+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 1/2 12 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 40 trên 54

Chủ đề: Chân dung linh mục Việt Nam

  1. #54
    mayxanh1234's Avatar

    Tham gia ngày: Nov 2010
    Giới tính: Nữ
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 594
    Cám ơn
    1,530
    Được cám ơn 1,870 lần trong 544 bài viết

    Default

    Các linh mục/giám mục được đăng ở đề tài này, toàn là các bậc quá cố, đã qua đời ... nhưng có một linh mục, nay đã là giám mục mà mình rất mến mộ. Đó là Đức Cha Phụ Tá Nguyễn Khảm của Giáo Phận Sài gòn ... Mình mến mộ Đức Cha, không phải vì ngài giảng hay mà chính vì đời sống đức tin rất sâu sắc của bản thân ngài ... Nhưng chả hiểu sao lúc này Đức Cha bị thiên hạ phản đối om sòm, thậm chí bằng những lời lẽ rất khó nghe ... Đúng là làm dâu trăm họ ...

  2. Được cám ơn bởi:


  3. #53
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse Maria
    NGUYỄN VĂN THÍCH
    (1891–197
    8)


    Hai cụ thân sinh
    Cậu ấm Nguyễn Văn Thích chào đời ngày 22-9-1891, tại Phủ lỵ An Nhơn, tỉnh Bình Định, là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, người làng Niêm Phò cũng là làng Kẻ Lừ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
    Cụ Nguyễn Văn Mại (1858–1945) đỗ thủ khoa thi Hương, rồi phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri phủ An Nhơn (Bình Định), làm quan đến chức Thượng thư. Cụ Thượng Mại đã từng làm Chánh chủ khảo các khóa thi Hương, thi Hội và Quản giáo môn Hán tự tại trường Quốc Học. Cụ đã tháp tùng vua Khải Định qua Pháp với tư cách là một danh sĩ của Triều đình. Trước khi về hưu, Cụ được thăng tước Hiệp Tá Đại học sĩ.
    Cụ bà là Thân Thị Vỹ (1862–1946), họ Thân Trọng, ở làng Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, một dòng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như Cụ Thân Trọng Huề, Thượng thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.
    Trường Dòng Pellerin
    Trường Pellerin gọi là “Trường Dòng”, ở Huế, do các sư huynh Lasan ( Saint Jean Baptiste de La Salle) điều khiển và giảng dạy.
    Trường này được thành lập năm 1904 và cậu học sinh Nguyễn Văn Thích thuộc thế hệ đầu tiên được các sư huynh truyền dạy kiến thức cả đời lẫn đạo. Nơi đây cậu ấm được học hỏi, trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về giáo lý Kitô giáo.
    Tháng 2-1911, với bằng cao đẳng Tiểu học và một năm sư phạm, thầy Thích được bổ làm trợ giáo tại tỉnh Khánh Hòa.
    Bốn tháng sau, ngày 29 tháng 6 năm 1911, tại nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang, cha Charles Eugène Saulcoy, tên Việt là Cố Ngoan, đã ban phép Thánh Tẩy cho thầy giáo Thích với tên thánh là Giuse Maria.
    Được tin sét đánh này, cụ Thượng thư Bộ Lễ, vốn thâm nho, không cầm nổi tức giận, dùng roi gậy đánh nhừ tử “đứa con bất hiếu”. Mấy chục năm về sau, nhân ngày mừng lễ thất tuần “Anh Thích”, bà em gái là Thiếu Hải thuật lại:
    Trong nhà dùi, gậy, ba toong,
    Rút ra đánh hết, chẳng còn cái mô!
    Chị em, ai nấy sững sờ,
    Lính tráng, vú bõ, không ai rờ đến cơm…
    Thụ phong linh mục
    Khi cơn “gia biến” dịu dần với thời gian, Cụ Thượng thân phụ nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức cha Allys (Cố Lý) đến nhà, xin Đức cha can thiệp làm mai mối với con gái Cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con mình yên bề gia thất, không còn gây thêm tai biến nữa. Nào ngờ đâu, khi được “hung tin” nầy, người môn đệ của Chúa Giêsu quyết định từ giã gia đình quý tộc…
    Một đêm thanh vắng tháng 9-1917, thầy giáo Giuse Maria Nguyễn Văn Thích cải trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi, trực chỉ đến Tiểu chủng viện An Ninh tại Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị. Một trường hợp chưa từng có: muốn được nhận vào Tiểu chủng viện thường là 12 đến 14 tuổi, nhưng thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây? May mắn là Đức cha Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo nầy, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh.
    Sau 2 năm tu tập vừa làm trò vừa làm thầy nơi đây, thầy giáo “tiểu chủng sinh” được gửi vào Đại chủng viện Phú Xuân, Huế, và 6 năm sau được thụ phong linh mục ngày 18-12-1926.
    Một nhà giáo xuất chúng
    Linh mục Nguyễn Văn Thích là một nhà giáo từ khi còn tuổi đôi mươi cho đến lúc ngoài 80. Ngài đã dạy tiểu học ở Khánh Hòa, rồi Huế (1911–1917), Dòng Thánh Tâm Huế (1927–1933), trường Providence Huế (1933–1937), Tiểu chủng viện An Ninh Quảng Trị (1937-1942), Tuyên úy trường Pellerin lần I và giáo sư Trung Học Khải Định (nay là Quốc Học) (1942–1946). 30-4-1946: quản xứ Kim Long, Huế. giáo sư Quốc Học và các trường tư thục Công Giáo Huế (1950–1958).
    Từ 1958, cha dạy Đại Học Đà Lạt, Huế, Saigon. 1959–1970: Tuyên úy trường Pellerin lần II. Từ năm 1959, cha dạy Hán văn và Triết Đông tại Viện Hán Học Huế. Năm 1963, cha mở một nhà trẻ ở Việt Nam (có lẽ là nhà trẻ đầu tiên ở đây), với tên gọi là Hương Linh, trong khuôn viên trường Bình Linh (Pellerin). Ngoài ra, cha cũng rất quan tâm đến việc giáo dục thanh thiếu nữ.
    Một nhà thơ, một nhà báo lỗi lạc
    Linh mục Nguyễn Văn Thích đã sáng tác thi ca, được sưu tập trong “Sảng Đình Thi tập”, gồm 153 bài thơ Việt văn, Hán văn và Pháp văn. Thơ của cha rất đa dạng, từ những câu vè 4 chữ, những câu thơ lục bát, tứ tuyệt và thơ Đường, đến những bài Thánh ca, Thánh thi ca tụng Đức Mẹ. Biệt hiệu Sảng Đình của cha. Sảng: là sáng, đẹp. Đình: đền thờ. Sảng Đình: có thể hiểu là ánh sáng đẹp của Nhà Thờ.
    Cha còn là sáng lập viên tuần báo “Vì Chúa”, xuất bản từ 1936, với tam ngữ Việt-Hán-Pháp, với nhiều cộng tác viên như cụ Ưng Trình, cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn… Ngoài ra, cha còn cộng tác với báo “Nguồn Sống”, tạp chí Đại Học Huế, hay “Cổ Học Quí San”…
    Họa sĩ và nhạc sĩ thời danh
    Cha Thích có biệt tài về cổ họa. Một vài bức họa trong báo Vì Chúa, được in lại trong Sảng Đình Thi Tập, như bức “Thác Lớn Bạch Mã” rất tinh vi điêu luyện, bức tự họa “Trầm ngâm chiếc bóng dựa bên tường”, các bức “Đức Từ Mẫu” (Mater Misericordiae: Tòa Tổng Giám Mục Huế hiện còn trưng bày bức họa này), “Chân dung Thánh Gioan Vi-a-nê”, “Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu”...
    Về âm nhạc, cha Thích sử dụng thành thạo các nhạc khí dân tộc như đàn nhị, đàn cò, đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tì bà… kể cả các nhạc cụ Tây phương.
    Về thánh ca, bài “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” (Magnificat) hiện vẫn còn được dùng hát trong phụng vụ; bài “Lạy Đức Mẹ La Vang” không mấy ai không biết; ...
    Linh mục tuyên úy Hướng đạo sinh
    Từ 1941, cha sinh hoạt với Hướng đạo ở Huế, đến năm 1949, Bản quyền giáo phận Huế bổ nhiệm ngài làm Tuyên úy Hướng đạo Công Giáo Huế. Vào giữa năm 1953, ngài làm Tổng Tuyên úy Hướng đạo Toàn quốc. Ngài đã đóng vai trò tích cực và uyển chuyển giữa nhiều khuynh hướng khác nhau của các Huynh trưởng và Tuyên úy ba miền Trung, Nam, Bắc.
    Một tâm hồn nghèo khó và yêu thương
    Cha Thích làm giáo sư lâu năm, dạy đại học nhiều nơi, với lương bổng rất cao, nhưng ngài không giữ lại chút gì cho mình. Khi nhắm mắt lìa đời, ngài chỉ có vài bộ áo đã sờn cũ.
    Viện Dục Anh nuôi trẻ mồ côi ở Huế luôn được cha quan tâm và trao nhiều tiền bạc cho các nữ tu phụ trách. Cha còn là Tuyên úy Pellerin và Viện Bài Lao. Cha thường đến bệnh viện dâng Thánh lễ, luôn đem tiền và quà đến cho bệnh nhân.

