Lúc rước lễ, không được hát những bài về Đức Mẹ hay các Thánh, ...
    + Hát những bài ca đúng lúc, không kéo dài vô lối làm cho chủ tế và cộng đoàn phải đợi ...
    + Chọn những bài theo đúng ý nghĩa của ngày lễ, hợp với Mùa Phụng vụ hoặc nghi thức cử hành.
    “Trong cử điệu cũng phải kể cả việc tiến tới bàn thờ, việc dâng lễ vật và việc giáo dân tiến lên rước lễ. Phải cố gắng sao cho những việc ấy được thực hiện một cách trang nhã kèm theo những bài hát sướng hợp, chiếu theo qui thức đã ấn định cho mỗi việc đó”. (Qui chế tổng quát SLR số 22).
    Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 11 viết :“Nên nhớ rằng tính cách long trọng đích thực của một buổi cử hành Phụng vụ ít tùy thuộc vào hình thức ca hát cầu kỳ hoặc phô diễn các lễ nghi sao cho đẹp mắt, hơn là dựa vào phong cách cử hành sao cho xứng đáng, trang nghiêm và đạo đức. Phong cách này nhằm toàn bộ chính việc cử hành Phụng vụ, nghĩa là thi hành mọi phần lễ nghi theo bản tính riêng của những phần ấy. Nơi nào có thể làm hay được, thì rất ước mong các nơi ấy trình bày một hình thức phong phú hơn về ca hát và đẹp mắt hơn về nghi lễ. Nhưng nếu bỏ qua, hoặc thay đổi hay cử hành không đúng cách một trong những yếu tố của lễ nghi Phụng vụ thì chẳng phải là long trọng đích thực nữa”.
    4- Cách thể hiện :
    Một bài thánh ca hay một bản thánh nhạc dù đã có tính thánh thiện (khách quan), nhưng nếu không được thể hiện, được hát lên bằng tâm tình đạo đức thánh thiện (chủ quan), thì bài ca hay bản nhạc đó vẫn chưa đạt được mục đích là “thánh hóa các tín hữu”. Chúng ta thường nghe câu ngạn ngữ La tinh : “Hát tốt là cầu nguyện gấp đôi” (Bis orat qui bene cantat). Hát tốt đây không chỉ là hát đúng, hát hay, mà trước hết phải hiểu là hát có tâm tình đạo đức, là cầu nguyện bằng lời ca tiếng hát. Việc thể hiện một bài thánh ca, ngoài cộng đoàn, còn bao gồm hai thành phần chính : ban hát và nhạc.
    a. Ban hát :
    Ban hát giữ một vai trò khá quan trọng trong Phụng vụ, nhất là khi Cộng đoàn chưa có khả năng tham gia toàn bộ ca hát trong các lễ nghi. Huấn thị “De musica in sacra liturgia” nêu rõ :“Khi toàn thể cộng đoàn chưa kịp chuẩn bị đầy đủ thì có thể giao một số bài cho Ban hát, miễn là không được gạt dân chúng ra ngoài những phần vụ khác liên hệ đến họ”. Các văn kiện Tòa Thánh về vấn đề Thánh nhạc đều đề cập đến việc thành lập, huấn luyện và ngay cả vị trí của Ban hát trong Thánh đường.
    + Hiến chế về Phụng vụ số 114 viết : “Phải nổ lực đào tạo các Ban hát, nhất là trong các nhà thờChính tòa”.
    + Hiến chế về Phụng vụ số 115 viết : “Các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi phải được huấn luyện cho có căn bản Phụng vụ”.
    + Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 19 viết :“Phải có một ‘Ca đoàn’ hoặc ‘Những ban hát nhà nguyện’, hoặc ‘Các nhóm ca viên’ và phải nghiêm túc phát triển những ban đó, nhất là ở các nhà thờ chính tòa và các đại thánh đường khác cũng như trong các chủng viện và học viện” (19a); “Trong các thánh đường nhỏ cũng nên thành lập những ca đoàn như vậy, dù dưới hình thức khiêm tốn” (19b).
    + Cũng Huấn thị trên ở số 24 viết :“Ngoài việc huấn luỵện về âm nhạc, cũng phải lo cho các ca viên được huấn luyện tương xứng về Phụng vụ và đạo đức, ngõ hầu khi chu toàn chức năng Phụng vụ của mình, chẳng những họ sẽ làm cho các buổi cử hành nghi lễ thêm đẹp, và đem lại cho tín hữu một tấm gương tốt, mà chính họ cũng được lợi ích thực sự về đường thiêng liêng nữa”.
