+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 2/2 đầuđầu 12
kết quả từ 41 tới 54 trên 54

Chủ đề: Chân dung linh mục Việt Nam

  1. #13
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha GIUSE MARIA HOÀNG GIA HUỆ
    (1886 – 1954)

    Mẫu gương đời sống mục vụ và tinh thần hy sinh






    1886 : Sinh tại giáo xứ Phú Nhai, giáo phận Bùi Chu
    13/8/1904 : Nhập Tiểu Chủng viện Bùi Chu
    13/8/1910 : Đại Chủng viện Bùi Chu
    1912-1914 : Phụ giảng tại Tiểu Chủng viện Bùi Chu
    1914-1918 : Học thần học tại Đại Chủng viện Bùi Chu
    1918 : Thụ phong linh mục tại nhà thờ Chính Toà Bùi Chu
    1918-1921 : Phó xứ Báo Đáp
    1921-1925 : Phó xứ Quần Phương
    1925-1927 : Phó xứ Lục Thuỷ
    1927-1928 : Chánh xứ Ngọc Tiên
    1928-1930 : Làm việc mục vụ tại đảo Phú Quốc, giáo phận Nam Vang (Campuchia)
    1930-1936 : Chánh xứ kiêm quản hạt Ninh Cường
    1936-1937 : Giám đốc Tiểu Chủng viện Trung Linh
    1937-1938 : Giám đốc Tiểu Chủng viện Ninh Cường
    1938-1940 : Giám đốc Đại Chủng viện Phú Nhai
    1940-1951 : Giám đốc Đại Chủng viện Quần Phương
    1951-1954 : Chánh xứ kiêm quản hạt Quần Phương
    30/6/1954 : Qua đời trên đường đi lao tù ở Thanh Hoá

    Mẫu gương đời sống mục vụ

    Nhìn vào đôi dòng tiểu sử của cha Giuse Maria Hoàng Gia Huệ, chúng ta có thể thấy được hình ảnh của một vị mục tử luôn mải miết với những công việc mục vụ trong suốt cuộc đời, từ khi lãnh nhận thiên chức linh mục cho đến khi qua đời. Với mỗi giáo xứ nơi cha Huệ đến làm công tác mục vụ, cha luôn để lại cho các tín hữu một ấn tượng, một mẫu gương tốt đẹp về một vị mục tử tốt lành, thánh thiện, vui tươi, khiêm nhường, đức độ trong lời ăn tiếng nói cũng như trong đời sống thường ngày: “Ngài là một linh mục gương mẫu mà chúng tôi hằng ngưỡng mộ và cố gắng noi theo. Ngài có một nền đạo đức vui tươi, không lộ vẻ gì khắc khổ, tuy thật sự, đời sống của ngài rất nhiệm nhặt” (Lm.Phạm Châu Diên, Hồi ký đời tôi).

    Nhà nguyện là nơi ngài dành nhiều thời giờ hơn hết. Chính nhờ những giờ phút cầu nguyện bên Chúa Giêsu Thánh Thể, mà ngài đã kín múc được những ân sủng, giúp thăng tiến đời sống thiêng liêng và mục vụ của ngài và làm lan toả những ân huệ đó cho các tín hữu.

    Khi nói về đời sống mục vụ của cha Huệ, tất cả những ai đã từng tiếp xúc đều nhận thấy nơi ngài có cách cư xử của một người mục tử nhân lành, thấm nhuần sự khôn ngoan và tinh tế với một tinh thần khiêm nhu, bác ái, đặc biệt đối với những người nghèo khổ. Đối với các chủng sinh, ngài không bao giờ lớn tiếng, nhưng lại rất công bình. Khi cần phải góp ý, ngài nhắc nhở nhẹ nhàng, kín đáo đầy tình thương yêu xứng bậc làm thầy.

    Ngài có lòng sùng kính Thánh Thể cách đặc biệt và cổ võ cho các tín hữu làm theo. Vì vậy, các bài giảng trong thánh lễ ngài cử hành luôn đầy những lời lẽ thúc giục các tín hữu đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống đức tin. Đồng thời ngài cũng ra sức cổ võ Kinh Mân Côi và việc siêng năng lần hạt Mân Côi: đâu đâu trong các giáo xứ, giáo họ của cha cũng thấy vang lên những lời kinh kính Đức Mẹ thật tốt lành và sốt sắng. Ngoài ra, ngài cũng hay dành thời gian đến hỏi thăm những gia đình trong xứ đạo, khuyến khích động viên họ giữ đạo sốt sắng, sống hoà thuận, yêu thương nhau, biết giúp đỡ nhau trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn. Với những người khô khan nguội lạnh, cha tìm lời lẽ khuyên răn, lôi kéo nhiều tâm hồn lầm lạc trở về với Chúa. Nhờ vậy, đời sống đạo nơi các giáo xứ cha coi sóc ngày một thăng tiến.

    Một trong những điểm nhấn về sự hy sinh phục vụ của cha Huệ là vào năm 1928, cha vâng lời bề trên và vì thương những tín hữu “bơ vơ không người chăn dắt”, ngài đã rời giáo phận mẹ Bùi Chu thân yêu để đến đảo Phú Quốc làm mục vụ cho hơn 2000 giáo dân thuộc giáo phận nhà đang làm việc tại đây do hợp đồng đưa người lao động và gia đình của họ từ Bùi Chu di cư lập ấp đến quê hương mới. Tại Phú Quốc, ngài đã giúp các tín hữu ổn định cuộc sống mới và củng cố đời sống đạo cho họ bằng việc cổ võ lòng sùng kính mến yêu Thánh Thể, siêng năng lần hạt Mân Côi. Bản thân ngài hy sinh đến từng nhà để thăm hỏi, động viên, khuyến khích họ sống và giữ đạo sốt sắng trong hoàn cảnh hoàn toàn mới mẻ. Nhờ đó, chỉ qua một thời gian ngắn, đời sống đạo ở đây đã có những tiến bộ. Tuy nhiên, khi cuộc sống tạm thời đi vào ổn định thì công ty tại đảo Phú Quốc bị phá sản, cha Huệ lại phải lo liên hệ với hai giáo xứ Rạch Giá và Hà Tiên thuộc giáo phận Nam Vang (Campuchia) để sát nhập hơn 2000 tín hữu tại Phú Quốc vào hai giáo xứ này.

    Nhờ ơn Chúa và Đức Mẹ thương, việc này cũng đã diễn ra tốt đẹp. Từ đây các tín hữu này đã có một quê hương mới tươi đẹp hơn, nhờ vị mục tử khôn ngoan và đạo đức.

    Trong suốt những năm mục vụ của cha, người ta nhận thấy có một sức sống mới nơi các xứ đạo. Ngài đã hướng tín hữu đến một đức tin sống động thay vì những tập tục phô trương. Trong các nhà thờ nơi ngài cử hành thánh lễ có nhiều người tham dự không kể sáng tối, ngày thường cũng như ngày Chúa Nhật. Giáo hữu tham dự thánh lễ sốt sắng và rước lễ rất đông vì ngài chịu khó ngồi toà giải tội. Tất cả những thành quả đó, ngoài ơn Chúa và Đức Mẹ giúp, còn có công lao khó nhọc, tấm lòng mục tử vì đoàn chiên mà cha Huệ đã thực hiện trong suốt cuộc đời mình.

    Mẫu gương tinh thần hy sinh

    Tinh thần hy sinh của cha Huệ được thể hiện cụ thể nơi cách cư xử, lối sống thường ngày của ngài. Ngài không những hy sinh chay tịnh phần xác, mà còn hy sinh chay tịnh trong tâm hồn nữa. Cố linh mục Giuse Phạm Châu Diên đã ghi lại trong Hồi ký đời tôinhư sau: “Bữa sáng, món điểm tâm của ngài là một bát nước cơm, hay một ly cà phê. Bữa trưa, tuy đồng bàn với các cha, nhưng ngài dùng cơm của chủng sinh, viện cớ là để theo dõi cho biết mà sửa chữa khi cần. Buổi tối, ngài chỉ ăn cháo qua loa [...]. Áo trong của ngài phần nhiều là cũ vá, như khi đi tắm biển với ngài, tôi đã từng thấy. Ngài thường lấy các mảnh giấy vụn mà viết thư [...]. Phòng ngài ở rất đơn sơ, không có một thứ gì đáng giá. Bàn giấy giám đốc chỉ là một cái bàn nhỏ, xách một tay còn nhẹ”.

    Tinh thần hy sinh vì đoàn chiên của cha Huệ còn thể hiện cách đặc biệt nơi toà giải tội. Ngài là vị tông đồ miệt mài nơi toà giải tội như cha thánh Gioan Maria Vianney. Có những ngày đông người, ngài phục vụ liên tục từ 15-16 giờ đồng hồ, vì cha luôn tâm niệm rằng: không để ai đã chịu khó bỏ công việc, đến nhà thờ dọn mình xưng tội mà không được vào toà xưng tội. Những việc làm này của cha, không phải để cho thiên hạ thấy, mà vì lòng mến Chúa thúc đẩy, như lời thánh Phaolô tông đồ đã nói: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14). Đó cũng là lý tưởng và mục đích đời tu của cha Huệ.

    Nhìn vào cuộc đời của cha Giuse Maria Hoàng Gia Huệ, chúng ta thấy ánh lên mẫu gương về một vị mục tử tốt lành, luôn hy sinh cho lợi ích phần rỗi các linh hồn. Cái chết thảm thương của ngài là một chứng từ sống động của đức tin kiên trung, niềm hy vọng vững vàng và lòng yêu mến thiết tha đối với Chúa và với Giáo Hội.

    Qua gương sáng và đời sống của ngài, chúng ta cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho Giáo Hội những vị mục tử thánh thiện, nhiệt thành. Những lời của Công đồng Vaticanô II thật phù hợp để áp dụng vào đời sống chứng tá của Cha Huệ: “Là những vị cai quản và chăn dắt dân Chúa, các ngài được tình yêu của Chúa Chiên nhân lành thúc đẩy hiến mạng sống cho con chiên, và sẵn sàng hy sinh đến tột bậc, theo gương của nhiều linh mục, ngay cả trong thời hiện đại, không quản ngại hiến mạng sống mình. Là những nhà giáo dục trong đức tin và ‘được lòng can đảm bước vào nơi chí thánh nhờ Máu Chúa Kitô’ (Dt 10,19), các ngài tới gần Thiên Chúa, ‘với một tấm lòng chân thành tràn đầy đức tin’ (Dt 10,22); các ngài gây niềm hy vọng vững vàng cho các tín hữu của mình, để nhờ chính sự khích lệ mà Thiên Chúa đã khích lệ các ngài, các ngài có thể an ủi họ trong mọi cơn thử thách, là những vị hướng dẫn cộng đoàn, các ngài thực hành việc khổ chế riêng biệt của vị chăn dắt các linh hồn: từ bỏ những tiện nghi riêng, không tìm kiếm tư lợi nhưng tìm lợi ích cho nhiều người, để họ được cứu rỗi, luôn tiến bộ trong việc chu toàn hoạt động mục vụ cách hoàn hảo hơn và khi cần, các ngài sẵn sàng đi vào những con đường mục vụ mới mẻ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần tình yêu, Đấng thổi nơi nào Ngài muốn” (Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis, 13).


    GP Bùi Chu

  2. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  3. #12
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha ANTÔN DEN(1) (HỌC)
    (1903 - 1987)
    Giáo phận Kontum





    Cha Antôn Den là một trong ba người đầu tiên thuộc sắc tộc Bahnar được phong chức linh mục (1932) trên Miền Truyền giáo Kontum, sau 84 năm Tin Mừng được gieo vãi nơi đây, kể từ ngày thày phó tế Nguyễn Do, theo lệnh Đức cha Đại diện Tông tòa Stêphanô Cuenot (Thể), thành công trong việc mở đường đưa các vị thừa sai xâm nhập vùng Tây Nguyên (1848). Qua cuộc sống hiền lành, khiêm nhường và tận tụy hy sinh trong việc mục vụ, và qua những công trình to lớn của ngài có liên quan đến tôn giáo và văn hóa, ta có thể coi ngài là một trong những gương mặt linh mục tiêu biểu của giáo phận Kontum.