    Bao nhiêu năm làm giáo sư, cha vẫn đi một chiếc xe đạp duy nhất. Một hôm, cha đạp xe đạp nhà xứ Kim Long đến dạy học tại Đại chủng viện Kim Long, tình cờ bắt gặp một người đàn ông áo quần xơ xác đang chặt trộm buồng chuối của chủng viện. Thấy cha, ông ấy hoảng hốt toan bỏ chạy. Cha ôn tồn gọi người đó lại, móc túi đưa thêm ít tiền rồi nói: “Bác có muốn ăn chuối non nầy thì phải thêm cái gì để nấu ăn chứ. Bác cầm lấy chút tiền nầy mua tôm tép gì thêm vào cho đủ vị”. Vừa nói, cha vừa đưa tiền rồi đi vào dạy học.
    Một chuyện xảy ra làm rúng động thành phố Huế: Năm 1950, một bác sĩ tổ chức hội chợ từ thiện, với sự cộng tác của cha Thích. Giữa mấy gian hàng bày trò chơi lại có một sòng bạc thu hút nhiều khách. Cha Thích phản đối: “Cờ bạc không thể đi đôi với việc từ thiện”. Trưởng ban tổ chức không chịu nghe, cha Thích liền lấy micro khuyến cáo dẹp sòng bạc đó. Bác sĩ tổ chức giật micro trong tay cha. Trong lúc giằng co, bác sĩ tát vào má cha. Hồn nhiên và khiêm tốn, cha liền đưa má kia và nói: “Còn má này nữa, xin ngài hãy đánh cho đỡ giận”. Mọi người vây quanh đều sửng sốt ngỡ ngàng. Có người đã thốt lên: “Phải là một đấng thánh mới làm được như vậy!” Cuối cùng, ông trưởng ban tổ chức đã cúi đầu xin lỗi cha.
    Tất cả vì Chúa
    “Vì Chúa” không phải chỉ là tên tuần báo nổi danh ở cố đô Huế do cha sáng lập, mà chính là châm ngôn cuộc sống của cha, với tôn chỉ:
    Suy tư vì Chúa,
    Ngôn luận vì Chúa,
    Hành động vì Chúa.
    Vì Chúa, ta gắng công,
    Ta thẳng lên vì Chúa! (Số 1, ngày 18-9-1936).
    Ra đi êm ái
    Ngày 10-12-1978, linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích với tuổi hạc 87, giã từ trần thế để về cõi trường sinh, về với Thiên Chúa, Đấng mà cha đã hiến thân phục vụ đến trọn đời.
    Giáo Hội Việt Nam, Giáo phận Huế đã dâng lên Thiên Chúa một người con chí hiếu, một linh mục gương mẫu, một nhân tài sáng giá, một hiền nhân hiếm có.

    TGP Huế
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 10-06-2010 lúc 03:46 PM

  4. Được cám ơn bởi:


  5. #52
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn (1922–1975)



    Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn sinh năm 1922, tại làng La Phù, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thủ đô Hà Nội), thuộc giáo phận Hà Nội, vào Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và thụ phong linh mục năm 29 tuổi, tức vào năm 1951. Vì vào thời điểm này, Dòng đang có chương trình “Việt Nam hóa” đội ngũ giảng dạy tại Học Viện của Dòng, nên ngay sau khi được thụ phong linh mục, năm 1952, cha Nguyễn Thế Thuấn được cử đi du học tại Roma, kế đó, sang học tại trường Thánh Kinh Giêrusalem trong vòng 4 năm (1952–1956). Về nước, cha được cử dạy môn Thánh Kinh tại Học viện của Dòng ở Đà Lạt. Cuộc đời của cha từ nay như bị chôn chặt trong tòa nhà được xây bằng đá trên một trong những quả đồi cao nhất của Đà Lạt, trên đường từ thành phố đi Suối Vàng, bị gắn liền với công việc giảng dạy Thánh Kinh bề trên giao phó và với việc dịch Thánh Kinh cha đã đề ra cho mình.