    + Qui chế tổng quát số 274 nói về vị trí của Ban hát trong thánh đường :“Tùy địa thế mỗi nhà thờ mà sắp xếp chỗ cho Ban hát để bản chất của Ban hát được xuất lộ rõ ràng, nghĩa là họ vừa là thành phần của Cộng đoàn giáo dân sum họp, vừa có một nhiệm vụ riêng, để Ban hát thi hành công tác Phụng vụ dễ dàng hơn và giúp cho mỗi người trong Ban hát có thể tham dự đầy đủ vào Thánh lễ, nghĩa là tham dự vào Bí tích Thánh Thể một cách thuận lợi” (xem thêm Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 23).
    b. Cộng đoàn :
    Những người phụ trách việc ca hát trong Thánh đường nên chọn những bài ca mang tính chất cộng đồng hay ít nhất những bài ca mà cộng đoàn có thể hát phần điệp khúc một cách dễ dàng, vì :
    “Thật không có gì tưng bừng và vui vẻ hơn trong một buổi cử hành Phụng vụ mà toàn thể cộng đoàn biểu lộ đức tin và lòng đạo đức của mình ra bằng lời ca tiếng hát” (Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 16).
    “Hãy nhiệt tâm lo lắng để trong bất cứ lễ nghi nào có hát, tất cả Cộng đoàn tín hữu đều có thể tham dự một cách linh động vào những phần dành riêng cho họ” (Hiến chế về Phụng vụ số 114).
    c. Ban nhạc :
    Ban nhạc, hoặc đơn giản hơn “các nhạc khí có thể rất hữu ích trong các buổi cử hành lễ nghi Phụng vụ, hoặc đệm theo tiếng hát, hoặc chơi riêng một mình” (Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 61)
    Trong các loại nhạc khí, Giáo Hội đặc biệt đề cao đại phong cầm có ống, vì đó là loại nhạc khí “mà âm thanh có thể tăng thêm vẻ huy hoàng kỳ diệu cho những lễ nghi của Hội Thánh, và có sức mãnh liệt nâng các tâm hồn lên cùng Thiên Chúa và lên trời” (id. số 61)
    Nói chung nhạc khí nào cũng tốt và có thể chấp nhận, nhưng cách sử dụng phải thích hợp với Phụng vụ: “Mọi nhạc khí được thừa nhận trong việc thờ phượng phải sử dụng thế nào cho hợp với các đòi hỏi của lễ nghi Phụng vụ, và làm cho việc thờ phượng nên tốt đẹp cũng như giúp các tín hữu thêm lòng đạo đức” (id. số 62).
    Chính vì thế Sắc lệnh “Piae sollicitudines” của ĐGH Alexandro VII đã viết : “Phải đào thải những gì bất xứng và xa lạ ra khỏi Ban nhạc, đào thải những gì xúc phạm đến uy quyền Thiên Chúa, sinh gương xấu cho giáo dân, hoặc ngăn cản họ đưa lòng lên cùng Chúa”. Và trong Huấn thị “De musica sacra” số 68b cũng nêu rõ :“Âm thanh của nhạc khí cần phải làm sao gợi lên được vẻ trang trọng, tinh khiết, đạo hạnh, tránh mọi phát hiện nhạc đời và phải hun đúc được lòng sốt sắng của giáo dân”. Như vậy, những lối đệm đàn hay độc tấu nhạc khí theo phong cách của phòng trà, hộp đêm, ..., hay theo những điệu nhạc kích động giật gân, ... không thể nào phù hợp với bầu khí linh thánh của Phụng vụ.
    Ngoài ra Giáo Hội còn qui định “Không được phép độc tấu các nhạc khí trong Mùa Vọng và Mùa Chay, trong tuần Tam Nhật Vượt Qua, và trong giờ Kinh Lễ Cầu Hồn” (Huấn thị “De musica in sacra liturgia” số 65, xem thêm “Concerts dans les églises” số 7).
    (còn nữa)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  10. Có 5 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  11. #2
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Bài 1
    Tình hình Thánh Nhạc 1975 -1988