    1. Gia đình
    :
    Gia đình cha Den theo đạo Công giáo từ thời ông nội của ngài, là ông Bâu. Chuyện kể rằng (2), năm 1856, ông Bâu, người Bahnar làng Kontum (3), có đứa con trai bị lở miệng, hôi thối lắm. Một hôm, Cha Hòa đi dạo vào làng, thấy nó, hỏi nó là con ai. Khi nghe là con của ông Bâu, ngài liền lên nhà hỏi thăm và nói với ông sao con đau như vậy mà không lo chạy chữa cho nó, để vậy chắc nó sẽ chết… Ông Bâu thưa mình đã tốn kém nhiều rồi, song tiền mất tật mang, không được gì. Cha hỏi ông mua thuốc gì mà tốn dữ vậy? Ông thưa rằng đâu có thuốc thang gì, chỉ rước Bơjâu (phù thủy) cúng vái xin thần linh cho nó khỏi, tốn bao nhiêu là bò, là heo, là dê, nhưng hết của thì có, còn bệnh nó chỉ trơ trơ, chẳng biết sao nữa! Cha nghe vậy động lòng thương, an ủi và khuyên giải cho ông hiểu việc cúng quải là vô ích và tốn kém mà thôi, vì Bơjâu chỉ phỉnh phờ để kiếm chác; nếu có theo đạo kính thờ Đấng Tạo Hóa thì Ngài sẽ phù hộ cho. Khi ấy ông Bâu không nói gì, nhưng suy nghĩ trong lòng có lẽ Chúa của kẻ có đạo có khi lại linh hơn chăng. Sau cuộc nói chuyện đó, cha ra về và lo kiếm thuốc chữa cho thằng bé. Cách vài hôm, cha trở lại gặp những người có thế giá trong làng và khuyên họ theo đạo. Chẳng có ai muốn, ngoại trừ ông Bâu… Cha Hòa vui mừng lắm, lo dạy dỗ, chăm nom, cùng lo săn sóc thuốc thang cho đứa nhỏ. Chẳng bao lâu, nhờ Ơn Trên, nó được lành, nhưng đành phải mang tật sứt môi, vì bị lở nặng quá. Người trong làng gọi đứa nhỏ ấy là Huêng (bởi tiếng hueh là sứt mẻ). Về sau, Huêng khôn lớn, lập gia đình, giữ đạo hẳn hoi và sinh được thầy Chơrơng, giúp việc nhà trường Kontum cùng linh mục Antôn Den.
    2. Thân thế
    Antôn Den, sinh ngày 13 tháng 6 năm 1903 tại họ đạo Kontum, thời cha Bề Trên Vialleton (Truyền) làm chánh xứ, là con ông Huêng và bà Oih.
    Năm 1912, cậu Den được cha sở lúc đó là cha Giuse Décrouille tuyển chọn và giới thiệu cho cha Martial Jannin (Phước), giám đốc Trường Á Thánh Cuenot. Cậu Den được chính thức ghi danh vào lớp học sinh mới, theo học lớp do cha Bober (bok Ber) và chú Luen, chú Xonh và chú Dơu4. phụ giúp
    Năm 1914, cha giám đốc Jannin gởi ba em học sinh là Antôn Den, Giuse Châu và Phêrô Hóa đi tu làm linh mục. Cả ba em này đều xuất thân từ làng Kontum. Sáng thứ hai ngày 2 tháng 11 năm1914, ba em đã từ giã các cha, các thầy, cha mẹ, bà con và bạn bè ra đi xuống miền xuôi tu học tại Tiểu chủng viện Làng Sông, thuộc Hạt Tông Tòa Đông Đàng Trong, sau này là Quy Nhơn (1924). Buổi chia tay diễn ra rất cảm động (5).
    Năm 1923, sau gần 10 năm học tập tại Làng Sông, ba thầy Antôn Den (Học), Giuse Châu và Phêrô Hóa đã được Đức cha Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong gởi qua học tại Đại chủng viện Penang (Mã Lai). Về học tập và tu đức, ba thầy được Bề Trên và các cha giáo đánh giá cao: giỏi về sinh ngữ, nhất là cổ ngữ Latinh; các môn triết và thần học không thua kém các bạn đồng lớp; đời sống đạo đức thì gương mẫu, được mọi người khen ngợi và mến thương.
    Năm 1930, sau khi học xong các môn triết và thần học tại Penang, ba thầy về nước và trở lại Miền Truyền giáo Kontum để thực tập cuộc sống mục vụ tương lai. Cha Bề Trên Miền đã phân chia các thầy đi giúp ở những nơi cần thiết: thầy Antôn Den tại Dak Kơna, thầy Giuse Châu tại vùng Jrai-Habâu và thầy Phêrô Hóa tại vùng Plei Pơnuk (Plei Rơngol Khop).
    Năm 1931, ba thầy trở lại Đại chủng viện Đại An (Quy Nhơn) để học thêm tiếng Việt, chuẩn bị thụ phong linh mục.
    Ngày 29 tháng 6 năm 1932, ba thầy người sắc tộc lần đầu tiên được tiến chức: Thầy Antôn DenChâu và thầy Phêrô Hóa nhận thánh chức linh mục từ tay của Đức cha Jannin (Phước), vị giám mục tiên khởi của Hạt Tông Tòa Kontum vừa được tách ra khỏi Hạt Tông Tòa Quy Nhơn (18-01-1932). Đây là ngày trọng đại và vui mừng cho toàn thể Hạt Tông Tòa, ghi dấu ấn một hoài bão đã thành hiện thực. Tờ Báo Tòa Thánh đã đăng hình và viết bài có tựa đề "Linh mục Bahnar đầu tiên". Nhưng đây là khởi đầu cuộc hành trình mới vừa đầy vinh dự lại vừa đầy thách đố cho cuộc sống của ba tân linh mục người sắc tộc đầu tiên. cùng với hai thầy Giuse
    3. Công tác mục vụ:
    1933 – 1934: Cha Antôn Den được đặt làm cha phó Habâu, giúp Cha Corompt (Hiển) coi sóc 8 họ đạo chung quanh.
    1934-1936: Phụ trách Kon Mahar gồm 10 họ đạo.
    1936-1938: Phụ trách Kon Long Buk gồm 6 họ đạo.
    1938-1939: Cha phó Kontum.
    1939-1941: Phụ trách Kon Mơnei Kơtu gồm 10 họ đạo.
    1942: Phụ trách Dak Mut gồm 10 họ đạo.
    1943: Phụ trách Kon Hơring gồm 14 họ đạo.
    1944: Phụ trách Kon Du gồm 7 họ đạo.
    1945: Phụ trách Plei Jơdrâp gồm 7 họ đạo.
    1946: Phụ trách Plei Rơhai gồm 8 họ đạo.
    1853: Trở về phụ trách Kon Mahar gồm 10 họ đạo.
    1955: Phụ trách Kon Mah gồm 10 họ đạo.
    1956: Về dạy học tại trường Cuenot.
    Trong thời gian này, cha khởi sự dịch bộ Kinh Thánh sang tiếng Bahnar; viết báo Hlabar Tơbang; dịch các sách Phụng Vụ, sách Kinh, Hạnh Các Thánh, sách Giáo Lý, các bản Thánh Ca; hiệu chính Từ Điển Bahnar-Việt vừa để đáp ứng nhu cầu Phụng vụ, vừa nâng cao sự hiều biết cho anh em dân tộc.
    1978: Sau khi Trường Cuenot bị trưng dụng, cha qua sống bên nhà xứ chính tòa Kontum cho đến lúc qua đời.
    1987: 18 giờ 30, ngày 17 tháng 10, ngài trút hơi thở cuối cùng, thọ 84 tuổi, với 55 năm linh mục.
    Cha Antôn Den sống lâu hơn hai vị linh mục Bahnar đồng sự. Ngài là linh mục Bahnar đầu tiên tại Việt Nam, có một chỗ đứng và vai trò đặc biệt trong lịch sử Truyền Giáo tại Việt Nam nói chung và tại Giáo phận Kontum nói riêng.
    Khi còn trẻ, cha đã âm thầm, tận tụy trong sứ vụ mục vụ trực tiếp trong các buôn làng xa xôi, với bao vất vả và hiểm nguy. Sau đó, cha đã dâng hiến trọn cuộc đời còn lại cho công tác dịch thuật Kinh Thánh, hiệu chính các bản văn Phụng Vụ và chuyển đạt Lời Chúa hoặc Lịch Sử Địa Phận qua sách báo như Tờ Nguyệt San Échos hay Hlabar Tơbang.
    Những năm tháng cuối đời, cha đã dành trọn ngày sống để tiếp đón anh em thuộc các dân tộc Bahnar, Xơđang, Rơngao, Jrai... từ khắp nơi trong giáo phận tuốn về. Trong tình thân thương, thể hiện qua những hy sinh và phục vụ, cha đã ban cho họ bí tích Hòa Giải, Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Mỗi giây phút trong cuộc đời của cha như là những hạt thánh đức kết thành tràng chuỗi yêu thương, hy sinh và quên mình.



    * Chú thích:
    (1). Đọc là "Đen". Ngài còn có tên theo người Kinh là Học.
    (2). X. Linh mục Phaolô Ban và Simon Thiệt, Mở Đạo Kontum, Quy nhơn, 1933, tr. 113-119.
    (3). Làng ban đầu có tên là Dak Tum, vì ở gần cái hồ. Tum có nghĩa là hồ, ao, bàu.
    (4). X. Hlabar Tơbang, 1913, số 34, tr. 90.
    (5). X. Hlabar Tơbang, 1914, số 42, trang 52.
    GP Kontum
    thay đổi nội dung bởi: dominico_dung, 01-08-2009 lúc 12:25 PM Lý do: sửa trình bày đẹp, dễ đọc...

  4. Có 15 người cám ơn Damsan vì bài này:


  5. #11
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default


    Đức cha JEAN CASSAIGNE
    (1895 – 1973)
    Vị tông đồ truyền giáo cho anh chị em dân tộc Kơho
    và sáng lập Trại phong Di Linh



    Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc
    Trong bản tường trình năm 1920, Đức cha Victor Quinton Giám mục Giáo phận Sài Gòn đã nói đến ý định truyền giáo cho người dân tộc trên cao nguyên Djiring – Langbiang. Nhưng công cuộc truyền giáo này chỉ thực sự bắt đầu khi Đức cha Dumortier đặt cha Jean Cassaigne, một linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris đến Di Linh năm 1927. Đức cha Dumortier viết trong bản tường trình năm 1927 như sau:
    "Chúa Quan Phòng đã sắp đặt cho tôi một vị tông đồ như ý để khởi sự công cuộc truyền giáo cho người dân tộc. Tôi thấy cha Cassaigne được chuẩn bị tốt để chịu được gian khổ thiếu thốn. Vừa khi biết chương trình truyền giáo của tôi, cha Cassaigne đã tình nguyện và bày tỏ niềm vui khôn tả khi nghe tôi công bố việc bổ nhiệm ngài vào công cuộc này".
    Thứ tư ngày 20-10-1926, cha Cassaigne lên đường đến thí điểm truyền giáo Di Linh. Ngài đi từ Sài Gòn đến Phan Thiết, rồi từ Ma Lâm lên cao nguyên Di Linh. Nhưng gặp mưa bão càn quét vùng cao nguyên làm con đường từ Ma Lâm lên Di Linh hư hại nặng cho nên ngài phải trở về Sài Gòn.
    Cho đến ngày 24-1-1927, cha Cassaigne mới có thể từ Đà Lạt chính thức đến nhận thí điểm truyền giáo Di Linh. Toà Giám mục Sài Gòn đã chuẩn bị cho ngài một căn nhà mua lại của ông Ngô Châu Liên để làm cơ sở lập thí điểm truyền giáo.
    Ngay trong buổi chiều đầu tiên đến vùng đất Di Linh, cha Cassaigne đã nhìn thấy những người dân tộc lặng lẽ nghi ngại đi ngang qua nhà ngài. Ngài đã nhìn thấy những anh chị em dân tộc được trao phó cho ngài, cả một cánh đồng truyền giáo rộng lớn đang chờ đợi ngài. Để có thể gặp gỡ những người dân tộc rụt rè nhút nhát trước những người xa lạ, cha Cassaigne khởi sự bằng cách học nói tiếng của họ, một ngôn ngữ quá mới mẻ và không có chữ viết. Cha Cassaigne đã phải mày mò ký tự từng chữ trong ngôn ngữ của họ. Công việc này đã cuốn hút vị thừa sai trẻ đầy nhiệt huyết. Vì thế, vào tháng 12-1929 cha Cassaigne đã xuất bản Từ điển Pháp – Kơho – Việt, đây là cuốn từ điển đầu tiên hình thành chữ viết cho ngôn ngữ Kơho, một công trình rất đáng trân trọng vì góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển cho người dân tộc Kơho.
    Tháng 12-1937 cha Cassaigne xuất bản cuốn: Phong tục tập quán người dân tộc Kơho, đây cũng là một công trình đầu tiên nghiên cứu về người Kơho, một công trình giúp cho cha Cassaigne có thể hiểu và gặp gỡ được với những người dân tộc và từ đó nói về Chúa cho họ. Năm 1938 cha cho xuất bản tập Giáo lý cho người Kơho.
    Chính nhờ việc hiểu được ngôn ngữ và phong tục tập quán Kơho, cha Cassaigne đã thực sự trở thành người khai phá, trở thành Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc, và cha đã thành công trong việc đem Ơn Cứu Độ đến cho rất nhiều người dân tộc thuộc các buôn làng trong miền Cao nguyên Di Linh – Langbiang.
    Hoa trái của công cuộc truyền giáo là vào chiều ngày áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, 7-12-1927, cha Cassaigne đã rửa tội cho bà Ka Trut, một bệnh nhân phong cùi thường xuyên nhận sự giúp đỡ của cha. Bà Maria Ka Trut qua đời ngày 20-12-1927 và được an táng ngày 22-12-1927 tại nghĩa trang của người dân tộc Di Linh.
    Tin Mừng của Chúa đã được người dân tộc đón nhận vì họ cảm nghiệm được tình yêu Chúa qua những hành vi bác ái yêu thương của cha Cassaigne. Họ đã thực sự nhận ra cha Cassaigne yêu thương họ qua việc ngài yêu thương đón nhận và nuôi dưỡng những anh chị em phong cùi của họ, những con người bất hạnh vì gia đình và buôn làng sợ hãi bị lây nhiễm đã xua đuổi họ vào trong những khu rừng vắng để họ chết dần chết mòn trong nỗi đau thể xác và tinh thần.
    Ngày 17-2-1929, cha Cassaigne đã quy tụ những người bệnh nhân phong cùi và thành lập Trại Phong Di Linh. Ngài đã xây dựng Trại Phong thành một gia đình ấm cúng che chở những bệnh nhân phong cùi bất hạnh để cho cuộc đời của họ được yên ủi sớm tối có nhau.
    Giám mục phong cùi của người phong cùi
    Nhưng cuộc sống của cha Cassaigne sắp thay đổi một cách bất ngờ. Ngày 20-2-1941, ngài nhận được một bức điện tín khiến ngài buồn bã. Thật là bất thường khi nhìn thấy ngài trong trạng thái này, đến nỗi người ta phải dò hỏi ngài! "Họ đã tấn công dồn dập bắt tôi làm giám mục", ngài càu nhàu trả lời. Quả thật, Đức Giám mục Sài Gòn vừa qua đời năm vừa rồi và Tòa Thánh trong thời kỳ khó khăn này, tìm một người để kế vị và đã chọn vị linh mục của người phong cùi. Vị thừa sai phải rời bỏ Di Linh. Sự chia ly rất đau lòng cho cả hai phía: anh em Thượng và nhất là những bệnh nhân phong cùi mất người cha của họ; vị linh mục phải xa con cái ngài. Dù vậy vị thừa sai không do dự vâng lời Tòa Thánh với đức tin và lòng can trường. "Tôi là kẻ từng mơ thành một thừa sai tầm thường. Tôi, kẻ đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, lại trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Nhưng, dù người ta sẽ thay y phục và chỗ ở của tôi, song chẳng ai thay được con người chất phác nơi tôi". Khẩu hiệu "Bác Ái và Yêu Thương" do ngài chọn đã nói lên điều đó rất nhiều.
    Ngày 24-6-1941, ngay từ 7 giờ sáng, chuông các nhà thờ Sài Gòn đồng loạt đổ vang, báo tin lễ tấn phong Đức cha Cassaigne. Nghi lễ diễn ra ở Nhà Thờ Chính Tòa. Đám đông ken dày: có những bạn bè đến từ khắp nơi... và những anh em Thượng đi thành đoàn đại diện. Các anh em Thượng bận y phục ngày lễ; họ làm khách tham dự thấy vui thích, mặc dù nhiều người An Nam tỏ ra khó chịu trước cảnh tượng ấy. Nghi lễ phụng vụ dài, quá dài đối với anh em Thượng. Họ liền rời chỗ để đi tham quan tháp chuông. Khi ra khỏi Nhà Thờ Chính Tòa và bị đám đông xô lấn khiến họ hoảng sợ, họ liền trèo lên cây cao để nhìn đám rước. Đức cha Cassaigne mỉm cười khi nhìn thấy họ.
    Tân Giám mục bắt tay vào công việc. Đó là một con người đơn sơ. Lối vào Tòa Giám mục rộng mở tự do và bất cứ ai cũng có thể gõ cửa văn phòng của ngài. Các nhân chứng ngày nay vẫn còn nhớ lại đã thấy ngài đi xe đạp hoặc xe Vespa thăm các khu nghèo ở Sài Gòn. Ngài rong ruổi khắp địa phận rộng lớn của ngài.
    Ngày 19-12-1954, vào dịp kỷ niệm thụ phong linh mục của ngài, Đức cha Cassaigne dâng Thánh Lễ Tạ Ơn. Nhưng trong khi cử hành Thánh Lễ, ngài thấy trên mặt da mình, chỗ phía trên cổ tay một chút, có một vết đỏ hồng màu rượu. Khi Thánh Lễ kết thúc, ngài lấy một cái kim châm vào chỗ ấy: hoàn toàn không cảm thấy đau! Ngài hiểu đó là bệnh phong cùi. "Linh mục dâng hiến tế Thánh Thể, cũng phải trở thành hy vật", sau này ngài sẽ viết như thế. Công việc vất vả sáu tháng vừa qua đã làm cho các bộ phận cơ thể ngài vốn mệt mỏi, lại bị suy yếu, đến nỗi bệnh phong cùi nằm phục từ lâu, nay phát tác.
    Đức cha Cassaigne giữ bí mật tin này, chỉ cho các bề trên của ngài biết. Thuốc điều trị do các bác sĩ cho, đã làm ngài suy kiệt. Sẽ phải mau chấm dứt thôi! Vết hồng lan rộng gấp đôi. Ngày 5-3-1955, ngài viết cho cha bề trên Hội Thừa sai Paris: "Tôi xin cha cho phép tôi nộp đơn từ chức sang Tòa Thánh và rút lui về Trại Phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất và Chúa quyền uy, với lòng nhân ái vô biên, đã cho tôi được nên giống như họ".
    Lời cầu xin của ngài được chấp thuận và Tòa Thánh bổ nhiệm một giám mục kế vị ngài, Đức cha Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền, được tấn phong trong Nhà Thờ Chính Tòa của ngài, ngày 30-11-1955. Ngày 2-12-1955, Đức cha Cassaigne trở về Di Linh.
    Từ đây, Đức cha dành trọn cuộc đời còn lại để sống giữa những người con cái để âm thầm yêu thương và phục vụ Trại Phong Di Linh. Tháng 2-1973 Đức cha bị ngã gẫy xương bên đùi phải, và chính vì vết thương này mà ngài phải trải qua gần 8 tháng liệt giường. Bên giường bệnh, Đức cha nói với người nữ tu chăm sóc ngài và một số bệnh nhân thay phiên trực: "Suốt 47 năm dài (1926–1973), cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây cha không còn tiếc gì về sự dâng hiến toàn diện ấy. Việt Nam chính là quê hương thứ hai của cha, bởi vì Chúa muốn như vậy. Khi về với Chúa, cha vẫn ở với các con, các con đừng lo…"
    Thứ bảy ngày 20-10-1973, Đức cha bắt đầu trở bệnh nặng với những cơn đau khiến phải phải thốt lên: "Tôi đau đớn lắm, tôi đau đớn quá". Mười ngày trôi qua, vào lúc 10g00 đêm ngày 30-10-1973, Đức cha lãnh nhận bí tích Xức dầu lần cuối do cha sở họ Di Linh và rạng sáng hôm sau Đức cha đã được Chúa gọi về hồi 1g25. Đức cha được an táng bên nhà nguyện Trại Phong ngày 5-11-1973.
    Chứng từ
    Cha Phanxicô Darricau, một linh mục MEP, đã viết về sự kiện Đức cha Cassaigne trở lại Trại Phong Di Linh như sau: "Ngài đã về và đã được đón tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay được nên ngài đã đến ở chung với tôi tại Ka-la, cách Trại Phong hai cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung cấp nổi cho ngài một căn phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một đồng nghiệp. Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ của ngài, một bên là cái bàn ăn. … Suốt trong sáu tháng, chúng tôi có niềm vui được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà dành riêng cho ngài ở Trại Phong. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la dùng bữa với tôi, khẩu phần có khá hơn trong trại. … Bao nhiêu sức lực còn lại ngài dành để phục vụ Trại Phong. Sức ngài giảm nhiều so với trước kia, do những đau đớn của căn bệnh…"
    Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di Linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức cha Cassaigne trong mười năm cuối cùng của ngài tại Trại Phong Di Linh, đã viết về Vị Tông đồ người phong cùi như sau: "Tôi được phúc sống mười năm gần Đức cha Cassaigne, vì thời gian đó tôi phụ trách xứ đạo thượng tại Di Linh. Tôi đã chứng kiến tình cảm ưu ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở nên phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành cho ngài đó, không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; tất cả được hướng về sự cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm duy nhất của ngài, tôi có thể nói là nổi ám ảnh đối với ngài cho đến khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho Trại Phong…"
    Ngày 26-7-2007, bà Maria Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1938 tại Bắc Ninh đã đến viếng mộ Đức cha và để lại chứng từ: "Tôi sinh sống tại khu phố III (ấp Tân Xuân) thị trấn Di Linh từ năm 1975 đến 1983. Tôi bị bệnh thấp khớp và đặc biệt là bị đau buốt dây thần kinh tọa. Một bác sĩ cho biết bệnh tôi rất khó chữa, nhưng tôi cũng kiên trì chịu đựng và chỉ uống một số thuốc đau nhức thông thường nên chỉ giảm đau chốc lát, vì nghèo không có tiền đi bệnh viện. Năm 1983 tôi bị những cơn đau dữ dội, lết đi không nổi, đau đớn đến độ chán nản thất vọng vì bệnh tật, đau khổ vì hoàn cảnh nghèo khổ cơ cực, bữa no bữa đói... Dầu vậy, tôi không bỏ Chúa, cố gắng bước đi chậm chạp, đau buốt với một bàn chân bị sưng tấy nặng nề. Khoảng tháng 6 năm 1983, sau giờ chầu Thánh Thể ban chiều, tôi đến trước tượng Đức cha Cassaigne ở cuối nhà thờ vừa khóc vừa than vì sự đau đớn, nghèo nàn của mình và tôi thưa với Đức cha: Cha ơi, thương con, kẻo con chết vì con đau đớn quá, con nghèo khổ chẳng có tiền chữa bệnh, con chỉ muốn chết cho yên, con xin Đức cha cầu xin Chúa và Đức Mẹ cất bệnh đau đớn cho con, nếu đẹp lòng Chúa và Đức Mẹ; còn nếu không, thì xin Đức cha thêm sức cho con để con chịu đựng cơn bệnh này cho nên. Từ từ, ngày qua ngày, con cảm thấy sự đau buốt giảm dần, và sau một thời gian con khỏi bệnh hẳn, đi đứng bình thường. Cuối năm 1983 con bỏ Di Linh về Đắc Nông với gia đình người con để làm ăn, cho đến nay là được 24 năm con lành bệnh. Con xin tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức cha Cassaigne. Con, Maria Nguyễn Thị Lệ".
    Một chứng từ khác do bác sĩ K’Đỉu chia sẻ bên phần mộ Đức cha Cassaigne trong đêm canh thức dịp lễ Giỗ năm 2007: "Dân gian thường nói: Không có mợ, chợ cũng đông! Nhưng với Trại Phong chúng con nói chung và bản thân con nói riêng, trải qua kinh nghiệm của cuộc sống, con đã nhận ra rằng: nếu không có sự hiện diện của Đức cha Jean Cassaigne thì có lẽ không có Trại Phong Di Linh và chắc chắn cũng không có con trên cuộc đời này. Nhưng nhờ tình yêu thương của Đức cha, ba mẹ con đã can đảm sống với căn bệnh đáng sợ mà còn được hạnh phúc vì được làm con Chúa.
    Khi Đức cha ra đi về với Chúa, thì con mới được 5 tuổi, với thời gian đó và tuổi thơ, con chưa biết Đức cha được bao nhiêu. Nhưng càng ngày qua các biến cố của cuộc đời, con đã nhận ra từng bước bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa dìu dắt chúng con, như lời Đức cha đã hứa: Trên thiên đàng, cha sẽ biết được nhiều, biết rõ hơn về nhu cầu của chúng con; cha sẽ cầu nguyện đắc lực và nhiều hơn gấp bội cho chúng con.
    Với ngọn đèn rực sáng đức tin và tình bác ái mà Đức cha đã thắp sáng bằng sự dâng hiến tất cả cho Chúa và cho chúng con, và với lời cầu bầu của Đức cha bên cạnh Chúa mà con đã nhận được biết bao hồng ân trong cuộc sống: được dạy dỗ nuôi nấng, được yêu thương chăm sóc, và được học hành như bao người khác, có thể nói còn hơn nhiều người khác nữa. Nhờ tình thương và hồng ân của Đức cha, nhờ những người đã tiếp nối vòng tay yêu thương của Đức cha và nhờ những ân nhân xa gần mà ngày hôm nay, có thể nói được, là con đã thành đạt trong cuộc sống, có chỗ đứng trong xã hội: con đã là bác sĩ chuyên khoa ngoại, điều vượt ra ngoài mơ ước của con.
    Đây là cảm nghiệm của riêng con, xin được chia sẻ như một chứng từ về tình yêu thương mà Đức cha cố dành cho chúng con".
    GP Đà Lạt

  6. Có 14 người cám ơn Damsan vì bài này:


  7. #10
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh mục Anrê Bùi Quang Tịch
    (1895 - 1977)


    Cha Anrê Bùi Quang Tịch sinh ngày 27.6.1895, tại giáo xứ Nam Tây, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, thuộc giáo phận Huế.

    Cha Anrê thuộc về một gia đình đạo đức. Trong dòng họ ngài, ngoài ngài ra, còn có đến bốn linh mục: một bác ruột là cha Bùi Quang Lợi, hai cậu ruột là cha Bùi Quang Tuyển và cha Bùi Quang Hữu, và một người anh bà con là cha Bùi Quang Lược.

    - Năm 1909, 14 tuổi, vào Tiểu Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị.
    - Năm 1919, 24 tuổi, vào Đại Chủng viện Phú Xuân, Huế.
    - Năm 1926, 31 tuổi, thụ phong linh mục.

    Cuộc đời linh mục của cha Anrê Bùi Quang Tịch được chia ra ba giai đoạn:

    - Giai đoạn làm mục vụ tại giáo xứ,
    - Giai đoạn làm giáo sư và làm giám đốc Tiểu Chủng viện,
    - Giai đoạn vào Dòng Phước Sơn và ở trong lao tù.

    1. Giai đoạn làm mục vụ tại giáo xứ:

    - 3 năm phó xứ giáo xứ Di Loan (12.1.1927 – 2/1930)
    - 4 năm quản xứ giáo xứ Vạn Thiện (1954-1958)
    - 7 năm quản xứ giáo xứ Trí Bưu (6/1961 – 8/1968)

    ● Ngài rất nổi trội trong việc hãm mình. Ăn uống rất thanh đạm, không đòi hỏi gì. Những khi ngồi cầu nguyện lâu giờ trong nhà thờ, ngài không bao giờ dựa lưng vào thành ghế.

    ● Có lần, thấy ngài đi chân không khi ra ngoài đường, giáo dân thương nên xin ngài đi dép kẻo ngài dẫm phải gai nhọn thì họ mất nhờ. Nghe vậy, ngài cũng bằng lòng, nhưng mục đích sâu xa của ngài khi đi chân không, là muốn sống đời hãm mình.

    ● Sáng ngày đi nhận xứ Trí Bưu, ngài ưu tư với một cha bạn, muốn thăm dò tình hình giới trẻ của giáo xứ thế nào, được vị linh mục này vui miệng nói rằng: “Với bộ râu như Cha, thì chẳng thanh niên nào dám đến gần đâu!”. Ngay trưa hôm đó, mọi người ngỡ ngàng khi nhìn thấy cằm cha đã nhẵn trụi, dù bộ râu đã thân thiết với Cha suốt mấy mươi năm. Chiều hôm đó, ngài đến nhận xứ Trí Bưu.

    Ngài sống rất khó nghèo trong việc sử dụng của cải và các đồ dùng riêng, nhưng trái lại, rất rộng rãi trong việc giúp đỡ những ai túng thiếu. Đối với những gì liên quan đến nhà thờ và các đồ phụng vụ, ngài không nệ tốn kém để lo cho được tươm tất, đẹp đẽ, xứng đáng.

    2. Giai đoạn làm giáo sư và làm giám đốc Tiểu Chủng viện (3/1930-1953 và 1958-1961)

    Ngài sống 27 năm ở Tiểu Chủng viện Huế, với tư cách là giáo sư và giám đốc, chuyên lo đào tạo các ơn gọi linh mục.

    Ngài có một chương trình sống rất mẫu mực và nghiêm nhặt. Sáng nào, ngài cũng thức dậy lúc 4 giờ. Sau khi đọc các Giờ kinh Phụng vụ, nguyện gẫm, ngài sốt sắng dâng Thánh lễ, và sau Thánh lễ, ngài luôn dành một tiếng đồng hồ để cầu nguyện và cám ơn Chúa.

    Ngài rất tận tụy trong việc dạy dỗ các mầm ơn gọi linh mục. Ngài dạy tiếng Pháp rất chuyên cần và rất kỹ lưỡng cho các chủng sinh trong các lớp căn bản. Nhờ vậy, các chủng sinh có thể theo học được chương trình Pháp một cách dễ dàng.

    Với lòng đạo đức nội tâm sâu xa, luôn luôn nêu cao gương mẫu trước mặt các chủng sinh, ngài đã góp công rất nhiều vào việc đào tạo nhiều thế hệ linh mục cho giáo phận Huế.