    Cha giáo Thánh Kinh
    Những năm ngay sau khi đi du học về, xem ra cha chưa thích nghi được với “xã hội” xung quanh, suốt ngày chôn mình trong phòng với sách vở, thường gắt gỏng, khó chịu với những ai tới xin trao đổi với cha về bài vở như sợ người ta đánh cắp mất thời giờ quý báu của mình. Xem ra Chúa cũng đã không dành cho cha nhiều ưu đãi lắm về mặt “ngoại hình”: một chiều cao dưới mức trung bình của một người Việt Nam bình thường, một cái giọng the thé nhiều khi làm chói tai người nghe. Nhưng không ít người có dịp nghe cha giảng lễ hay giảng bài đã phải thừa nhận rằng cha có một sức hấp dẫn đặc biệt: đằng sau hay xuyên qua cái “chói tai” của giọng nói và của ngôn ngữ sử dụng ấy lại là sự lay tỉnh “lật ngược lòng trí” của Lời Chúa, sức thôi thúc của “Bài giảng trên núi”, quyền năng không gì cưỡng lại nổi của Thiên Chúa từ lòng dạ “son sẻ”, sức sống mới từ cái chết trên thập giá… một số trong những chủ đề ưa thích của cha và gây ấn tượng trên người nghe thời ấy.
    Thời ấy vốn là thời của Công Đồng chung Vatican II đang được tiến hành. Bầu khí Học viện, và của Giáo hội Việt Nam nói chung được hâm nóng với những phong trào “canh tân phụng vụ”, “trở về nguồn” và nhất là phong trào “Thánh Kinh”. Thế là cha giáo Thánh Kinh gặp thời: mỗi ngày mỗi có thêm nhà dòng, tu viện, giáo xứ đến mời cha tới giảng dạy Thánh Kinh. Tại Học viện của dòng, môn Thánh Kinh, từ niên khóa 1961–1962, được giảng dạy ngay từ Triết I, và do chính cha phụ trách. Cha buộc phải ra khỏi phòng, khỏi nhà dòng nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày hơn, và do đó cũng có dịp tiếp xúc với nhiều người, trực tiếp đụng chạm tới nhiều vấn đề cụ thể của Giáo hội và cuộc xã hội. Cái tính khí “khó khăn” biến mất lúc nào không hay. Cha trở thành con người dễ tiếp cận. Có thể là qua thực tế, cha đã nghiệm ra được rằng thời giờ Chúa ban không phải dành cho riêng cho mình mà còn để chia sẻ cho người khác nữa.

    Tác giả của bản dịch Thánh Kinh
    Cha cũng đã từng giữ chức Giám học Học viện và bề trên nhà dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt. Nhưng ai cũng thấy, những chức tước này chẳng thay đổi gì nhiều trong cung cách sống, trong cách xử sự, hay trong trật tự ưu tiên của công việc: vẫn là một cha giáo Thánh Kinh say sưa với sách vở, với lớp học và nhất là với việc dịch Thánh Kinh. Cha đã bắt đầu với Thánh Kinh Tân Ước. Bản dịch Tân Ước của cha đã được xuất bản, sau đó, được sửa chữa và được tái bản, vào những năm 1960. Song song với việc chỉnh sửa bản Tân Ước, cha cũng đã bắt đầu dịch bộ Thánh Kinh Cựu Ước, nhưng tiếc thay, đã không có đủ thời gian để hoàn tất. Chỉ còn cách đích mấy bước thì cha đã vội ra đi. Cha tử nạn ngày 28-3-1975 tại Di Linh, tỉnh Lâm Đồng hiện nay, vào dịp được mời về giảng tĩnh tâm mùa Chay và chuẩn bị Phục sinh cho giáo xứ Di Linh.
    Nhưng Thiên Chúa đã không để cha phải “chết lần thứ hai”: một số anh em trong Dòng đã bỏ trọn gần hai năm trời để làm nốt những gì cha còn để lại: tiến hành việc xin phép xuất bản Thánh Kinh trọn bộ Cựu và Tân Ước, chuyển bản thảo từ Đà Lạt về thành phố Hồ Chí Minh, dịch các cuốn cha chưa kịp dịch (sách Gióp, Châm ngôn, tiên tri Baruc), soạn các tiểu dẫn từ các tư liệu cha đã chuẩn bị để phục vụ cho việc giảng dạy Kinh Thánh, thêm một số ghi chú, đánh máy bản thảo để nộp Cục xuất bản, và in, với số lượng 10.000 bản.

    Và thế là mùa Giáng sinh năm 1976, người công giáo Việt Nam đã có thể có thêm một bản dịch Thánh Kinh trọn bộ mới, dày khoảng 3.000 trang (hai phần dẫn nhập Cựu Ước và Tân Ước 88 trang, phần Cựu Ước: 2318 trang, phần Tân Ước 616 trang) khổ 20 x 14cm, được in trên giấy bible, tức loại giấy vàng, mỏng và dai, thường được dùng để in sách Thánh Kinh. Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chuẩn ấn ngày 12.11.1975, giấy phép của Bộ Thông Tin Văn Hóa – Cục Báo Chí Xuất Bản số 92/GPNT/XB – ngày 13/11/1975, nộp lưu chiểu tháng 12.1976.

    Cũng xin giới thiệu một đôi hàng về bản thảo bản dịch trọn bộ Thánh Kinh cha Nguyễn Thế Thuấn đã để lại. Bước vào phòng ở và làm việc của cha để thu dọn bản thảo, người học trò của cha có cảm giác như được bước vào nơi thân quen nhất của cha giáo Thánh Kinh. Bầu khí làm việc trong âm thầm, lặng lẽ, kiên trì như vẫn còn bao trùm cả căn phòng giản dị nhưng chứa đầy vết tích của suy tư, tìm kiếm khoa học. Các bản thảo được xếp ngay ngắn, thứ tự trong một cái bàn rộng, có nhiều ngăn. Bản thảo của từng cuốn sách thuộc Cựu Ước được đóng riêng, theo cùng khổ giấy, 20x40cm. Mỗi trang giấy, được viết một mặt, đều được chia thành ba cột. Cột giữa dành cho từng câu của bản dịch đã hoàn chỉnh. Cột bên trái ghi các từ quan trọng trong câu và các nghĩa của các từ này. Cột bên phải ghi các chú thích về từ ngữ. Cha dùng giấy bao xi măng để làm bìa cho các bản thảo. Tất cả đều được viết bằng tay. Bên cạnh đó là một tủ đựng các phiếu được xếp trong những ngăn nhỏ. Mỗi phiếu là một câu, một cụm từ, một từ với những giải thích hay chú giải của nhiều tác giả khác nhau…

    Mối thiện cảm và lòng tin tưởng trong 35 năm qua độc giả dành cho bản dịch Thánh Kinh
    của cha Nguyễn Thế Thuấn hẳn là phần thưởng quý báu của nỗ lực cần cù, kiên nhẫn, kính cẩn đối với Lời Chúa và của lòng yêu kính đối với Giáo hội Việt Nam của cha.