    Nói chung tình hình Thánh nhạc trong các giáo phận trên cả nước có những điểm khả quan đáng khích lệ, nhưng cũng có nhiều điểm cần đặt lại cho đúng với chủ trương của Hội Thánh qua các Huấn thị, các Hiến chế đã ban hành.

    I. MẶT TÍCH CỰC :

    1) Số lượng các bài thánh ca thật dồi dào, đa dạng, dành cho ca đoàn cũng như cộng đồng. Tính chung số lượng THÁNH CA VIỆT NAM ở cả nước từ xưa đến nay có chừng 100.000 tác phẩm lớn nhỏ. Có tác giả đã sáng tác gần 2.000 tác phẩm, số tác giả có từ 500 đến 1.000 tác phẩm cũng khá nhiều.

    2) Việc hát cộng đồng trong thánh lễ như Công đồng Vaticano II đòi hỏi đã được lưu ý, cổ võ và thực hiện ở nhiều xứ đạo. Nhờ vậy, tín hữu tham gia tích cực vào thánh lễ, không chỉ “xem” và “nghe” lễ.

    3) Đáp ca sau bài đọc 1, thay vì hát một bài thế, nhiều khi chẳng ăn nhập gì với ý tưởng của các bài đọc, phần lớn các nhà thờ đã hát hoặc đọc đúng với Thánh vịnh được chỉ định.

    Điều này cần thiết để tín hữu được tiếp xúc với Lời Chúa qua Thánh vịnh là lời cầu nguyện đẹp đẽ và phong phú nhất của Hội Thánh. Nhiều nhà thờ đã viết trên bảng câu đáp cho toàn thể cộng đoàn hát, còn ca đoàn hay ca xướng viên ngâm hay đọc nguyên văn Thánh vịnh.

    4) Việc chọn lựa bài hát : cách chung các nơi đã ý thức chọn những lời hát mang nội dung Lời Chúa : lời ca trích từ Thánh Kinh hay ít là cảm hứng từ những đoạn Kinh Thánh hay Thánh vịnh, hoặc các kinh Phụng vụ.
    Về phía các nhà sáng tác, đại đa số các tác phẩm mới đều mang nội dung Lời Chúa.

    5) Gần đây đã thấy xuất hiện những bài ca đi sát Phụng vụ : đó là những bài ca nhập lễ, hiệp lễ được soạn theo sát ý tưởng những bài ca Hội Thánh chọn cho mỗi Thánh lễ Chúa nhật và Đại lễ. Đây là một bước tiến mới cần cổ võ.

    6) Một số nơi đã hồi phục những bài nhạc dạo cổ điển của Giáo Hội ở những chỗ thích hợp trong Phụng vụ.
    Đây là một việc làm rất tốt, đi đúng với truyền thống Giáo Hội xưa nay vẫn dùng Thánh nhạc qua đại phong cầm để giúp tín hữu nâng tâm hồn lên cùng Chúa.

    7) Một vài nơi các linh mục đã giúp cho tín hữu hát Kinh Sáng, Kinh Chiều và Kinh Tối theo Phụng vụ các Giờ Kinh. Đây là một cố gắng rất lớn thực hiện theo Công đồng Vaticano II qua Hiến chế về Phụng vụ số 100 :“Phải lo cho giáo hữu đọc và hát các Giờ kinh Phụng vụ”.

    Khó khăn nhất trong vấn đề này là làm sao có được bản văn cho tín hữu đọc !

    8) Ở một số nơi các linh mục đã quan tâm hướng dẫn các ca viên và tín hữu về phụng vụ và Thánh nhạc như Hiến chế về Phụng vụ số 115 đòi hỏi :“Phải huấn luyện cho các nhạc sĩ, các ca viên và cả thiếu nhi cho họ có căn bản về phụng vụ”.