    Tuy tỏ ra nghiêm nghị trong lúc ở Tiểu Chủng viện, nhưng khi chủng sinh về hè, hoặc lúc ngài làm việc mục vụ tại giáo xứ, ngài sống rất bình dân, dễ gần gũi và có tình cha con đối với tất cả với mọi người.

    3. Giai đoạn vào Dòng Phước Sơn và ở trong lao tù

    Sau nhiều năm tận tâm tận lực phục vụ giáo phận Huế, ngày 15.8.1968, lúc đã 73 tuổi, ngài xin nhập Đan viện Thánh Mẫu Phước Sơn (Thủ Đức, Sài Gòn), sống đời đan tu để dọn mình chết lành (theo lời ngài nói). Lần lượt khấn tạm (15.8.1970) và khấn trọn (15.8.1973).

    Theo chứng từ của Đan Viện phụ Duy Ân Vương Đình Lâm, Bề trên Dòng lúc đó cho biết: “Vị đan sĩ linh mục này sống rất đạo đức, khiêm tốn, giữ luật Dòng rất nghiêm nhặt, quảng đại, can đảm...”

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cộng đoàn Phước Sơn quyết định chia ra thành nhiều nhóm nhỏ. Với giấy mời của Đức Giám mục giáo phận Long Xuyên, với giấy phép của chính quyền Thủ Đức cấp, cha Anrê phụ trách một nhóm, ra đi lập nghiệp tại vùng kinh tế mới Rạch Đùng, Kiên Giang (Rạch Giá), thuộc giáo phận Long Xuyên. Nhóm của cha có 7 người, gồm 2 linh mục khác và 4 đan sĩ.

    Gần một năm sau, ngày 24.4.1976, cả nhóm bị bắt giam tại nhà lao Rạch Giá với tội danh là “nhóm sĩ quan trốn học tập cải tạo”.

    Thời gian bị giam giữ, cha lâm bệnh, được đưa về bệnh viện Rạch Giá điều trị. Lúc này, cha vẫn bị canh gác và bị đối xử như một tù nhân.

    Cha khấn xin Đức Mẹ cho cha được về chết giữa các anh em trong cộng đoàn, và Đức Mẹ đã cho cha được toại nguyện. Ngày 6.1.1977, vì lâm trọng bệnh, cha được trả về lại cộng đoàn là trụ sở Dòng Phước Sơn tại Thủ Đức, TP.HCM. Về đến Đan viện trong tình trạng tinh thần vẫn minh mẫn tỉnh táo, ngài gặp gỡ thăm hỏi anh em và sốt sắng lãnh nhận các bí tích sau cùng. Bốn hôm sau, ngày 10.1.1977, lúc 17giờ, cha hoàn tất hiến lễ cuộc đời, thọ 82 tuổi, sau 51 năm làm linh mục với 9 năm đan tu.

    Cha Anrê Bùi Quang Tịch là một linh mục gương mẫu của giáo phận Huế và của Đan viện Phước Sơn. Giáo phận Huế và Đan viện Phước Sơn rất ngưỡng mộ và biết ơn vị linh mục thánh thiện này.
    Giáo phận Huế


  8. Có 10 người cám ơn Damsan vì bài này:


  9. #9
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse Nguyễn Tiến Giản
    (1941 – 1988)
    Một đời gian khó

    Cha Giuse Nguyễn Tiến Giản được nhiều người trong giáo phận Bắc Ninh nhận định là con người đã sống đúng như tên gọi của ngài: giản dị, đơn sơ, trong sáng, khiêm nhường… Trong suốt đời linh mục, cha đã cho thấy hình ảnh của một chủ chiên luôn nhiệt thành và âm thầm thực thi sứ vụ Chúa trao phó trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là những lúc sống đời sống một người công nhân công trường biết bao khó khăn và cám dỗ, cũng như những lúc thực thi sứ vụ của người linh mục với biết bao khó khăn vất vả nhưng ngài vẫn luôn cho thấy một con người luôn sống Tin Mừng yêu thương.

    Cha Giuse Nguyễn Tiến Giản sinh ngày 11-10-1941 trong một gia đình đạo đức tại giáo xứ Tử Nê, giáo phận Bắc Ninh. Năm 1956, cậu Giản được gửi đi tu học tại Tiểu Chủng viện Gioan Hà Nội. Năm 1960, Tiểu Chủng viện bị buộc phải đóng cửa, cậu đành phải rời Nhà trường và trở về gia đình tiếp tục tự học triết và thần học.

    Trong hoàn cảnh xã hội vô cùng khó khăn tăm tối, thì đêm 13-7-1964, trong căn nhà nguyện nhỏ hẹp chưa đầy 8m2 tại Tòa Giám mục, Đức cha Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, giám mục giáo phận Bắc Ninh, đã truyền chức linh mục cho thày Giản khi thày mới 23 tuổi. Lễ truyền chức diễn ra âm thầm, đơn giản, không kèn trống, hương hoa.

    Vì hoàn cảnh xã hội gian khó, nên tuy đã lãnh nhận thiên chức linh mục, cha Giuse Nguyễn Tiến Giản không được dâng lễ công khai. Là một linh mục, thay vì được Đức Giám mục sai đi phục vụ giáo xứ, thì ngày 4-10-1965, cha Giản lại bị chính quyền tỉnh Hà Bắc lúc đó quyết định “sai đi” làm công nhân giao thông cầu đường nơi các công trường trong phong trào “Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước”! Cha Giản đương nhiên trở thành “linh mục thợ” bất đắc dĩ vì chỉ được làm thợ, chứ không được làm lễ! Thiên chức linh mục của ngài cùng với việc cử hành các bí tích phục vụ cộng đoàn bị khép lại vô thời hạn. Thay vào đó là đời sống của người công nhân lang thang nay đây mai đó.

    Tuy nhiên, mọi sự đều sinh ích lợi cho những người yêu mến Chúa. Chính khi sống trong môi trường của những thanh niên xung phong, cha Giản lại có dịp để sống đời sống chứng nhân Tin Mừng yêu thương. Cha luôn sống tinh thần bác ái Kitô giáo và tìm cách đưa tinh thần hướng thiện vào lao động và các phong trào văn nghệ của công nhân. Đời sống chung với những người công nhân không thiếu những cám dỗ gọi mời, nhưng nhờ ơn Chúa và nhờ đời sống nội tâm sâu sắc, cha vẫn luôn giữ được lòng trung thành với Chúa, với lý tưởng cha đã chọn.

    Với tinh thần làm muối, làm men và ánh sáng trong môi trường sống, cha không những đã giữ được lý tưởng linh mục của mình mà còn luôn được mọi người xung quanh yêu mến. Từ một đối tượng phải cảnh giác, một thành phần đáng phải đưa đi cải tạo, thì chỉ sau một thời gian sống chung, cha Giản đã trở thành người “có cảm tình nhất” nơi mọi cán bộ và anh em công nhân. Để rồi vào ngày chia tay "anh Giản" đầu năm 1973, trước đông đảo nhiều người, ông thủ trưởng đơn vị đã nói đầy vẻ khâm phục và kính trọng: “Chúng tôi vui mừng được tiễn anh Giản về Toà Giám Mục để “thăng quan tiến chức”, nhưng cũng rất buồn vì tình cảm anh em sống gắn bó với nhau 8 năm trời nay phải xa cách. Cảm ơn anh đã để lại cho chúng tôi một tấm gương sáng trong cuộc sống”. Sau 8 năm lao động vất vả trong các công trường, cha Giản được trở lại Tòa Giám Mục.

    Ngày 2-1-1974, cha Giản chính thức được chính quyền tỉnh Hà Bắc công nhận là linh mục và bắt đầu công khai thi hành sứ vụ linh mục của mình. Sau đó, cha được Đức Giám mục giáo phận đặt làm cha quản hạt giáo hạt Bắc Giang trải rộng khắp tỉnh Bắc Giang, gồm 8 giáo xứ và 46 họ đạo với khoảng 10 ngàn giáo dân. Giáo hạt Bắc Giang lúc đó là một vùng vô cùng khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần; các nhà thờ thì bị tàn phá gần hết, chỉ còn lại 4 ngôi nhà thờ vững chắc, còn giáo dân vùng này vẫn được coi là vùng khô khan nhất giáo phận, hơn nữa lại có nhiều thành phần ra sức chống phá đạo. Các hội đồng giáo xứ hầu hết đều có người của Mặt trận gây nhiều khó khăn cho việc điều hành giáo xứ.

    Ngày 25-04-1975, sau khi lãnh nhận phép lành của Đức Giám mục giáo phận và chào mọi người, cha Giản buộc túi balô vào xe và đạp xe một mạch vượt quãng đường 20 km đến nhận giáo xứ Bắc Giang. Không có cảnh tưng bừng đón chào cha xứ mới, mà đập vào mắt là cảnh giáo xứ hoang tàn khủng khiếp đã khiến cha phải rơi lệ. Nhà thờ xứ bị bom phá sập, đất đai nhà xứ bị một số giáo dân lấn chiếm, chỉ còn lại duy nhất ngôi nhà xứ 5 gian mà sau này được sử dụng làm nhà thờ. Mấy bà giáo dân đạo đức nghẹn ngào thưa với cha xứ mới: “Giáo xứ chúng con đổ nát lắm cha ơi”!

    Giữa cảnh hoang tàn, cha Giản đã cùng với giáo dân thu dọn, xếp lại những viên gạch nơi nhà thờ đổ nát, bắt đầu xây dựng lại giáo xứ. Từ đó, chính trên nền nhà thờ đổ nát này đã là nơi hội tụ tin yêu của hàng ngàn tín hữu trong giáo hạt Bắc Giang vào những ngài đại lễ. Tưởng cũng nên biết những qui định khắt khe của chính quyền trong những năm tháng linh mục của cha Giản như: ấn định thời gian cho mỗi buổi kinh lễ; không được dạy giáo lý hay tổ chức hội họp các đoàn thể Công giáo; khi tổ chức lễ lớn, cha xứ và hội đồng giáo xứ phải làm đơn xin phép chính quyền và các tín hữu tới dự lễ không được ngủ đêm trong khu nhà thờ, nhà xứ; linh mục xứ đi đâu và làm gì phải trình báo và công an cho phép mới được đi. Nhiều năm, cha bị cấm không được về Tòa giám mục Bắc Ninh hiệp thông tham dự thánh lễ Truyền Dầu thứ Năm Tuần Thánh. Tuy nhiên, những qui định khắt khe như thế vẫn không thể cản bước cha đi đến với đoàn chiên của ngài. Cha còn có một cuốn sổ ghi chi tiết tình hình sống đạo vẽ sơ đồ đường đi lối xóm của từng xứ họ.

    Giữa muôn vàn khó khăn, cha Giản đã mạnh mẽ cổ võ việc suy tôn Lời Chúa nơi các họ đạo, để nhờ Lời Chúa mà xây dựng sự hiệp nhất và nuôi dưỡng tín hữu sống tinh thần Tin Mừng. Đồng thời, cha dành nhiều thời gian để đào tạo và huấn luyện những tông đồ giáo dân nhiệt thành. Trước tiên là các hội đồng giáo xứ, cha có lịch trình gặp gỡ họ hàng tháng để huấn luyện họ hiểu biết thêm giáo lý, xây dựng đời sống đức tin trưởng thành, làm gương mẫu cho giáo dân và can đảm làm việc mục vụ được giao. Có một số thành viên hội đồng giáo xứ ban đầu thuộc thành phần chống đối, thì sau mấy năm làm việc với cha, họ đã trở thành những con người nhiệt tình, hết mình vì đạo Chúa.

    Cùng với việc huấn luyện hội đồng giáo xứ, cha tụ họp và đào tạo những người nam người nữ muốn tận hiến đời mình làm việc tông đồ phụng sự Chúa và phục vụ Giáo Hội. Cha cũng trực tiếp giảng dạy những môn học cần thiết cho các người trẻ có ý hướng đi tu, nhất là thăng tiến họ về đời sống nhân bản và tu đức. Nhiều người trong số này hiện nay đã trở thành linh mục và tu sĩ nam nữ đang phục vụ trong cánh đồng truyền giáo của giáo phận.

    Trong khi thi hành mục vụ, cha Giản đã sáng tác nhiều bài hát, vần thơ diễn tả nội dung Tin Mừng một cách đơn sơ, dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ. Trong dịp Tuần Thánh, cha có nhiều sáng kiến mục vụ diễn tả cuộc thương khó và phục sinh Chúa Kitô đánh động lòng người. Đặc biệt trong dịp này, cha có thể ngồi tòa giải tội hầu như thâu đêm nhiều ngày để giải tội cho tín hữu từ nhiều nơi kéo đến.

    Không chỉ quan tâm đến việc cử hành các bí tích và nâng đỡ đời sống tâm linh của người tín hữu, cha Giản còn có những sáng kiến nhằm phát triển đời sống kinh tế cho những người nghèo. Thấy giáo dân mình lam lũ làm việc vất vả mà vẫn cứ nghèo, không đủ ăn, cha đã chỉ cách và cấp vốn nhỏ cho họ làm ăn. Cha chắt chiu từng đồng để có tiền âm thầm cấp vốn cho những gia đình nghèo mua trâu bò, mua lợn gà để chăn nuôi sinh lời. Sau khi cha qua đời nhiều người đã đến xin hoàn vốn cho Tòa Giám Mục.

    Thế rồi, cuộc đời luôn có những bất ngờ ngoài mong muốn của con người. Ngày 4-8-1988, cha Giuse Nguyễn Tiến Giản đã đột ngột qua đời trong một tai nạn giao thông khá bất ngờ bởi lẽ ngài là người nổi tiếng cẩn thận và điềm tĩnh. Nhiều người nhận xét: cha Giản cái gì cũng nhanh: nhanh trí, nhanh tay, nhanh làm linh mục, nhanh chạnh lòng thương và cũng nhanh ra đi! Cái chết của cha như một hi tế dâng lên Thiên Chúa. Mới ở tuổi 47, cha đã giã từ mọi người đi về Nhà Cha, nhưng hình ảnh một linh mục tài đức mãi in sâu vào tâm khảm bao người còn ở lại. Tín hữu giáo phận Bắc Ninh vẫn không thể nào quên hình ảnh một linh mục giữa muôn vàn gian khó, vẫn cứ trung kiên suốt một đời sống tinh thần Tin Mừng: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống vì người mình yêu”.
    GP Bắc Ninh

  10. Có 14 người cám ơn Damsan vì bài này:


  11. #8
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Chính xác, nếu có ai ở miền Tây Nam bộ thì càng thấy rõ điều này hơn nữa!
    Có thể xem Cha Diệp là một trong những Vị Linh Mục Tử đạo gần thời chúng ta nhất!
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  12. Có 13 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  13. #7
    ailaudu's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Anre
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Ho Chi Minh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 389
    Cám ơn
    316
    Được cám ơn 1,681 lần trong 344 bài viết

    Default

    Theo mình được biết thì những tiểu thương ở các chợ đầu mối nhất là chợ Bình Tây, rất tin tưởng nơi Cha. Kể cả người bên Lương. Họ thờ phượng Cha ngay tại sạp bán ngoài chợ...