    WHĐ

  6. Được cám ơn bởi:


  7. #51
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Phêrô Doãn Quang NgỌc
    (1902–1995)

    TIỂU SỬ:
    – Sinh 1902 tại họ giáo Vĩnh Thọ, giáo xứ Bách Lộc (nay là giáo xứ Vĩnh Thọ), xã Vân Phúc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay là thành phố Hà Nội).
    – 1917: vào trường tập Hưng Hóa.
    – 1919: học Tiểu chủng viện Hà Thạch.
    – 1925: mãn Tiểu chủng viện, giúp cha Giuse Đặng TâmThuần ở giáo xứ Dư Ba.
    – 1927: học triết và thần học tại Kẻ Sở (Sở Kiện)
    – 01/4/1933: thụ phong linh mục tại TGM Hưng Hóa.
    – 1933-1938: phó xứ Hà Thạch, giúp cha Lê Khanh.
    – 1938-1947: chánh phiên Trù Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ.
    – 06/8/1947-28/11/1995 chánh xứ Chiêu Ứng, xã Sơn Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
    – 28 tháng 11 năm 1995: qua đời.
    CHÂN DUNG:
    1. Yêu thương đoàn chiên:
    – Chấp nhận hy sinh
    Chúa Giêsu đã phán: “Ta là mục tử tốt lành ... Ta thí mạng sống vì đoàn chiên”. Theo sát vị mục tử Giêsu, cha già Phêrô đã thốt lên: “Vì yêu giáo dân mà tôi ở lại miền Bắc” (sau năm 1954). Ở lại miền Bắc lúc đó, các linh mục phải chấp nhận cảnh đấu tố, giam cầm. Cha bị giam ở chuồng trâu của một người lương dân xóm Hồng Sơn (xã Sơn Cương) mấy tháng, rồi bị đấu tố ở Chiêu Ứng, sau đó còn bị điệu đi Đồng Xa, Đại An, Trù Mật để cho chính những người đã được cha già cưu mang vu oan cáo vạ!
    Thế nhưng sau vụ đấu tố đó, những giáo dân này vẫn được cha già yêu thương, tin dùng và nâng đỡ. Có người hỏi: “Sao cha vẫn dùng họ?” Ngài trả lời: “Họ nhẹ dạ, họ mắc mưu, chấp làm gì!”
    Chấp nhận gánh nặng
    Một số cha trẻ di cư vào Nam, một số cha già được Chúa gọi về dần, các chủng viện bị đóng cửa, các giáo xứ dần dần vắng bóng chủ chăn. Cha già Phêrô là cha xứ Chiêu Ứng, nhưng đồng thời phải coi sóc giáo dân tận Lào Cai, Sapa... cách xa ba bốn trăm cây số, trong khi phương tiện giao thông chỉ là một chiếc xe đạp super globe. Vào những năm cuối đời, dù đã tám chín mươi tuổi rồi, cha vẫn còn phải coi sóc thêm những giáo xứ lân cận như Phi Đình, Trù Mật, Vân Thê... trên mười ngàn giáo dân.
    – Xây dựng đức tin và cơ sở vật chất
    Coi sóc nhiều như vậy, cha già không những đến dâng lễ, ban các bí tích, mà còn lo xây dựng đức tin và cơ sở vật chất nữa. Tất cả những nơi cha già coi sóc đều được chính ngài ra chương trình học, ôn thi kinh bổn (giáo lý) mỗi năm hai kỳ vào dịp Lễ Phục sinh và Lễ Các thánh.
    Các hội đoàn như Hội Nghĩa Binh Thánh Thể, Hội Mân Côi, Hội Thánh Phêrô, Hội Thánh Antôn... do ngài thành lập vẫn sinh hoạt đều đặn. Riêng nơi cha già trông coi, các cuộc rước hoa, rước Thánh Thể vẫn tổ chức rất long trọng.
    Các nơi thờ tự trong địa bàn cha già coi sóc vẫn được sửa chữa, nâng cấp hoặc xây dựng mới, trong khi tại các xứ khác bị phá hủy hoặc không được tu sửa.
    2. Bác ái xã hội:
    Với tinh thần quảng đại, tha thứ và yêu thương phục vụ, cha già Phêrô còn tích cực hỗ trợ nhiều nơi xây dựng trường sở rộng rãi cho con em học văn hóa, như trường phổ thông cơ sở Sơn Cương, trường Ninh Dân thuộc huyện Thanh Ba, trường Văn Lung thuộc thị xã Phú Thọ.
    Những gia đình nghèo khổ luôn được cha quan tâm đặc biệt: cha giúp họ tiền đong gạo, cha không nhận bổng lễ khi họ đến xin cha làm lễ. Suốt đời cha không sắm cho mình một vật gì sang trọng; cha thường nói: “Chúa Giêsu sống nghèo, tôi cũng sống nghèo; Chúa Giêsu bênh vực người nghèo, tôi cũng đi với người nghèo.”
    3. Tinh thần kỷ luật:
    Nói đến tinh thần kỷ luật của cha già là phải nói đến việc giữ giờ giấc: giờ ăn, giờ nghỉ, giờ làm việc trí óc, giờ lao động chân tay, giờ dâng lễ, giờ cầu nguyện; sáng, trưa, tối, mùa hè oi bức cũng như mùa đông giá lạnh, không khi nào cha sai giờ. Điều đáng khâm phục là khi ngài báo giờ lễ ở một nơi nào, dù xa xôi (như Đồng Xa, Trù Mật) mà không thể đi xe được vì thời tiết quá xấu, ngài quàng áo mưa, chống gậy đi bộ cho kịp giờ đã định.
    Có thể nói, trong các linh mục còn ở lại miền Bắc, cha già Phêrô là người có tuổi linh mục cao nhất: 62 năm, 7 tháng, 27 ngày. Và cũng có thể nói, trừ những tháng bị giam giữ năm 1954, ngài đã không bỏ một thánh lễ nào. Sáng ngày 28 tháng 11 năm 1995, ngài dâng thánh lễ cuối cùng, sau đó thấy mệt, tuy được các y bác sĩ điều trị, nhưng tối hôm đó ngài đã an nghỉ trong Chúa.