    9) Ngày nay giáo dân, mà đại đa số là giới trẻ đã đảm nhiệm phần thánh ca, thánh nhạc trong thánh đường. Linh mục chỉ cần huấn luyện họ về mặt Phụng vụ và hướng dẫn họ đi đúng chủ trương của Giáo Hội về Thánh nhạc là tự họ có thể làm tốt khâu này. Trước đây ở hầu hết các nhà thờ, các tu sĩ nam nữ hay có khi chính linh mục phải phụ trách ca đoàn và đánh đàn trong các buổi lễ.

    10) Hiện nay tại Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh và một số giáo phận khác, đã có anh em linh mục, tu sĩ và giáo dân nhiệt tình chăm sóc cho nền thánh ca thánh nhạc.

    II. MẶT TIÊU CỰC :
    1) Tình trạng lạm phát Thánh ca :
    Lợi dụng thời cơ các giáo phận không thể thi hành nghiêm túc việc kiểm duyệt, nhiều tác giả đã phổ biến nhiều bài ca không phù hợp với những tiêu chuẩn của Hội Thánh, quá nặng về tình cảm trần tục, không quan tâm tới giáo lý và phụng vụ. Khá nhiều những bài ca đang thịnh hành trong các thánh đường, đã vay mượn những điệu nhạc ngoài đời và bị ảnh hưởng sâu đậm của loại nhạc kích động không phù hợp với sự tôn nghiêm thánh thiện của phụng vụ.
    2) Tình trạng mất dần ý thức về sự thánh thiện của phụng vụ qua những thực trạng sau :
    a- Không phân biệt Thánh nhạc đích thực với các loại nhạc sinh hoạt tôn giáo. Thực tế hiện nay hầu hết các bài ca sinh hoạt thiếu nhi, Hướng đạo Công giáo, sinh hoạt trại, họp mặt thanh niên thiếu nữ ngày xưa có mang vài nét tôn giáo, đã rất thịnh hành trong các buổi cử hành phụng vụ. Nói chung tất cả những bài ca sinh hoạt của Ban Halleluia cách đây hơn 20 năm và hầu hết các bài ca sinh hoạt tôn giáo khác như những bài ca “vào đời” của Soeur Sourire, của Cha Duval; nhiều bài nhạc “đời” ngoại quốc đã được phổ lời “đạo”; nhiều bài thơ thuộc loại thi ca tôn giáo (không nhằm sáng tác cho phụng vụ) được phổ nhạc ... đang được hát sôi nổi trong thánh lễ ở nhiều nơi.
    Tình trạng này còn trầm trọng đến mức người ta hát cả những bài thuần túy đời trong nghi lễ phụng vụ. Thí dụ những bài như :
    + “Một mùa sao sáng” của Nguyễn văn Đông.
    + “Tân hôn”, nhạc ngoại quốc lời Phạm Duy.
    + “Chúa Hòa Bình”, nhạc và lời của Phạm Duy.
    + “Ơn nghĩa sinh thành”, nhạc và lời của Dương Thiệu Tước.
    + “One day”, nhạc ngoại quốc. v.v...
    b- Phong cách thể hiện chưa nghiêm túc trong thánh đường.
    Ở một số nơi các ca đoàn còn nặng phần trình diễn : Trình diễn người, y phục, giọng hát, nghệ thuật dù là nghệ thuật “thánh”. Chưa quan tâm tới sự tham dự “linh động” của cộng đoàn như Hiến chế về Phụng vụ số 114 đòi hỏi : “Hãy nhiệt tâm lo lắng để trong bất cứ nghi lễ nào có hát, tất cả cộng đoàn tín hữu đều có thể tham dự một cách linh động”.
    Về ban nhạc, nhiều nơi còn sử dụng dàn nhạc kích động, không trình tấu những bản có phối dàn nhạc nghiêm chỉnh mà chỉ biết trình tấu theo những vũ điệu kích động trên sân khấu, vũ trường : điệu Valse, Slow, Boléro, Tango, Agogo, Twist, Surf... Điều này không phù hợp với những chỉ thị của Hội thánh.
    “Instructio de Musica Sacra” số 68b nêu rõ “Âm thanh của các nhạc khí cần phải làm sao gợi lên được vẻ trang trọng tinh khiết, đạo hạnh, tránh phát hiện nhạc đời và phải hun đúc được lòng sốt sắng của giáo dân” (Cf. Musicae Sacrae Disciplina số 40,57; Hiến chế về Phụng vụ số 124; Huấn thị De Musica in Sacra Liturgia số 63...).