    Xin bổ sung thêm một vài tấm hình về Cha Trương Bửu Diệp...


    Còn đây là 2 tấm hình chụp tại nhà mình...
    Gia đình mình đặt tượng thờ Cha ngay trước cổng nhà. Vì ba mình nói : "Ngoài được ơn của Chúa và Mẹ thì chúng ta còn được ơn của Cha Phanxicô nữa..."




    Chữ ký của ailaudu
    "Lạy Chúa! Thánh Giá nào Chúa dành cho con???"
    ----------
    "Con không xin cho mình khỏi đau khổ
    Nhưng xin Ngài đừng bỏ con trong lúc khổ đau"
    (Thánh Bernadette)
    ----------
    "Con đến với Chúa chẳng có gì
    Ngoài bàn tay trắng đã chai đi
    Nhưng trái tim con thật êm ái
    Nguyện làm máng cỏ cho Hài Nhi"
    (Nguyễn Ngọc Hiếu)

  14. Có 15 người cám ơn ailaudu vì bài này:


  15. #6
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default NGƯỜI ĐÀN BÀ TÌM VỀ “TẮC SẬY”

    NGƯỜI ĐÀN BÀ TÌM VỀ “TẮC SẬY”


    Ông Da-kêu, người đứng đầu những người thu thuế và là người giầu có, tìm cách để cho biết Chúa Giêsu là ai, nhưng không được vì dân chúng lại đông mà ông ta lại lùn. Ong liền chạy về phía trước, leo lên một cây sung để xem Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông:“ Này ông Da-kêu, xuống mau đi vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông “. Ong vội vàng tụt xuống và đón tiếp Người. Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau:“Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng:” Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Chúa Giêsu nói về ông ta rằng:” Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ap-ra-ham. Vì con người đến để tìm và cứu những gì đã mất. ( Luca,19,1-10)

    Khi đọc xong bài phúc âm này, tôi liên tưởng ngay đến người đàn bà bằng xương bằng thịt và rất gần gũi với tôi vì hai chữ Kontum thân yêu. Chị tên là Mỹ Diễm, năm nay 35 t. Chị sinh sống tại thành phố Pleiku trong một gia đinh giầu có.

    Đến tuổi 20, chị lấy chồng rồi chuyển về thị xã Kontum. Chồng chị tên Minh là bộ đội phục viên. Sau khi xuất ngũ anh xin vào làm trong ban tài chánh của thị xã, rồi với ý chí phấn đấu qua hơn 10 năm, anh trở thành cán bộ lãnh đạo cấp cao của một công ty có vai vế trong tỉnh. Còn chị thì làm y tá trong bệnh viện đa khoa của tỉnh.

    Sau gần 15 năm sống với nhau, chị vẫn không có con để bồng ẫm, để nối dõi tông đường. Chị khao khát. Nỗi khát khao vô tận. Chị hao gầy mòn mỏi trông mong. Lê thê. Bất cứ ai chỉ bầy vẽ loại thuốc hiếm muộn nào chị cũng uống cũng cố chạy cho bằng đuợc để tìm lấy hy vọng dù mong manh. Mãi rồi cũng vô vọng.

    Khi bệnh viện Từ Dũ đã thành công với những công trình thụ thai trong ống nghiệm, chị hớn hở bàn cùng chồng để tiếp cận những tiến bộ mới trong y khoa tại Saigon. Cả hai đã mau chóng ưng thuận và vội vã vào thành phố phồn vinh đó để ước nguyện được thành đạt. Tài chánh thì không còn là điều bận tâm vì anh Minh lúc này đã là tổng giám đốc của một công ty nhà nước rất có uy tín. Sự quyết tâm rất cao ngút vời vợi. Chị xin nghỉ việc để vào thành phố bám đuổi những thành quả của y học. Chị mua lại một căn nhà làm nơi cư trú trong suốt thời gian lưu lại nơi đây để tiến hành nhiều cuộc xét nghiệm cần thiết và đòi hỏi chi phí rất tốn kém. Sau nhiều tháng chờ đơi, kết quả xét nghiệm làm chị ngỡ ngàng chao đảo. Người chồng của chị đã không có tinh trùng trong tinh dịch mà chị đã bao năm ôm ấp trông ngóng vổ về. Chi ngao ngán rồi than thân trách phận:“ Sao cái số của tôi đen đủi đến thế! “Sao qủa tạ” đã chiếu lầm lên đầu chị rồi! Lạy trời xin cho con một chút, một chút mầm sống thôi, nhưng trời cao nào có thấu! ”. Chị đi không biết cơ man nơi nào mà kể. Chùa Bà. Chùa Ong. Chùa nào linh thiêng là chị tới.

    Thế rồi cơ hội cũng đến với chị khi chuyên gia phụ sản riêng của chị cho chị biết phải cấy mô của tinh hòan nơi người chồng may ra mới có chút hy vọng. Nhưng sắc xuất không cao. Với phương pháp cấy mô này dòi hỏi không ít tốn kém. Đúng của trời cho thật vô giá. Anh Minh và chị đi đi lại lại từ Kontum đến Saigon như cơm bữa. Nếu không phải là sếp lớn thì chẳng ai dám mặn mòi với những tiến bộ khoa học tân tiến đang đi dần vào hoàn thiện này. Đã phóng lao phài theo lao cho đến cùng. Đó là suy nghĩ không còn con đường nào khác trong niềm khát khao cháy bỏng này. Mặc dầu để có một đứa con cầu tự chị cũng đã nghĩ đến vài phương cách khác mà ai đó đã chỉ vẽ cho hươu chạy. Nào là cấy tinh trùng của ngân hàng. Nào là sinh nở hộ. Rồi còn có cả một phương sách táo bạo là ăn nằm với người đàn ông khác. Bao nhiêu tuyệt kế là bấy nhiêu dầy vò khắc khoải. Thế rồi chị cũng đi đến một kết luận dứt khoát khi tình yêu với chồng vẫn mãi là tuyệt vời cho dù có phải bán cả tài sản, cơ đồ. Chị đã phải bỏ ra cả những trăm triệu nhưng sau hai lần vẫn trắng tay hòan tay trắng. Chị đã thất vọng. Đã hao tiền tốn của. Đã ngậm ngùi cay đắng. Chị trở về sống với mẹ tại Phố núi.

    Chị đi đây đi đó cho khuây cho khỏa. Chị thăm quê ngoại nơi xứ Huế mộng mơ và cổ kính. Chị chán chường và bạc nhược. Chẳng còn thiết tha gì với đời đã cho chị cay đắng tuyệt vọng dù ước mơ đó bất cứ người đàn bà cũng đều có. Thế nhưng chị lại không!

    Nơi làng quê chị cũng nguôi ngoai cơn khát đến cháy bỏng. Không gian yên tĩnh hiền hòa cũng lắng đọng phần nào sự nóng rát khô khốc kia. Tình người nhân hậu yêu thương nơi đây cũng lan truyền sang chị. Bà mợ của chị mà cậu đã chết là người bổn đạo gốc nên hiểu rất rõ nhửng ẩn khúc trong lòng chị. Bà cảm thông sâu sắc. Mất mát thầm kín nhưng chan chứa của một người đàn bà không được làm mẹ. Bà so đo. Bà dày vò. Bởi cháu rể của bà là một chuyên chính vô sản. Thần thế. Uy lực lại tham vọng. Còn cháu gái không ít nhiều ảnh hưởng cái vô thần bên cạnh sườn của mình và trung thành với tình yêu ấy.

    Trong gia đình dòng tộc của bà thì lại yêu mến Chúa đã bao đời nay. Trước những gian nan thử thách bà chỉ cỏn biết trông cậy vào Chúa vá Mẹ thánh Ngài. Sau nhiều ngày cầu khấn bà đi đến quyết định phải khuyến khích cháu gái của bà đến gặp một vị thánh mà bà đã nghe nhiều nguời ca tụng vì được hưởng ơn lành cua Ngài. Đó là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp. Một linh mục đã bị chặt đầu vì danh Chúa và hiện Ngài được chôn cất tại “Tắc Sậy”,một làng quê thuộc tỉnh Cà Mâu, nơi cuối trời đất Việt.

    Với tình yêu nhiệm mầu vào Thiên Chúa, bằng sự cậy trông nơi vị linh mục linh thiêng của người Việt, bà đã thuyết phục được cháu gái não nề của bà trong niềm hạnh phúc vô biên.

    Chị Diễm trở về nhà mẹ và cùng người em gái khăn gói đi tìm họ đạo Tắc Sậy nơi mà không biết bao nhiêu cuộc hành hương từ bắc chí nam đã kéo về miền đất xa xôi mà linh thiêng ấy. Trước khung cảnh nờm nợp người nơi xa xôi hẻo lánh này, chị càng thêm niềm tin hơn. Đứng trước ngôi mộ đầy ăm ắp hoa, nhang nến nghi ngút và vô vàn những tấm bảng tạ ơn óng ánh, sau gần một ngày rong ruổi mệt nhoài, chị đã khấn. Đôi mắt chị nhìn sâu vào đôi mắt to đen của cha Phanxicô, chị thầm nói:” Lạy cha,con đã khao khát bao năm trời một đứa con để ẵm bồng để chăm sóc. Con đã đi nhiều nơi cúng bái nhiều thần linh. Nhưng vẫn chưa được thánh nhân nào phù hộ. Nay con lặn lội đường xa đến đây với niềm tin nơi cha sẽ chúc phúc. Xin cha cho con ơn lành của cha. Tạ ơn cha. Tạ ơn cha đến muôn đời.”

    Rồi chị cung kính bỏ vào hòm tạ ơn một phong bì để chia sẻ với người nghèo như mợ chị đã căn dặn nhắn nhủ kỹ luỡng trước khi hành hương. Hôm ấy chị ra về trong lòng thanh thản. Miệng tươi cười bỏ lại sau lưng nổi não nề u uất mà thời gian vừa qua chị đã lúynh quýnh xót xa đổ nhào.

    Về lại Saigon, chị gọi cho chồng mau chóng đến bệnh viện để tiếp tục thực hiện lần thứ ba bằng phương pháp cấy mô nơi ống nghiệm. Chị ở lại nơi khách sạn để yên tĩnh ngọt ngào chờ đợi tia hy vọng đang dạt dào trong tâm hồn đã bay bổng rực rỡ. Chị như không tin vào tai mình khi chuyên gia phụ sản cho chị biết tin tinh trùng của chồng chị đả đậu vào trong trứng của chị và đã nẩy mầm sống. Chị run lên trong sung sướng. Trái tim chị rôn rã như đảo lộn lên vì tin mừng này. Chị mở mắt reo vui nhảy nhót khi nhìn lên đôi mắt to đen sáng láng trong tấm hình đã lộng lẫy lồng khung ảnh mạ màu vàng ánh mà chị đang đặt nơi đầu giường trong phòng của khách sạn. Sau những phút trầm lắng như để nuốt tất cả mọi rung động vào trong cõi sâu thẳm, chị bấm máy báo tin vui cho chồng. Với em gái, chị tha thiết van nài bằng mọi cách trở lại nơi mộ cha Phanxicô để tạ ơn Ngài một lần nữa.

    Thời gian theo dỏi thai phát triển cũng đến kỳ chuyển sang an tòan nơi cơ thể của chị. Chị đến ở với người em trai vừa mới mua nhà tại con hẻm nho nhỏ của tôi. Chị biết tôi là người công giáo khi chị nhờ điện thoại gọi về cho gia đình. Từ đó tôi mới biết chị, được chị trao đổi tâm tình. Thật đáng quí! Vô vàn trân trọng! “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất “.

    Vài ngày sau chị ra thăm tôi. Lúc này tôi đang mở trang web cuuthe.com. Hình ảnh cha Phanxico đẫm máu từ cổ chảy xuống đang lồng lộng một màu đỏ rực trước màn hình vi tính. Tôi mời chị ngồi trước máy để nhìn ngắm hình ảnh người đã cho chị mầm sống đang mỗi ngày mổi phát triển to ra thành hình người. Chị đã khóc. Đôi mắt đỏ như phản chiếu từ màn hình hắt ra. Tôi nhìn Ngài như bị thôi miên. Tôi thầm nguyện:“ Xin Chúa lòng lành cho con thêm niềm tin yêu. Xin cho con ân sủng để tìm cách giúp người đàn bà này đã nhận ơn lành thánh của Chúa nhưng lại chưa biết Chúa là Cha mọi loài. Xin giúp chị tìm gặp Chúa vì Chúa đến để tìm và cứu những gì đã mất. Amen “


    Saigon22/11/03

    Phêrô Vũ văn Quí
    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=17611)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  16. Có 13 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  17. #5
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Một lần viếng thăm Nhà thờ Tắc Sậy
    và mộ phần cha Phanxicô Trương Bửu Diệp


    Đáp chuyến xe đò đi Cà Mau tài nhứt từ Xa cảng Miền Tây khi tiết trời hãy còn tờ mờ sáng, thế mà đến lúc đứng bóng chúng tôi mới đến được Nhà Thờ Tắc Sậy, thuộc tỉnh Bạc Liêu, nơi khách hành hương vẫn gọi là “Nhà Thờ Cha Diệp”. Điều bất ngờ đầu tiên đối với tôi là tấm biển trước Nhà thờ: “Thánh đường Công Giáo Tắc Sậy”, một sự minh định xác thực đây chính là nhà thờ của người Công giáo, và đây cũng là cách ghi biển hiệu của các nhà thờ vùng này khi tôi đi dạo vòng quanh Bạc Liêu, chứ không như ở Sài Gòn ghi là giáo xứ …

    Điều bất ngờ thứ hai, chính là sự đồ sộ của công trình xây dựng nhà thờ đang tiến triển, chứ không như trong trí tưởng tượng của tôi vì qua tài liệu được biết nơi đây chỉ là một họ đạo, bất ngờ nhưng rõ ràng tôi cũng khá lỗi thời vì công trình được khởi công từ 24/02/2004 nhưng tới giờ tôi mới biết. Bất ngờ nhưng cũng là tín hiệu mừng vì nhà Chúa đang được xây mới khang trang nơi miền đất gần tận cùng phương Nam này, vùng đất mà cách đó không xa, nhà nước lấy Nhà thờ Công giáo Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, thị xã Bạc Liêu xây nhà trẻ mà đến nay tiếng kêu của Đức Cha Emmanuel Lê Phong Thuận và các linh mục Giáo phận Cần Thơ bao năm nay vẫn rơi vào khoảng không.