    GP Hưng Hóa

  8. Được cám ơn bởi:


  9. #50
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse HOÀNG NGỌC MINH
    (1915–1960)


    Năm 1915, Giuse Hoàng ngọc Rậu (tức Minh), sinh ra trong một gia đình công giáo làng Hội Am, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt).
    Là con thứ hai trong gia đình, cậu bé Hoàng Ngọc Minh có ước muốn dâng mình từ khi còn rất nhỏ. Cậu bị cha xứ từ chối hai lần vì lý do còn nhỏ tuổi. Nhưng rồi dịp may đến: có người giới thiệu cậu đến với cha Nhã ở Đồng Xá, cậu được nhận vào ban giúp lễ gần được một năm. Cha Nhã giao cậu giúp lễ cho cha Trọng là nghĩa tử của ngài mới được phong chức. Sau một thời gian, năm lên 10 tuổi cậu dâng mình vào “Nhà Đức Chúa Trời” giúp cha già Thịnh ở xứ Cốc, Vĩnh Bảo trong một thời gian.
    Lên 12 tuổi, cậu được nhập Trường Thử tại Đông Xuyên, sang Tiểu chủng viện Ba Đông và rồi qua Giáo hoàng Chủng viện Alberto Nam Định. Đang truyền giáo ở Kẻ Sặt, được biết tại Kontum có một Hội thừa sai Việt Nam vừa thành lập và đã được Tòa Thánh châu phê, thầy Rậu liền xin nhập Hội năm 1941. Sau thời gian giúp dạy học ở Tiểu chủng viện Kontum, năm 1942, thầy được Đức cha Khâm (Jean SION) gởi đi học tại Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Nhưng vì chiến cuộc, năm sau Bề Trên lại gọi thầy về Đại chủng viện Qui nhơn. Ngày 21-10-1948, quân đội Pháp đổ bộ lên hải cảng Qui Nhơn. Thầy đã xuống tàu vào Nha Trang để về lại Kontum.
    Ngày 3-4-1949 thầy Rậu (từ nay lấy tên là Minh) thụ phong linh mục do Đức cha Khâm. Trước hết cha Minh đi làm phó cha già Simon Thiệt ở Võ Định ngày 20-4-1949. Sau đó cha học tiếng Bahnar mấy tháng ở Mangla. Tháng 12 năm 1950, người được gọi đi chánh sở Kon Dŭ. Địa sở này lúc ấy mới thành lập, thiếu thốn tất cả và núi non hiểm trở. Một chú giúp ngài kể lại: khi cha mới lên nhận sở, mấy ngày đầu, thấy tình cảnh buồn tẻ, các chú giúp “mỗi anh một góc nhà ngồi quay mặt ra rừng khóc sướt mướt”.
    Trong 10 năm ở Kon Dŭ, nhờ ơn Chúa, cha đã rửa tội được đến 10 làng Xơđăng. Cha là một trong những linh mục đầu tiên mở trường học với ký túc xá cho con em dân tộc (năm 1952). Năm 1959, 3 làng nhỏ ở Kon Dŭ đã bàn tính với cha để tập trung làm một làng lớn ở Kon Kơla như hiện nay. Ngoài công việc truyền giáo, cha còn mở nhà hộ sinh, phòng phát thuốc để săn sóc sức khỏe cho người dân tộc, không phân biệt lương giáo. Cha đang xây dựng một nhà thờ dài gần 40 mét, ngang 12 mét, toàn bằng gỗ cẩm lai và trắc. Trong thời gian này, cha Minh bị phong tê thấp rất đau đớn, có lúc cha phải “bò lết” trong nhà. Vì bệnh quá nặng, ngày 14-9-1960 cha phải về điều trị tại nhà Chung Kontum. Ngày 24-9-1960 được tạm bình phục, cha vội vã trở về sở với đoàn chiên. Dù sống trong vùng chiến cuộc leo thang, nguy hiểm tính mạng, nhưng cha vẫn vui lòng xin Bề trên ở lại, sống chết với con chiên.
    Ngày 27-9-1960 cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Huy mời người đến họ Tân Cảnh làm phó tế giúp lễ mồ. Sáng hôm sau, như được ơn Chúa soi sáng, cha dọn mình xưng tội sốt sắng. Sau lễ, cha đi thăm bạn bè và giáo hữu quen biết ở Tân Cảnh. Độ 10 giờ sáng ngày 28-9-1960 cha trở về Kon Kơla. Khoảng 11 giờ trưa, chỉ còn cách nhà 4 cây số, bị phục kích, xe vừa ngừng thì toán người từ trên mô đất cao nhảy xuống dùng cây vót nhọn đâm đánh cha tàn nhẫn và bắn cả loạt súng vào thân mình cha. Cha ngã gục trên xe; tài xế Huỳnh Hữu cháu của ngài cũng bị 8 viên đạn bất tỉnh. Mấy phút sau, anh Hữu hồi tỉnh, thì bọn sát nhân đã tẩu thoát. Tuy bị trọng thương, anh còn cố lái xe đi một quãng độ 1 cây số; nhưng rồi kiệt sức không lái được nữa, anh để xác cha trên xe, lần mò về rẫy dân tộc gần đó báo tin. Được hung tin, dân làng kẻ đao người ná chạy ra phụ lực đẩy xe đưa thi hài cha về nhà xứ cầu kinh, đồng thời cho người cấp báo địa phương.
    Tại Tân Cảnh, vào lúc 18 giờ, khi nghe tin linh mục Hoàng Ngọc Minh bị hạ sát, cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Huy đến Kon Kơla lúc nửa đêm. Vào 2 giờ sáng 29-9-1960, thi thể cha được đưa ra xe rước về nhà thờ Tân Cảnh. Sau đó cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Huy đã cử hành lễ mồ cầu cho cha, cùng với cha Léoni làm tùy phó tế như trong lễ mồ mà chính cha mới giúp nơi đây hôm qua và cha Gioakim Chế Nguyên Khoa làm phó tế. Lễ xong, linh cửu của ngài được rước về Nhà Chung Kontum lúc 2 giờ chiều ngày 29-9-1960 và ngay sau đó được đưa đến nhà thờ Chính Tòa, cho giáo hữu đến kính viếng và cầu nguyện. Qua 16 giờ ngày hôm sau, tức 30-9-1960, đông đủ linh mục, giáo dân, và một số đồng bào lương tất cả ước lượng đến gần 8000 người đưa linh cữu cha đến nơi an nghỉ cuối cùng ở nghĩa địa các cha tại Kontum.
    Cha Giuse mất đi, để lại cho giáo sĩ cũng như giáo dân Kontum, nhất là con chiên cha ở Kon Kơla, và cả đến những người ngoài công giáo, một niềm nhớ thương mến tiếc. Cha rất đơn sơ, tính tình hiền lành dịu dàng, vui vẻ. Một cựu bạn học của cha làm chứng: trong 20 năm không bao giờ thấy ngài nặng lời, cứng cỏi với một người nào, sống đời nghèo khó, hy sinh cho người dân tộc không phân biệt lương giáo. Nhớ lại Lời Chúa trong Bát Phúc:
    “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (. . . ). Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt. 5, 3-4. 10-12).
    Chúng ta tin Chúa đã ban cho ngài “đất Chúa hứa”.
    Ngày 17-1-1961, nhà xứ, trường học, nhà nguyện và tất cả đồ đạc của cha ở Kon Kơla đều bị hỏa hoạn thiêu hủy. Có người nói: “Của cha Minh đã theo ngài cả”. Những di tích vật chất của cha đã tiêu tan, nhưng chính sự nghiệp của cha là sự sống Thiên Chúa mà cha đã truyền sinh, đã hun đúc trong các linh hồn, sự nghiệp ấy còn trường tồn.
    GP Kon Tum