    III. NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN NHỮNG HIỆN TƯỢNG TIÊU CỰC TRÊN :
    1) Nhạc sĩ sáng tác, trưởng ban hát, trưởng ban nhạc, ca viên không được học hỏi và sống tinh thần Phụng vụ như Hiến chế về Phụng vụ số 115 đòi hỏi.
    2) Những người làm Thánh nhạc chưa thông suốt chủ trương của Hội Thánh - thiếu tài liệu phổ biến cho họ.
    3) Các giáo phận không có những chỉ thị sâu sát, đường lối rõ ràng về Phụng vụ và Thánh nhạc như Huấn thị thứ Ba số 3 đòi hỏi : “Hội Đồng Giám Mục hoặc nếu không có những quy luật tổng quát thì Giám mục trong giáo phận có nghĩa vụ ấn định rõ ràng về vấn đề Thánh nhạc” (Cf. MS số 9).
    4) Vấn đề đào tạo, nâng đỡ những người chuyên môn, cũng chưa được lưu tâm như Thông điệp “Musicae Sacrae Disciplina” số 72 nhắc nhở.
    5) Vấn đề làm sao mỗi giáo phận có những người đặc trách về vấn đề này dưới sự hướng dẫn của Đấng Bản Quyền như Giáo Hội qui định cũng chưa được thực hiện đồng bộ. (Cf. Thông điệp “Mediator Dei”; Giáo luật khoản 1393; Tân Giáo luật khoản 823 và 824/2; Hiến chế về Phụng vụ số 46).

    IV. ĐỀ NGHỊ

    1) Mỗi giáo phận bằng cách này hay cách khác, có những người có khả năng đặc trách vấn đề Phụng vụ và Thánh nhạc dưới sự hướng dẫn của Đấng Bản Quyền.
    2) Mỗi giáo phận hãy có những chỉ dẫn rõ ràng về Phụng vụ và Thánh nhạc (ít nhất bằng cách đánh máy chuyền tay hoặc chỉ thị truyền khẩu mỗi khi tĩnh tâm chung).
    3) Mỗi giáo phận hãy lưu tâm tới việc đào tạo, nâng đỡ những người làm công tác Thánh nhạc - đặc biệt hướng dẫn những nhạc sĩ sáng tác để có những tác phẩm đi sâu vào Lời Chúa, Phụng vụ, mang tính dân tộc và tính cộng đồng.
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  12. Có 4 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  13. #1
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    LỜI NÓI ĐẦU



    Tập bài giảng này không phải là một giáo trình mang tính chất giáo khoa. Vì các sách giáo khoa tự bản chất phải đặt vấn đề sư phạm lên hàng đầu nghĩa là phải được trình bày sao cho có sự thống nhất trong phương pháp luận, chặt chẽ trong bố cục và tiệm tiến trong nội dung.

    Tập bài giảng này đúng hơn bao gồm một loạt bài nói chuyện của nhiều giảng viên, và mỗi giảng viên lại được tự do trong cách trình bày và phát biểu đề tài của mình, cho dù phải tuân theo trình tự bố cục duy nhất nào đó. Vì vậy, tự bản chất, tập bài giảng này rất đa dạng : có bài mang tính chất thông tin, có bài thiên về khảo cứu, có bài giới thiệu và giải thích một số văn kiện nào đó của Giáo hội, có bài chỉ có tính chất gợi ý về một vấn đề nào đó, ...

    Tuy nhiên tất cả các bài nói chuyện chỉ nhắm đến một mục đích duy nhất là dẫn đưa học viên đến tòa lâu đài Thánh nhạc, bằng một “lối đi” nào đó. Còn việc đi sâu vào tòa lâu đài Thánh nhạc là một công việc trường kỳ, đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức; cụ thể là phải trải qua nhiều khóa học chuyên môn về các bộ môn của âm nhạc, Phụng vụ và Thánh nhạc.