    Cầu xin cùng cha Trương Bửu Diệp

    Điều bất ngờ thứ ba là tôi gặp được gia đình hai anh chị nghệ sĩ hài từ Hoa Kỳ xa xôi đang cầu nguyện nơi mộ phần Cha Phanxicô: Quang Minh - Hồng Đào, tiếc là anh chị đi vội quá nên không kịp phỏng vấn, không biết họ đến vì trên tinh thần con cái Chúa (họ là người Công Giáo???) hay chỉ vì “tiếng tăm” của Cha Diệp? vì theo tôi được biết rất nhiều người không Công Giáo cũng đến thăm mộ phần Cha Phanxicô để cầu nguyện riêng. Cầu mong sao Cha Phanxicô vinh hiển xin Chúa Thánh Thần soi sáng để những người đến thăm mộ phần Cha luôn trở về với Chúa như là những người Kitô hữu đích sống theo đường lối Tin Mừng. Mặc dù Lễ giỗ cha Phanxicô đã qua gần cả tuần và dù cái nắng chói chang của một buổi trưa Thứ Bảy mùa nắng, và nhưng dòng người hành hương vẫn lác đác tiến vào khu mộ Cha Phanxicô để cầu nguyện, xin Cha cầu bàu cùng Chúa trong khung cảnh hết sức tĩnh lặng.

    Sau khi cầu nguyện, đến thăm phòng truyền thống có bức tượng bán thân Cha Phanxicô, tiểu sử của ngài, của họ đạo Tắc Sậy vô số những khánh tạ ơn Cha Diệp bằng vàng, tôi thật sự cảm phục Cha đã cầu bàu để Chúa ban ơn cho nhiều người nhưng tôi cũng tiếc là những đồng tiền để dâng khánh vàng như thế phải chi được dùng để chia sẻ những bác gạo, manh áo cho người nghèo, cô thế… Xin Cha Phanxicô cầu Chúa sáng soi để những người đã từng đến Tắc Sậy biết sẻ chia mảnh cơm, manh áo cho những người xung quanh.

    Chúng tôi tìm gặp cha Trần Đức Hùng, hiện đang coi sóc họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài vắng nhà và cũng được biết ngài phải đi bệnh viện vì tắc ruột mới về. Chúng tôi tìm đến phòng xin lễ, tiếp chuyện chúng tôi là một nữ tu (xin được giấu tên), Sr. nói rằng hôm lễ giỗ cha Diệp khách hành hương đến rất đông, họ tham dự Lễ giỗ chật kín cả khuôn viên rất rộng của nhà thờ, chỗ trọ hiện hữu của họ đạo thì luôn quá tải, khách hành hương phải thuê bên ngoài. Sr. cho biết đa số những ý chỉ xin lễ thường là cầu bình an, xin chữa bệnh, cầu cho công ăn việc làm. Sr. cũng cho hay Nhà thờ sẽ được khánh thành vào năm sau nhân dịp Lễ giỗ cha Diệp, Sr. nói người dân ở đây rất nghèo, Cha Hùng cũng đã phát gạo, thực phẩm… trợ giúp người nghèo trong vùng và đa số tiền xây nhà thờ được quyên góp từ khách hành hương. Sr. nói rằng ngoài nhà thờ chính được xây mới, họ đạo còn xây thêm những khu dành cho khách hành hương trú ngụ họ đạo hiện nay luôn trong tình trạng quá tải. Đang trò chuyện với chúng tôi, thì có một đoàn 2 xe khách 50 chỗ ngồi đến từ La Ngà, Đồng Nai đến hỏi Sr. chỗ trọ, nhưng Sr. nói chỉ còn một phòng tập thể chỉ chừng 20 người nghỉ qua đêm và họ đành phải tìm thêm chỗ trọ bên ngoài. Cầu Chúa cho những người hành hương ở khắp mọi nơi khi chạy đến với Chúa thì không rơi vào cảnh nhọc nhằn.

    Thời gian ngắn ngủi tại Nhà thờ không kịp để chúng tôi tham dự Thánh Lễ chiều Thứ Bảy vì phải trở lại thị xã Bạc Liêu theo như đã hẹn để viếng thăm người bà con. Nhưng lại thêm một bất ngờ nữa là trên một bàn thờ của người bà con này (tôi chưa hề biết mặt qua) có ảnh thờ Cha Diệp và tượng Thánh Gia Thất tuy họ là người Lương. Con cầu xin Chúa cho một ngày nào đó họ được trở về với Chúa.

    Một chuyến đi ngắn ngủi, nhưng xúc động vì gặp bao bất ngờ nhất là đến nơi đây tôi càng cảm thấy thân phận mình yếu hèn khi đọc tiểu sử Cha Phanxicô và chính vì điều đó càng thúc giục tôi trở về với Chúa trên con đường đích thực, nhất là trong mùa Chay Thánh này.




    Nguyễn Hoàng Thương
    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=42458)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  18. Có 13 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  19. #4
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default

    Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp


    * Đức Kitô dạy: "Người mục tử tốt lành hiến mạng sống vì đàn chiên", Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đã thực hiện lời Đức Kitô trong cuộc sống. Ngài đã hiến mạng sống vì đàn chiên. Chúng ta có thể tóm tắt cuộc đời của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp là:

    Tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa
    Hy sinh kiếp sống giúp con người.



    Và:


    Sống hiến dâng phó thác
    Chết nêu gương sáng ngời


    để:


    Một đời dâng hiến
    Trọn kiếp vinh quang.

    Hàng năm, khi tiết xuân đương độ dâng cao, vào những ngày 11 và 12 tháng Ba dương lịch, là lúc hàng ngàn người không kể lương giáo, từ khắp nơi dắt dìu nhau, nô nức đến họ đạo Tắc Sậy, một họ đạo nhỏ bé thuộc Giáo Phận Cần Thơ, nằm trong địa bàn của Ấp 2 Xã Tân Phong, Huyện Giá Rai, Tỉnh Bạc Liêu, là nơi chôn cất hài cốt và di ảnh của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, để khấn xin, để trút những nỗi lo, gánh nặng vật chất, tinh thần để nhờ ngài chuyển lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đã chấp nhận, chúc phúc cho những khấn ước, nguyện xin.


    (Theo tài liệu của chính Lm Lê Ngọc Tỏ, cha sở họ Tắc Sậy hiện nay)

    LM Lê Ngọc Tỏ

    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=33082)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  20. Có 14 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  21. #3
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 62
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,837
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,693 lần trong 2,615 bài viết

    Default Chân dung Linh-Mục Việt Nam

    Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (897–1946)



    Một mẫu gương mục tử: Sống chết vì đoàn chiên



    Ai đã từng đến du lịch ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có lẽ sẽ không thể bỏ qua một điểm hành hương nổi tiếng: Tắc Sậy. Từ những năm của thập niên 1980 trở đi, hằng năm cứ vào ngày 11–12/3 dòng người lương giáo từ các nơi tuôn về Tắc Sậy, trên nhiều chiếc xe đò chở khách người ta còn có thể thấy hình một vi linh mục mặt vuông chữ điền rất dễ mến. Họ đến Tắc Sậy để làm gì vậy? Thưa để kỷ niệm lễ giỗ của một vị linh mục có tên là Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    Đôi dòng tiểu sử

    • Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 1-1-1897, được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 2-2-1897 tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Ðức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, Chợ Mới, Tỉnh An Giang.
    • Cha ngài là Micae Trương Văn Đặng (1860-1935), mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đình sinh sống tại họ đạo Cồn Phước.
    • Năm 1904, lúc ngài lên 7 tuổi thì mẹ mất. Theo cha, gia đình dời lên Battambang, Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyển thị Phước, sinh năm 1890, quê quán họ Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hoà, huyện Thanh Bình, tỉnh Ðồng Tháp.
    • Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền cho ngài vào Tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới An Giang. Mãn Tiểu chủng viện, ngài lên Ðại chủng viện Nam Vang, Campuchia (lúc đó các họ đạo khu vực Ðồng bằng sông Cửu Long trực thuộc giáo phận Phnom Penh, Campuchia).
    • Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang, thời Ðức cha GB. Chabalier. Lễ vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước.
    • Năm 1924-1927, được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia.
    • Năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng.

    Sống chết vì đoàn chiên


    Tháng 3 năm 1930, ngài về nhậm họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo vùng phụ cận như: Bà Ðốc, Cam Bô, An Hải, Ðầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Ðồng Gò, Rạch Rắn.

    Theo lời kể của ông Giacôbê Huỳnh Văn Lập 76t, ngày xưa là chú bé giúp lễ ở với cha (ông Ba Lập hiện vẫn còn sống ở tại Tắc Sậy) thì cha Diệp rất hiền nhưng khi giảng thì có lúc giọng cha rất hùng hồn mạnh mẽ, có lúc lại rất êm đềm. Cha cũng rất thương người nghèo: ông còn nhớ khi có những người nghèo đói bất kể lương giáo hay người lỡ đường cha đều kêu vào rồi mở lẫm lúa cho họ lấy lúa đem ra xay giã lấy gạo (vì lúc đó không có nhà máy xay lúa như bây giờ).

    Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương vì chiến tranh giữa Nhật và Pháp, dân chúng nhiều người di tản. Cha Bề trên điạ phận Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu kêu gọi ngài lánh mặt; người Pháp 3 lần đem xe đến rước, khuyên ngài tạm lánh khi nào tình hình yên ổn thì trở về họ đạo, nhưng ngài trả lời: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

    Ngày 12-3-1946, ngài bị Nhật bắt cùng với trên 70 người giáo dân tại họ Tắc Sậy, tất cả bị lùa đi và nhốt chung tại lẫm luá của ông giáo Sự ở Cây Dừa. Cũng theo lời kể của ông Ba Lập thì họ chất rơm chung quanh tính đốt tất cả, nhưng cha Diệp đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam. Cha khuyên giáo dân ăn năn tội và giải tội cho họ. Cha bị mời đi làm việc 3 lần và lần thứ ba thì không thấy trở về nữa. Sau khi cha bị mời đi lần thứ ba bổn đạo thấy cửa lẫm để mở ngỏ và họ đã trốn thoát.

    Sau đó vài ngày giáo dân đã tìm thấy xác ngài từ một cái ao của ông giáo Sự, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chuá Giêsu trên thập giá.

    Thi hài ngài được vớt lên và chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Ðến năm 1969, hài cốt ngài được di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nhiệm sở của ngài thi hành chức vụ chủ chăn trong 16 năm. Ngôi nhà mồ của ngài hiện nay, được trùng tu và khánh thành ngày 4-6-1989. Ngài là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

    Chứng nhân Đức Ái

    Lễ giỗ đầu đầu tiên do cha Antôn Vũ Xuân Vinh tổ chức năm 1979 với thành phần tham dự đến từ những họ đạo chung quanh (chỉ khoảng chừng 30 người). Nhưng dần dần số người nhận được ơn lành nhờ lời bầu cử của cha Diệp ngày càng nhiều và họ đổn thổi về sự hiển linh của ngài nên rất đông đảo người lương cũng như giáo trong nước và cả ngoài nước đều tuôn về Tắc Sậy để cầu khấn với ngài. Số khách hành hương trong ngày lễ giỗ ngày càng tăng, con số lên đến hàng chục ngàn người và không chỉ trong ngày lễ giỗ mà còn thường xuyên trong năm vẫn có những người đến hành hương.

    Vì thế kể từ 21-01-1997 Đức Giám mục Cần Thơ đã chính thức thành lập Trung tâm Truyền giáo Phanxicô tại Tắc Sậy. Từ nơi đây rất nhiều người đã nhận được những ơn lành phần xác cũng như phần hồn.


    Nếu ngày xưa ngài đã vì thương đoàn chiên mà sẵn sàng sống chết vì họ thì ngày nay ngài lại trở thành chứng nhân của Đức Ái qua biết bao nhiêu ơn lạ nhờ lời bầu cử của ngài cho tất cả những ai chạy đến với ngài.


    GP Cần Thơ
    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Html/68782.htm)

    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  22. Có 21 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  23. #2
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh Mục Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn
    nguyên Cha Chính Giáo phận Banmêthuột.