  10. Được cám ơn bởi:


  11. #49
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Batôlômêô NGUYỄN VĂN THẬT
    (1902 – 1996)
    Âm thầm, khiêm tốn, “đến đúng lúc, đi đúng lúc”
    1. Cha sở của làng quê
    Cha Batôlômêô Nguyễn Văn Thậtsinh ngày 02 tháng 02 năm 1902, trong một gia đình nghèo, đạo đức tại họ đạo Thủ Ngữ, xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, giáo phận Mỹ Tho.
    - 1914 – 1922: Học Tiểu chủng viện Sài Gòn.
    - 1922 – 1928: Học Đại chủng viện Sài Gòn.
    Thời gian thụ huấn ở Chủng viện, Batôlômêô Nguyễn Văn Thật luôn tỏ ra là một chủng sinh có kỷ luật, siêng năng học tập, có năng khiếu về âm nhạc và có triển vọng tốt về ơn gọi làm linh mục.
    Ngày 25 tháng 05 năm 1929, thầy Batôlômêô Nguyễn Văn Thật được lãnh nhận chức linh mục.
    Từ năm 1929 đến năm 1993, cha Batôlômêô đã lần lượt được sai đến phục vụ các họ đạo sau:
    - 1929 – 1933: Cha phó họ đạo Vũng Tàu;
    - 1933 – 1935: Cha sở họ đạo Cái Quau;
    - 1935 – 1959: Cha sở họ đạo Rạch Cầu;
    - 1959 – 1962: Cha sở họ đạo Đức Hòa;
    - 1962 – 1993: Cha sở họ đạo Trà Đư;
    - 1993 – 1996: Hưu dưỡng tại Nhà Chung và Rạch Cầu;
    - 04-07-1996: Được Chúa gọi về, an táng tại họ đạo Rạch Cầu.
    Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, khi trở thành linh mục phần lớn cuộc đời sứ vụ của cha cũng ở nông thôn nên cha rất hiểu cuộc sống của người giáo dân miền quê và thông cảm với họ.
    Giáo dân ở những nơi cha đến phục vụ, mỗi khi nhắc đến cha là họ nhớ đến một người cha hiền hòa, đơn sơ, giản dị, rất dễ gần gũi và tiếp xúc.
    Không có khoảng cách giữa cha và giáo dân. Nhà xứ của cha luôn rộng mở với mọi người, những người nghèo khổ không hề thấy mặc cảm khi đến với cha trong bộ quần áo lam lũ, chân đất của mình.
    2. Yêu thương và thông cảm với cuộc sống của giáo dân
    Hiểu được hoàn cảnh vất vả của người dân quê “một nắng hai sương”, phải lệ thuộc vào đồng ruộng, khi mưa gió hoặc mùa nước lũ, đường đi bùn lầy trơn trợt, không mấy dễ dàng, nên cha rất thông cảm và kiên nhẫn khi người giáo dân không giữ đúng giờ hẹn gặp cha. Cha thường nói, ngoài quy định giờ lễ, không thể đòi hỏi người dân quê đúng giờ được.
    Một trong những kiên nhẫn lớn của cha là luôn sẵn sàng ngồi tòa giải tội khi có một số giáo dân không theo đúng giờ giấc đến xin cha ban phép giải tội. Cha thường nói, đời sống đức tin của một họ đạo được thể hiện qua việc giáo dân dự lễ có rước lễ đông và sốt sắng hay không. Vì thế cha sẵn sàng cho đi giờ giấc của mình để giáo dân được xưng tội và rước lễ.
    Tuy là người dễ thông cảm, nhưng cha tỏ ra rất nghiêm túc và đòi hỏi trong việc học giáo lý và kinh bổn. Một ông cụ từng là học trò giúp lễ của cha kể lại, dù được cha thương mến, nhưng do không thuộc giáo lý, phải đến năm 18 tuổi ông mới được cha cho lãnh phép Thêm Sức. Nhưng cũng nhờ học thuộc lòng nhiều giáo lý và kinh sách, mà sau này khi gặp khủng hoảng, bế tắc tưởng chừng như tuyệt vọng, thì những lời kinh thuộc lòng từ thuở nhỏ mà ông nhớ lại, đã giúp ông cầu nguyện được với Chúa và Đức Mẹ, nhờ đó ông tìm lại được đức tin, trở về với Chúa. Điều đó khiến ông không bao giờ quên ơn cha sở của mình. Và ông lấy đó như kinh nghiệm để dạy con cháu phải học giáo lý vững vàng và phải thuộc kinh sách.
    3. Chu toàn bổn phận trong âm thầm, khiêm tốn, “đến đúng lúc, đi đúng lúc
    Dù là việc lớn hay nhỏ, cha luôn chu toàn trong âm thầm khiêm tốn, tận tụy và chu đáo.
    Tinh thần này được thể hiện ở thái độ cha noi gương Chúa Giêsu đến là để phục vụ. Cha không không đòi hỏi gì cho riêng mình, không màng đến danh vọng địa vị, không tìm ảnh hưởng cho mình.
    Là người giàu tình cảm, cha yêu thương họ đạo và giáo dân mình, và cũng buồn khi phải rời nơi mình gắn bó, nhưng cha cũng sẵn sàng để được Bề Trên sai đi nơi khác. Cha luôn xác tín “vâng lời” Bề Trên trong sứ vụ là đáp lại lời mời gọi đươc Chúa sai đi và đó chính là cách để cha biết “đến đúng lúc và đi đúng lúc”.
    Không những “đến đúng lúc, đi đúng lúc” mà cha “đến cũng nhẹ, đi cũng nhẹ”. Khi đến họ đạo mới hay khi rời khỏi nơi mình phục vụ, thì cũng thật nhẹ nhàng. Hành trang khi đến nhận nhiệm sở cũng là hành trang lúc ra đi: một ít sách vở và đồ dùng cá nhân. Những gì cha tạo lập được là của riêng mình, cha đều để lại cho họ đạo.
    Và khi đã ra đi, “đầu không ngoảnh lại”. Dẫu biết giáo dân lưu luyến, quý mến cha, nhưng cha không để cho tình cảm lấn át sứ mạng. Tình cảm thường dễ thiên vị, mù quáng và chật hẹp có thể làm cản trở sứ vụ của mình và người khác; chỉ có sứ mạng mới vô vị lợi và rộng mở với hết mọi người. Cha luôn biết nghĩ đến người khác, nhất là với anh em linh mục, không bao giờ cha nói điều gì xấu, làm hại uy tín anh em mình trước mặt người khác. Cha không muốn làm cản trở công việc của anh em mình. Cha thường nói, không làm cản trở anh em tiến bước là góp phần tích cực vào kế hoạch của Chúa. Mình không làm được việc thì để anh em làm và tạo điều kiện tốt cho anh em làm.
    Sau này, dù lớn tuổi, già dặn kinh nghiệm, nhưng khi làm việc mục vụ cha cũng thường hỏi ý kiến anh em linh mục trẻ và tôn trọng các anh em linh mục mình, không bao giờ áp đặt ý mình lên người khác.
    4. Đau khổ, thử thách
    Cuộc đời linh mục của cha có nhiều niềm vui nhưng cũng không ít những nỗi buồn và cam go thử thách. Trong đau khổ, cha chỉ im lặng và âm thầm đón nhận phần thua thiệt về mình.
    Điều này được thể hiện rất rõ khi có lần cha bị một số giáo dân nơi cha đến phục vụ điệu ra trước tòa án thế gian. Cũng vì “thật thà” đúng như tên cha là “Thật” mà cha đã bị hiểu lầm, bị tố cáo, bị sỉ nhục và cuối cùng bị xua đuổi ra khỏi nơi cha đã từng yêu thương, phục vụ. Trong đau đớn tột cùng, cha một mực âm thầm đón nhận, không hơn thua tranh chấp, cũng không oán hận người đã hại mình.
    “Nhân vô thập toàn”, đã là người thì làm sao tránh khỏi những lầm lỗi, thiếu sót! Với lòng khiêm tốn sâu xa, cha đón nhận mọi biến cố xảy đến cho mình, để cho ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa xuyên qua tất cả con người mình và những yếu đuối của mình. Chính vì thế, trong thử thách, cha vẫn tìm thấy được sự bình an và kiên định trong sứ vụ. Khổ đau đã làm cha trở nên đẹp hơn, người giáo dân luôn nhận ra ở cha tấm lòng nhân ái, bao dung của một vị mục tử hiền hòa mà vững chãi, rất dễ gần gũi và rất dễ cảm thông với nỗi khổ của người khác.
    Cuộc đời cha cứ thế âm thầm khiêm tốn phục vụ qua các họ đạo, cho đến ngày cha trở lại Rạch Cầu lần cuối, nơi trước đây cha đã từng phục vụ, để sống quãng đời còn lại của mình.
    Và ngày 04-07-1996, cha đã ra đi một cách thanh thản, nhẹ nhàng để về Nhà Cha trên Trời trong sự thương tiếc của giáo dân họ đạo Rạch Cầu.
    Cha đã được an táng tại nghĩa trang của họ đạo, giữa đoàn con cái đã an nghỉ, như cách bày tỏ lòng quý mến, hiếu thảo của giáo dân Rạch Cầu dành cho cha, vừa như nhắc nhớ về một người cha luôn kiên trì trong sứ vụ, sống trọn vẹn nghĩa tình với đoàn chiên của mình cho đến cùng và đang chờ ngày để cùng với tất cả đoàn con cái mình được tái hợp trong Nước Chúa, nơi không còn khổ đau và nước mắt, lúc đó tình nghĩa của mọi người sẽ nên trọn vẹn hơn, tròn đầy hơn.
    Có thể nói, đơn sơ giản dị, âm thầm khiêm tốn, “đến đúng lúc, đi đúng lúc”trong sứ vụđược sai đi là nét đẹptrong cuộc đời linh mục của cha Batôlômêô Nguyễn Văn Thật.