    Vì chỉ thuần túy là những bài nói chuyện có tính chất khai tâm, dẫn nhập, nên các giảng viên không hề có ý dụng đưa ra những chỉ dẫn áp đặt, theo kiểu những tín điều phải tin phải giữ. Ngoại trừ một số đoạn trích dẫn, trình bày và giải thích những văn kiện của Giáo hội liên quan đến vấn đề Thánh nhạc, và do đó tự chúng đã có giá trị khách quan, còn hầu hết những suy nghĩ, gợi ý của các giảng viên, học viên có thể tiếp thu một cách phê phán.

    Để giúp học viên và bạn đọc theo dõi có kết quả những bài nói chuyện này, chúng tôi tạm đưa một bố cục như sau :
    + Đầu tiên là một bài nhận định về tình hình Thánh nhạc ở Việt nam (bài I) để giúp học viên ý thức về sự cấp bách của việc nghiên cứu, học hỏi Thánh nhạc.

    + Tiếp đến là bài quan trọng nhất trình bày một định nghĩa về Thánh nhạc, cũng như nêu lên những đặc tính và những đòi hỏi của Thánh nhạc, dựa trên những văn kiện chính thức của Giáo hội (bài II).

    + Qua đó chúng ta thấy Thánh nhạc liên quan rất mật thiết với Phụng vụ, vì là một thành phần thiết yếu của Phụng vụ, và phải phục vụ cho các lễ nghi Phụng vụ (bài III). Cũng như khi nói đến Thánh nhạc không thể không nói đến Thánh Kinh, vì để đạt được tính thánh thiện, lời Thánh ca phải bắt nguồn từ Thánh Kinh và Phụng vụ (bài IV).

    + Ngoài tính chất thánh thiện, Thánh nhạc còn phải có thêm một đặc tính thứ hai là “hình thức tốt đẹp” (bài V).

    + Không chỉ thánh thiện và tốt đẹp trong nội dung, Thánh nhạc còn phải thánh thiện và tốt đẹp trong cách thể hiện (bài VI).

    + Một trong những nền Thánh nhạc đã hội đủ hai đặc tính : “thánh thiện” và “hình thức tốt đẹp” đó là Bình ca (bài VII, VIII), mẫu mực của mọi nền Thánh nhạc.

    + Chúng ta cũng thử tìm hiểu và nhận định về “nhạc trẻ”, là loại nhạc đã ảnh hưởng rất sâu đậm đến nền Thánh nhạc Việt nam trong gần hai thập kỷ qua (bài IX).

    + Cuối cùng, vì tất cả chúng ta là người Việt nam, phục vụ cho Giáo hội Việt nam trong công tác Thánh nhạc, nên nhất thiết không thể bỏ qua nền âm nhạc dân tộc (bài X).



    Tác giả Đỗ Xuân Quế, Lm
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  14. Có 6 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  15. #1
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default DẪN VÀO THÁNH NHẠC - Lm. Đỗ Xuân Quế (biên khảo)

    DẪN VÀO & BÀN VỀ THÁNH NHẠC

    (Biên khảo)




    ============
    * Xin được giới thiệu cùng ACE một biên khảo về Thánh Nhạc Việt Nam của Linh mục Đỗ Xuân Quế

    * Kính cám ơn wbesite
    http://www.dunglac.org đã cho đăng tải đầy đủ biên khảo này để chúng tôi được sử dụng cho việc học tập và nghiên cứu!

    * Trong bài này, theo nguồn trích dẫn, sẽ có mục bị trùng với một chủ đề tương tự mà ACE đã post trước đó; song để giúp liền mạch một biên khảo (mang tính tài liệu-giáo trình để học) và cũng là theo trình tự một chuyên mục từ nguồn gốc, cho phép tôi được lặp lại nội dung tại đây. Những phần nội dung trùng lặp tôi sẽ ghi nguồn dẫn thêm trong bài ở để tiện theo dõi và bổ sung!
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  16. Có 11 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 2/2 đầuđầu 12

Tags cho chủ đề này

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com