    Người giáo dân Vinh không ai là không biết đến địa danh xứ đạo Thọ Ninh. Đó là một xứ đạo truyền thống "lắm cụ nhiều quan". Nơi sản sinh nhiều nhân vật nổi tiếng đạo đời. Từ trước tới nay, Giáo xứ Thọ Ninh đã cung cấp cho Giáo Hội có đến 79 linh mục triều, dòng? Nhưng nỗi bật hơn cả, phải kể đến cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn. Ngài vừa là Linh mục gốc Giáo Phận Vinh, nhưng cũng là Linh mục của Giáo Phận Banmêthuột với các chức danh: Cha sở, Cha Quản hạt, Cha Tổng Đại diện nhà thờ Chính Tòa Giáo Phận Banmêthuột.
    Ngài sinh năm 1898 trong một gia đình Công Giáo đạo hạnh tại Giáo xứ Thọ Ninh, Đức thọ, Hà tĩnh. Thân phụ là một nhà nho làm nghề đông y nổi tiếng. Sau khi học 6 năm Tiểu Chủng Viện và giúp xứ 6 năm, Thầy Ngoạn được cử đi du học 6 năm tại Đại Chủng Viện Penang, Malacca, một Đại Chủng Viện Quốc tế dành cho các sinh viên miền Đông Á. Tốt nghiệp, Ngài trở về Việt Nam và chịu chức Linh mục dịp Lễ Noel 1932. Sau đó, Ngài lần lượt đảm nhận các chức vụ: Giáo sư Tiểu Chủng Viện (1933-1943); Giáo sư Đại Chủng Viện, rồi Giám đốc Đại Chủng Viện Xã Đoài (1943-1956).
    Biến cố chia đôi đất nước đưa Ngài lên Cao nguyên Banmêthuột cùng với một số giáo dân Vinh. Ngài nhập Giáo Phận Kontum và làm Cha sở Nhà thờ Giáo xứ Banmêthuột. Ngài xây nhà thờ với kiểu dáng giống Nhà thờ Sapa thuộc Giáo Phận Hưng Hóa. Nhà thờ này trở thành Nhà thờ Chính Tòa khi thành lập Giáo Phận Banmêthuột năm 1967.
    Năm 1969, cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn xin nghỉ hưu, vì tuổi già sức yếu. Ngài rút về nhà người cháu là Ông Trần Văn Cung, để nghỉ ngơi và chuyên lo nghiên cứu và đọc sách. Thỉnh thoảng Ngài được mời giảng tĩnh tâm, hay thuyết trình cho các Linh mục, các Dòng tu về Thần học và Tu đức.
    Ngài là một Linh mục thánh thiện, khiêm tốn. Tuy cao niên và là bậc Thầy của nhiều thế hệ Linh mục, Ngài vẫn xưng "con" với người đối diện. Ngài sống rất khó nghèo, đạm bạc… Đơn sơ trong y phục và sử dụng các phương tiện. Những dịp tĩnh tâm hạt, hoặc tĩnh tâm thường niên của các Linh mục Giáo Phận, Ngài thường lưu ý: Phải đọc Thần vụ thong thả để có thể nếm được cái ý vị ngọt ngào và phong phú của Thánh Vịnh. Ngài dâng Lễ sốt sắng, khoan thai. Các bài giảng của Ngài phải nói được là những bài giáo lý mẫu (Keryma) rất hấp dẫn, cụ thể, được minh họa bằng những câu chuyện sinh động, trí thức kinh nể, bình dân hiểu rõ. Các Giáo xứ đến phiên Chầu lượt, đều muốn mời cha già Ngoạn đến giảng về Bí tích Thánh Thể. Được nghe nói về sự thông thái của cha già Ngoạn, trong dịp đi kinh lý dinh điền Eatul (Quảng nhiêu) Tổng thống Ngô Đình Diệm bảo tùy viên mời cha giảng trong Thánh lễ. Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sau khi tiếp xúc với cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn, thấy được kiến thức uyên bác của Ngài, đã nói: "Banmêthuột có một cuốn từ điển bách khoa sống". Đức Cố Giám mục Paul Seitz(Đức Cha Kim) đã dùng cha Ngoạn làm cố vấn Thần học. Một Linh mục học trò của Ngài kể lại: Khi còn là Giáo sư Đại Chủng Viện Xã Đoài, Giáo Phận Vinh, mỗi dịp đi nghĩ hè, Ngài thường đưa một số đại Chủng sinh đi theo, đến một xứ nào đó, để trình bày về một vấn đề Thần học, hoặc Triết học. Cách trình bày rất bình dân, dễ hiểu, ai cũng có thể tiếp thu.
    Về sự nghiệp văn hóa: Cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn là một "học giả thầm lặng. Có thể gọi Ngài là Nhà Thần học uyên thâm của Giáo Hội Việt Nam".(lời Đức Cha Phêrô Trần Xuân Hạp) Bẩm sinh thông minh, hiếu học, say mê đọc sách. Thích nghiên cứu, sưu tầm đủ loại vấn đề, ghi chép thành "Fiches". Các học trò của Ngài đều được khuyến khích viết Fiches. Ngài có một bộ Fiches khổng lồ mà Ngài gọi là "Silva rerum". Nghĩa là: như một khu rừng tài liệu văn hóa. Rất tiếc là kho tàng quý báu này đã bị tiêu tán mất 2 lần, vào năm 1955(di cư vào Nam) và 1975 (thống nhất đất nước).
    Chính Ngài đã tâm sự thế này: Trong đời Linh mục của tôi đến nay(1975) đã trên 40 năm. Tôi thích đọc sách, nghiên cứu, sưu tầm, rồi làm ra những Répertoires, những feuilles volantes, notes… Có thứ Fiches theo hệ thống decimale có thứ Fiches à la file … Có khi viết ra thành tập như tập "Thế giới vô cùng lớn", "Thế giới vô cùng nhỏ", "Khoa học có thể tạo nên vật sống được không, theo phương diện tín lý"? "Đức tin và Tín ngưỡng", "Đức tin và luân lý", Đức tin và Tôn giáo", "Suy luận về định nghĩa Đức tin theo thần học cổ điển", "Thần học cổ điển và Thần học Thánh Kinh", "Cho được sống mầu nhiệm Đức tin"…
    Còn nhiều tập khác, Ngài không thể nhớ hết. Trong đời Ngài, có 2 lần mất mát mà Ngài cho là l?n nhất, vì là mất những cái mà Ngài cho là Quý Hóa nhất. Đó là mất những biên tập, những ghi chép nói trên. Mỗi lần mất như vậy, là mất hết những công trình sưu tầm trong 20 năm, từ khi làm Giáo sư Tiểu rồi Đại Chủng Viện (1935-1955). Biến cố đất nước chia đôi và cuộc di cư khiến Ngài không mang được gì.
    Tại miền Nam, Ngài lại khởi công sưu tầm, biên chép làm Fiches, ghi notes … và biên tập, như tập "những đặc điểm ngoại thường trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng", và tập viết bằng Pháp văn. "Essai d''une nouvelle exposition de la doctrine Eucharistique "… Những tập Ngài yêu quý nhất là tập "Cho được sống mầu nhiệm Phục Sinh" đang viết dở dang, dày 400 trang vở học sinh, chữ nhỏ. Đùng một cái, vừa đúng 20 năm sưu tầm, tức là ngày 10/03/1975, nhà Ngài bị đạn pháo bắn cháy thiêu hủy tất cả tài sản.
    Sau lần tổn thất to lớn này, Ngài không còn hy vọng tiếp tục công trình sưu tầm, nghiên cứu, vì một phần tuổi già, sức yếu, một phần không thể kiếm lại và mua sắm được những sách vở, tài liệu như trước. Thỉnh thoảng, - như một quán tính, - Ngài vẫn cố nhớ lại những gì Ngài đã viết, đã nghiên cứu. Sự hồi tưởng này giúp Ngài như được nếm những vị ngọt trên trời(Sapere coelestia). Sự cố gắng hồi tưởng và "bươi móc" ký ức, theo Ngài, không những giúp ích thiêng liêng, mà còn có thể thu thập được một số "mãnh vụn"(Fragmenta). Nếu không được "12 thúng" thì ít ra cùng được vài "nhúm tay". Như vậy, cũng không phải là uổng công dã tràng! (Colligite quae superaverunt fragmenta, ne pereant).
    Người ta càng khâm phục và ca ngợi trí thông minh sâu sắc của Cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn, khi biết rằng, tuy được hấp thụ một nền Thần học cổ điển, kinh viện, thời Trung cổ, thế nhưng, Ngài đã có một ngòi bút phân tích và tổng hợp rất hệ thống. Chúng ta hãy đọc những "Fragmenta" Ngài viết trong thời gian nghỉ hưu và bệnh tật :
    1. Đức Tin Phục Sinh.
    2. Những đặc điểm ngoại thường trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng.
    3. Thiên Chúa là Tình Yêu.
    4. Bí tích Thánh Thể theo trào lưu Thần học thời đại Vaticanô II.
    5. Thánh Thần ban sự sống.
    6. Nghệ thuật thuyết giảng của Linh mục.
    7. Thần học cổ điển và Thần học Thánh Kinh.
    8. Đức Tin Và Tín Ngưỡng.
    9. Thế giới vô cùng lớn.
    10. Thế giới vô cùng nhỏ.
    (Viết theo tài liệu do con cháu Cha G.B Trần Thanh Ngoạn cung cấp)
    Linh mục Antôn Vũ Thanh Lịch
    Uỷ Ban Văn Hoá Truyền Thông Giáo phận Banmêthuột


  24. #1
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Hôm nay lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khai mạc Năm Linh mục cho toàn Giáo Hội Công giáo. ĐTC đề cao tấm gương thánh thiện của Cha thánh Gioan Maria Vianney cho các linh mục noi theo và đã đặt thánh nhân làm bổn mạng của các linh mục. Đồng thời, ngài khuyến khích các Giáo Hội địa phương cũng nêu cao những tấm gương linh mục trong đất nước của mình. Theo đó, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định trong Năm Linh mục, mỗi giáo phận sẽ giới thiệu ít là hai mẫu gương linh mục và phổ biến rộng rãi cho mọi tín hữu được biết. Trong suốt Năm Linh mục, kể từ hôm nay, mỗi tuần WHĐ sẽ giới thiệu một chân dung linh mục Việt Nam. Và xin được bắt đầu với Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

    Đức Hồng y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN
    con người của Hoà bình, Niềm vui và Hy vọng



    Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được nhiều người biết đến như là con người của hoà bình, niềm vui và hy vọng bởi gương sống đức tin, cuộc đời mục tử với phong thái bình dị, lạc quan, xác tín và hy vọng của ngài trong mọi cảnh huống.
    Đức Hồng y sinh ngày 17-04-1928, tại Phủ Cam, Huế. Ông cố thân sinh là cụ Tađêô Nguyễn văn Ấm, Bà cố là Elizabeth Ngô thị Hiệp. Ngài là người con cả trong gia đình có 8 anh chị em. Sinh trưởng trong gia đình Công giáo có truyền thống đạo đức, tổ tiên từng bị bách hại vì đạo Chúa, lại được thân mẫu thường kể cho nghe hạnh các Thánh, nhất là các chân phúc Tử đạo Việt Nam, cậu bé Thuận sớm có ước muốn dâng mình cho Chúa.
    Gia đình cậu Thuận khá giả, thân phụ e ngại sức khoẻ kém của cậu không kham nổi cuộc sống kỷ cương chủng viện nên lúc đầu không đồng ý. Cậu phải nhờ thân mẫu can thiệp và được chấp thuận để tu học tại Tiểu Chủng viện An Ninh – Quảng Trị, sau đó học triết và thần học tại Đại chủng viện Kim Long – Huế.
    Ngày 11-06-1953 thầy Thuận lãnh chức linh mục tại Nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam, Huế, do Đức cha Jean Baptiste Urruthia Thi, Đại diện Tông Tòa Giáo phận Huế chủ phong. Ngài được bổ nhiệm làm cha phó xứ đạo Tam Tòa (Đồng Hới, Quảng Bình). Sau đó, làm cha phó xứ đạo Phanxicô Xaviê, ở Huế.
    Sau 3 năm mục vụ, cha Thuận được cử đi du học tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana, Roma – Italia. Trong thời gian theo học, ngài có dịp tiếp xúc với các phong trào Đạo binh Đức Mẹ, Hướng Đạo, Cursillo, Focolare và điều đó đã ảnh hưởng đến đường lối hoạt động mục vụ của ngài sau này. Năm 1959, ngài đậu bằng tiến sĩ Giáo luật với luận án "Tuyên úy Quân đội trên thế giới". Về nước, ngài dạy học tại Tiểu Chủng viện Phú Xuân, sau đó đổi tên là Tiểu Chủng viện Hoan Thiện – Huế. Là cha giám đốc nhưng ngài luôn hỏi han, tươi cười với các chú, thông cảm cho sai sót tuổi trẻ. Không thấy ngài to tiếng hay quở mắng ai bao giờ, đến nỗi cha quản lý thốt lên "Cha bề trên hiền quá, chẳng có chú nào sợ…" Thật ra, ngài chủ trương giáo dục đặt nền tảng trên yêu thương và gương sáng chứ không phải lề luật và trừng phạt. Ngài làm Tổng đại diện Tổng giáo phận Huế từ năm 1964 – 1967.
    Ngày 13-04-1967, cha Thuận được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Nha Trang, kế vị Đức Cha Marcel Piquet Lợi (1888-1966). Ngài chọn khẩu hiệu "Vui mừng và Hy vọng" (Gaudium et Spes) là tên Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II. Phương châm và huy hiệu giám mục của ngài không chỉ nói lên niềm tin yêu, hy vọng của ngài đối với Mẹ Giáo Hội mà còn cho thấy tâm hồn thanh thoát, tươi trẻ, hoà bình, vị tha và hướng thượng, đã được diễn tả trong suốt cuộc đời sứ vụ mục tử của ngài. Ngày 24-06-1967, Ngài được tấn phong Giám mục tại Huế do Đức Khâm sứ Tòa thánh Angelo Palmas chủ phong và về nhậm chức ở Giáo phận Nha Trang ngày 10-07-1967.
    Tám năm trong cương vị chủ chăn giáo phận Nha Trang và một số chức vụ khác trong Hội đồng Giám mục Việt Nam , cũng như thành viên của Hội đồng Giáo hoàng về Giáo dân, tâm hồn mục tử của ngài trải rộng trên mọi thành phần dân Chúa. Ngài quan tâm đặc biệt đến việc phát triển nhân sự, đặt nền tảng hy vọng cho giáo phận nhà và Giáo hội địa phương. Ngài quan tâm mở mang hoặc thành lập các chủng viện, dòng tu, tu hội; tổ chức tu nghiệp và huấn luyện cho hàng giáo sĩ, giáo dân; đẩy mạnh các phong trào, hội đoàn Thanh lao công, Công lý - Hoà bình, Hướng đạo, Cursillo, Focolare… Các thư mục vụ của ngài đầy ắp tâm tình tạ ơn, hy vọng và tín thác nơi Chúa, cũng như thúc đẩy đời sống đức tin cho đoàn chiên giáo phận: "Tỉnh thức và cầu nguyện" (1968); "Vững mạnh trong đức tin, tiến lên trong an bình" (1969); "Công lý và hòa bình" ( 1970); "Sứ mạng của Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta" (1971); "Kỷ niệm 300 năm" (1971); "Năm thánh canh tân và hòa giải" (1973). Dù bề bộn công việc, ngài vẫn luôn vui vẻ, lạc quan, khôn ngoan và khéo léo an ủi, nâng đỡ những người đang gặp phiền muộn đến với ngài.
    Ngày 24-04-1975, ĐGH Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Phó Tổng giáo phận Sài Gòn, hiệu toà Vadesi. Tuy nhiên, thể chế chính trị Việt Nam thay đổi (30-04-1975) và cuộc đời mục tử của ngài cũng sang trang, một trang bi hùng như Người Tôi Tớ của Chúa: tín trung, hoà bình và hoá giải màn đen của ngục tù thành ánh sáng của tha thứ, yêu thương và hy vọng.
    Ngày 15-08-1975, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngài được chính quyền mới mời và bắt giữ tại Dinh Độc Lập, bị giam cầm nhiều nơi từ Nam chí Bắc của đất nước và được trả tự do ngày 21-11-1988, nhằm ngày lễ Đức Mẹ Dâng Mình trong Đền Thờ. Thời gian 13 năm lao tù, trong đó có 9 năm biệt giam, ngài đã viết lại đường hướng tu đức và kinh nghiệm sống đức tin qua các tập sách: Đường Hy Vọng, Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II, Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng như là di chúc tinh thần của Ngài.
    Quản tù ngạc nhiên về sự bao dung của ngài, ngài trả lời: "Cho dù các anh giết tôi, tôi vẫn yêu thương các anh. Tại vì Chúa Kitô đã dạy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, cả những kẻ thù. Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô hữu".
    Trong tù, có những lúc, mỗi ngày, ngài cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay. Đó là Bàn thờ của ngài, là Nhà thờ Chính Toà của ngài. Ngài kể lại: "Mỗi lần như thế, tôi được dịp giang tay ra và chịu đóng đinh bản thân trên Thánh Giá với Chúa Giêsu, được uống chén đắng với Chúa. Mỗi ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết lòng củng cố một giao ước mới, giao ước đời đời giữa tôi với Chúa Giêsu, nhờ Máu của Chúa hoà lẫn với máu của tôi".
    Trong lần thứ hai sang Rôma viếng thăm và chữa bệnh năm 1991, Đức cha Phanxicô Xaviê bị ngăn trở, không thể trở về quê hương; nhưng Thánh ý Chúa nhiệm mầu đã dọn con đường mới cho người Tôi Tớ tín trung của Chúa.
    Ngày 09-04-1994, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha làm Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lý và Hoà Bình và ngày 24-06-1998, ngài được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 21-02-2001, ngài được vinh thăng Hồng y. Trước và sau khi nhận chức vụ của giáo triều Rôma, ngài đã liên tục đi đến các cộng đoàn của nhiều nước trên thế giới, các đại học, các cơ quan quốc tế để giảng tĩnh tâm, giúp đào tạo và xây dựng cộng đoàn mới. Ngài luôn khơi lên lòng tôn sùng Đức Mẹ, Thánh Giuse và nhất là yêu mến Bí tích Thánh Thể, tâm tình cầu nguyện và sống giây phút hiện tại trong tinh thần phó thác. Đến đâu, ngài cũng chiếu tỏa sự an bình, bao dung, tha thứ, niềm vui và hy vọng.
    Đặc biệt, mùa xuân Năm Thánh 2000, ngài được mời giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo triều Rôma khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói với ngài: "Năm đầu tiên của ngàn năm thứ III, một người Việt Nam sẽ giảng tĩnh tâm cho Giáo triều Rôma. Hãy kể lại cho chúng tôi những chứng tá của Đức cha".
    Ngài còn là tác giả của những đầu sách được ưa chuộng, chứa đầy sứ điệp của tình thương, công lý và hoà bình, xây dựng và hy vọng: Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, Cầu Nguyện, Hãy Trao Tặng Tuổi Trẻ Nụ Cười, Niềm Vui Sống Đạo, Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang, Chứng Nhân Hy Vọng.
    Ngài vẫn thanh thản, vui tươi cả trong thời gian điều trị lâu dài và đau đớn tại bệnh viện. Trong những ngày cuối đời, khi không còn nói được nữa, ngài nằm đó, mắt nhìn chăm chăm vào Thánh Giá Chúa chịu đóng đinh trước mặt. Ngài cầu nguyện trong thinh lặng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trên Thánh Giá và chuẩn bị giây phút quyết liệt ra đi gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh.
    Ngài được Chúa gọi về chiều ngày 16-09-2002 tại Rôma. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói trong bài giảng Thánh lễ an táng ngài: "Trong lúc chào vĩnh biệt người sứ giả anh hùng của Tin Mừng Chúa Kitô, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta, nơi con người của Đức Hồng y, một tấm gương sáng ngời về đời sống tín hữu Kitô, phù hợp với đức tin, cho đến độ tử đạo".
    Về phần mình, Đức Hồng y từng nói đơn sơ: "Trong vực thẳm những đau khổ của tôi, tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi".
    GP Nha Trang
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-07-2009 lúc 09:17 AM