    GP Mỹ Tho

  12. Có 3 người cám ơn Damsan vì bài này:


  13. #48
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Ðức cha Giacôbê
    NGUYỄN NGỌC QUANG
    (1909–1990)
    Một vị mục tử chân chính


    Đức cha Nguyễn Ngọc Quang sinh ngày 23-07-1909 tại họ đạo Phước Lễ, tỉnh Bà Rịa. Thụ phong linh mục ngày 21-09-1935. Năm 1940 được Đức cha Ngô Đình Thục, Giám mục giáo phận Vĩnh Long gửi qua Pháp du học, đỗ Cử nhân Lịch sử và Địa lý. Năm 1946, cha trở về Việt Nam phục vụ giáo phận Vĩnh Long. Trong thời gian 1946-1960, cha đảm trách các nhiệm vụ: Giám đốc Tiểu chủng viện Vĩnh Long, cha sở họ Chính tòa Vĩnh Long, Tổng Đại diện kiêm Giám đốc Công giáo Tiến hành giáo phận.
    Ngài được thụ phong Giám mục ngày 05-05-1965, và nhận giáo phận ngày 06-05-1965 với chức vụ Giám Mục phó. Năm 1968 khi Đức cha Nguyễn Kim Điền chính thức trở thành Tổng Giám mục Huế thì Đức cha Nguyễn Ngọc Quang cũng chính thức trở thành Giám mục Chính tòa Cần Thơ. Ngài là vị Giám mục thứ ba của giáo phận kể từ khi giáo phận được thành lập.
    - Năm 1966, Đức cha mở Tiểu Chủng viện “Á Thánh Quý” ở Cái Răng.
    - Cũng năm 1966, Đức cha được bầu giữ chức Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam, nhiệm kỳ 1966–1970.
    - Năm 1967, Đức cha thành lập Dòng Con Đức Mẹ ở làng Bình Thủy.
    - Năm 1970-1975, Đức cha được tín nhiệm giữ chức Chưởng ấn Viện Đại học Đà Lạt.
    Ngày 20 tháng 06 năm 1990, lúc 07 giờ 40 phút, Đức cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang qua đời tại Cần Thơ, thọ 81 tuổi với 25 năm Giám mục Chính tòa Cần Thơ.
    Khi nói về “Chân dung linh mục” có lẽ chúng ta không nên nghĩ rằng mình đang nói về nhũng vị thánh nhưng là những con người “rất người” mà có khi chúng ta đã từng quen biết, tiếp cận với nhiều kỷ niệm vui buồn, các ngài đã sống trong thiên chức linh mục của mình với tất cả những nỗ lực và để lại những bài học đáng trân quý cho chúng ta.
    Đức cha Giacôbê đã là một con người như thế. Ai đã từng sống gần gũi ngài đều thấy ngài có những đức tính nhân bản nổi bật như:

    Đúng giờ: Luôn chính xác trong các giờ chung đến từng phút giây, Cha thư ký của ngài cho biết vào cuối đời ngài yếu bệnh, đi xuống nhà cơm phải nghỉ một lúc, nên ngài đã đi sớm hơn để đến nhà cơm đúng giờ. Trong các cuộc đón rước giám mục, nếu tài xế chạy nhanh đến sớm sẽ được dạo phố vài vòng để có thể đưa Đức cha đến nơi đúng giờ không sớm không muộn.