  25. #1
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Kiều
    (1903-1971)


    1903: Sinh tại xứ Quan Lãng, giáo phận Vinh, thuộc tỉnh Nghệ An
    1916: Vào tiểu chủng viện Xã Đoài, giáo phận Vinh
    1924: Thầy giảng giúp xứ Đồng Tháp, Thành Trài và Thanh Bích
    1930: Học trường lý đoán (đại chủng viện) Xã Đoài
    21/12/1935: Thụ phong linh mục tại Xã Đoài
    1936: Phó xứ Thọ Hoàng, giáo phận Vinh
    1937: Chánh xứ Yên Phúc, giáo phận Vinh
    1941: Chánh xứ Bột Đà, giáo phận Vinh
    1942: Chánh xứ Làng Truông, giáo phận Vinh
    1952: Quản hạt Ngàn Sâu, giáo phận Vinh
    1955: Di cư vào miền Nam
    1955: Chánh xứ Vinh Hà, Bình Giã, nay thuộc giáo phận Bà Rịa
    1955-1971: Chánh Xứ Vinh Hà – Bình Giã
    28/4/1971: Qua đời tại bệnh viện Sùng Chính, Sài Gòn
    02/5/1971: An táng tại khuôn viên thánh đường xứ Vinh Hà, Bình Giã, nay thuộc giáo phận Bà Rịa.

    Trong Năm Linh mục, Hội đồng Giám mục Việt Nam gợi ý cho chúng ta đi tìm những mẫu gương sống cho đời linh mục, không phải từ những vị thánh chói ngời nhân đức, nhưng từ những mục tử giản đơn, bình dị, đã từng hiện diện giữa đoàn chiên nơi các giáo phận. Nhìn vào cách sống của những người đi trước, chúng ta không đòi hỏi một mẫu hình tuyệt hảo trong mọi lãnh vực, nhưng chỉ mong bắt gặp những đường nét khắc họa lại khuôn mặt của Vị Mục Tử nhân lành, những điển hình minh họa cho nếp sống của đời tận hiến vì Nước Trời.

    Từ cuộc đời cha Phêrô Nguyễn Văn Kiều, một trong những vị tiền bối của linh mục đoàn giáo phận Bà Rịa, chúng ta xin được ngắm nhìn mẫu gương của người môn đệ thân tín đồng thời cũng là một mục tử đầy yêu thương.

    “Ở lại trong tình yêu của Thầy”

    Hình ảnh cha xứ lặng lẽ cầu nguyện trong nhà thờ ngoài những giờ phụng vụ hằng ngày, đã là một ấn tượng khó phai nơi những người ở bên cạnh cha Phêrô. Khi kể về nếp sống thường ngày của cha, người dân Vinh Hà luôn phải sử dụng điệp khúc “cha lại ra nhà thờ…” Những giờ kinh Nhật tụng, những tràng kinh Mân côi kính Đức Mẹ, những giây phút cầu nguyện riêng, và cả đến việc đọc sách thiêng liêng, cha đều thực hiện trước Thánh Thể. Ngôi Nhà Chầu đã như là điểm hẹn thân quen, nơi mà cả sáng trưa chiều, mỗi khi có được thời gian, cha lại tìm đến. Nếu nhà xứ là nơi cha tiêu hao chính bản thân mình khi phục vụ đoàn chiên, thì nhà thờ là nơi cha tìm lại sức mạnh thiêng liêng từ Thánh Tâm của Đấng Mục Tử nhân lành. Chắc hẳn lòng yêu mến Thánh Thể đã làm nền cho các nhân đức cũng như nếp sống thanh tịnh, vâng phục và khó nghèo rất nổi bật nơi cha Phêrô. Đó còn là động lực cho các thực hành đạo đức cá nhân như hy sinh hãm mình, kể cả ăn chay đánh tội, cùng với thái độ cung kính và sốt sắng khi chầu Thánh Thể, nhất là khi cử hành Thánh lễ, đến độ cha đã nhiều lần bật khóc khi đọc lời Truyền phép.

    Lòng mến Chúa của cha Phêrô còn như được củng cố nhờ vào tâm tình yêu kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Với tràng chuỗi luôn mang trong người, cha thầm thĩ những lời kinh Mân côi gần như liên lỉ suốt ngày để dâng kính Mẹ.

    Nếu những tâm tình và cách thể hiện lòng đạo đức chỉ là cá biệt của riêng cha Phêrô, thì lòng yêu mến Thánh Thể của người đi trước vẫn có thể trở thành mẫu gương cho chúng ta hôm nay. Chắc chắn ai cũng thâm tín về sức mạnh của tình yêu Thánh Thể, ai cũng muốn đáp trả tiếng gọi của tình yêu Thánh Tâm, nhưng việc thường xuyên đến cầu nguyện trước Nhà Chầu ngoài những giờ phụng vụ phải chăng đã không còn là thực hành, có khi cả không là ý định, nơi nhiều linh mục của thế hệ chúng ta? Việc viếng Thánh Thể phải chăng đã lâu lắm rồi, thậm chí là chưa bao giờ, được đặt vào trong thời khóa biểu hằng ngày? Không vào nhà thờ sớm, dù chỉ năm mười phút trước giờ dâng lễ, rời phòng áo ngay khi vừa thay xong lễ phục. Thời gian có mặt tại nhà thờ chỉ vỏn vẹn vừa đủ cho việc cử hành các bí tích, phải chăng đã đủ để thể hiện lòng yêu mến?

    Nhìn vào gương cha Phêrô, chúng ta chỉ mong có thêm những giây phút cầu nguyện trước Thánh Thể, tạo lại những gặp gỡ thân tình, dù biết rằng đây chỉ là một thể hiện bên ngoài, để có thể cảm nghiệm được tâm tình của người môn đệ muốn “ở lại trong tình yêu của Thầy”, để cầu nguyện cho mình và cho đoàn chiên, đồng thời để kín múc nguồn sức cho đời tông đồ.

    “Như Thầy yêu thương”

    Nếu phải kể về cha Phêrô, những giáo dân trong các xứ mà cha đã coi sóc sẽ nhắc ngay đến cách cha yêu thương mọi người. Cuộc đời cha qua đi, nhưng vẫn còn lưu lại mãi những ký ức về một cha xứ hiền lành, ân cần, tận tụy và nhiệt thành chăm sóc đoàn chiên. Cha tận tâm phục vụ những người chung quanh cả phần hồn lẫn phần xác.

    Đối với mọi người, lòng yêu thương được thể hiện ngay trong cách cha vui vẻ tiếp đón những ai đến xin cha giúp đỡ, dù là để xin thuốc chữa bệnh hay để xin xưng tội, xức dầu bệnh nhân. Cha tìm đủ cách để giúp đỡ những người túng nghèo hoặc đau bệnh, từ việc phát thuốc miễn phí, đến việc đích thân băng rửa vết thương ghẻ lở, từ việc gửi tiền hoặc quà bánh, đến việc đi tới tận nhà thăm viếng, ủi an. Cha chân thành thương mến mọi người, không phân biệt lương giáo, già trẻ, giàu nghèo. Ngay cả sau khi cha đã qua đời, cho đến hôm nay, hằng ngày vẫn có nhiều người tìm đến cha, với ước mong gặp được niềm an ủi, hoặc xin cha bầu cử cho trước Nhan Chúa, ngày giỗ cha hằng năm (28/4), nhiều người đến thánh đường xứ Vinh Hà tham dự thánh lễ và viếng mộ phần của cha để tỏ lòng yêu mến và tri ân.

    Đối với đoàn chiên xứ đạo, tấm lòng mục tử của cha Phêrô Nguyễn Văn Kiếu đã biến cha nên người phục vụ không biết mệt mỏi. Có thể nói, cha không còn nghĩ đến bản thân khi phải lo cho các linh hồn. Đặc biệt trong việc trao ban bí tích hoà giải, cha Phêrô không hề giới hạn giờ giấc, thậm chí có lần cha đang dùng bữa, có người đến xin xưng tội, cha lập tức bỏ ngang bữa cơm, mặc áo dòng đi ra nhà thờ giải tội, sau đó mới trở vào ăn tiếp. Vào các dịp lễ trọng, bởi thương giáo dân hơn cả bản thân, cha dành lấy phần mệt về mình để nhiều người đỡ mệt, nên cha sẵn sàng đạp xe đến tận các nhà nguyện giáo họ để giải tội. Theo cha, “giải tội cho kẻ có tội là nhiệm vụ hàng đầu của linh mục. Cần đem tình thương cho họ đi tìm Chúa để được bình an trong tâm hồn, nên mình phải hy sinh giấc ngủ, giờ ăn hoặc các công việc phần xác khác”.

    Dĩ nhiên, cách hành xử của cha Phêrô có thể phần nào quá đặc biệt, nếu không nói là quá đáng, nhưng chính sự “quá đáng” này của đức ái mục tử lại trở nên lời chất vấn cho chúng ta bây giờ. Nếu những mục tử như lòng Chúa mong muốn, hôm qua cũng như hôm nay, không chỉ dẫn chiên đi bằng đôi tay và khối óc, mà còn phải bằng cả trái tim của mình, thì có đúng chăng khi chúng ta đặt giới hạn cho đức ái, và sợ những “quá đáng” của tình yêu ? Có đúng chăng khi chúng ta đặt ưu tiên cho thời giờ và sức khoẻ bản thân, chỉ làm việc trong những giờ “hành chánh”, để rồi chưa dám như Chúa “yêu thương những kẻ thuộc về mình, và yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1)?

    Đi tìm một mẫu gương, có lẽ chúng ta không muốn chỉ thấy được trong đó bóng hình của người đã đi trước, nhưng đúng hơn, chúng ta muốn nhận ra chính mình trong hiện tại. Một thoáng nhìn vào cuộc đời cha Phêrô, thật ra chỉ là để có cơ hội nhìn kỹ hơn vào chính mình, và cuối cùng, dù có nhìn vào ai, mắt chúng ta chắc chắn sẽ không bao giờ rời khỏi Đức Kitô Mục Tử, mẫu hình tuyệt hảo và ngàn đời sống động cho những kẻ Người đã gọi làm môn đệ và đã chọn làm tông đồ.
    GP Bà Rịa
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-07-2009 lúc 09:18 AM


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 2/2 đầuđầu 12

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com