    Ý chí: Có một chuyện vui là sau năm 1975 các giám mục không còn đi xe hơi nên ngài tập chạy xe Honda, nhưng tập mãi mà không được, có người nói chắc ngài nản chí nên bán chiếc xe Honda 50 cho cha Antôn Vũ Huy Chương (bây giờ là Giám mục Hưng Hoá). Tuy nhiên không phải vậy, ngài đã kiên trì và đã thành công. Ngài vẫn chạy chiếc Honda lên nhà dòng Bình Thủy dâng lễ cho các Soeur.

    Khó nghèo, cần kiệm và tự lập:Đức cha Giacôbê tự giặt quần áo, khâu vá hay tự lo cho những nhu cầu tiêng tư của mình. Đức cha chỉ có ba chiếc quần dài màu đen và ba chiếc áo vải trắng. Chúng tôi quen gọi là đồ bà ba. Nhưng thực sự đó chỉ là đồ mặc trong nhà. Ngài mặc áo dòng dường như cả ngày, nhất là khi ra khỏi phòng. Nên áo dòng nhiều hơn áo thường. Có đến gần 10 chiếc, kể cả áo có viền đỏ, phẩm phục giám mục và loại đơn giản của linh mục. Sau này khi phải mặc quần tây và áo sơ mi để chạy xe Honda đi dạy học trong Chủng viện, dòng Bình Thuỷ hay dòng Chúa Quan Phòng… ngài mới nhờ thợ may người công giáo ở khu Toà Giám Mục Cần Thơ sắm cho Ngài hai bộ đồ: quần tây và áo sơ mi. Nếu ai có ý quan sát thì sẽ thấy ngay đây là loại vải rẻ tiền nhất vì nó nhăn nheo và bị co rút ngắn dần. Chúng tôi thường nói đùa: “quần chó táp ba ngày không tới!”
    Không bao giờ Đức cha sai ai quét dọn phòng ốc hay sắp xếp vật dụng cho ngài. Ngài quán xuyến hết mọi chuyện! Đức cha tự làm bao thư bằng cách lấy giấy quay ronéo một mặt và sử dụng mặt còn lại. Những giấy nháp hay ghi chú không bao giờ là tờ giấy mới nguyên. Hoa kiểng, cây cối trong Toà Giám Mục, một mình ngài cắt tỉa, vun quén, tháp ráp hay chỉ bảo người khác phụ giúp. Toà Giám Mục Cần Thơ có chuối ăn tráng miệng quanh năm, có xoài cát ngon trái chín oằn cây… tất cả đều do sự xếp đặt rất tiết kiệm của Đức cha Giacôbê theo chủ trương “cây nhà lá vườn.”

    Kiến thức: Ngài thích tìm hiểu và có kiến thức bách khoa. Ngài đã từng làm bài phú mừng Đức cha GB Nguyễn Bá Tòng năm 1933, và cũng không phải tình cờ mà ngài được mời làm chưởng ấn Viện Đại Học Đà Lạt

    Trung thực nhưng biết thông cảm lắng nghe: Quý cha Cần Thơ đều có kinh nghiệm về một chiêu thức đặc biệt của ngài: đó là “đánh phủ đầu” nhưng sau đó ngài lắng nghe quý cha trình bày và rất thông cảm nếu quý cha trình bày rõ ràng và thành thật. Ngài sống rất lý trí nhưng cũng giàu tình cảm đúng như câu “thấu tình, đạt lý”. Các cha, các thầy gặp khó khăn ngài tạo điều kiện giúp đỡ dến nơi đến chốn. Có một cha luôn kẹp ảnh Đức cha Giacôbê trong sách PVGK để cầu nguyện cho ngài vì cha nói ngài đã giúp cha “khỏi một bàn thua trông thấy”

    Phục thiện:Có một thay đổi lớn trong tính tình của ngài, đó là trước đây ngài rất nóng nảy, la rầy lớn tiếng, có khi đập bàn… nhưng sau này có lẽ từ 1975 trở đi ngài trở nên rất hiền lành, nhẫn nại, nhỏ nhẹ… như một người cha nhân từ

    Lòng yêu mến Hội Thánh:Ưu tư lớn nhất của Đức cha Giacôbê là vấn đề đào tạo linh mục. Từ khi mới làm Giám mục Cần Thơ, ngài đã tập trung mọi công sức cho việc xây dựng cơ sở Tiểu chủng viện Cái Răng.
    Với tầm nhìn ngôn sứ ngay từ đầu năm 1975, tất cả 80 đại chủng sinh giáo phận Cần Thơ học ở ba Đại chủng viện Đà Lạt, Long Xuyên và Vĩnh Long đều được Đức cha chuẩn bị tinh thần cho biến cố lớn lao của đất nước. Sau biến cố 30-4-1975, ngài phân chủng sinh thành nhiều nhóm nhỏ, tự lập sinh sống trong các họ đạo, làm nhiều nghề nuôi thân và phục vụ họ đạo. Trong hoàn cảnh khó khăn thời bao cấp cũng có nhiều chủng sinh tìm cách “vượt biên”. Ngài nói với các chủng sinh khi dạy môn Giáo sử: “Các nhà thừa sai ngày xưa thì vất vả ‘nhập biên’ để truyền giáo, còn các thầy bây giờ thì lại muốn ‘vuợt biên’ để trốn tránh gian khổ!” Phương pháp gắn bó với họ đạo như vậy đã đào tạo những linh mục rất gần với dân và rất nhập cuộc: biết đồng hành với dân tộc và biết cảm thông với người khác, biết “khóc với người đau khổ và cười với nguời vui!” Phải nói đây là thế hệ linh mục rất đúng nghĩa linh mục do Đức cha Giacôbê đào tạo.
    Năm 1988, Đại chủng viện Thánh Quý được chính thức khai giảng. Ngôi nhà chính của Chủng viện được sửa sang, sơn phết khang trang cho kịp ngày khai giảng nhưng có mấy ai biết là Đức cha Giacôbê đã bán chiếc Peugeot 404 để lo công việc này.
    Không ai biết rõ gia đình hay thân nhân ruột thịt của Đức cha Giacôbê như thế nào. Cũng không bao giờ nghe ngài nói đến là ba mẹ ngài mất hồi nào, còn bao nhiêu anh chị em và họ đang ở đâu. Con cháu thế nào và làm gì ở đâu. Ngài đúng là người đã cầm cày và không bao giờ quay lại phía sau.
    Viết về một người cha thì có lẽ bao nhiêu cũng chẳng đủ nhất là nếu thu thập dữ liệu của tất cả những người con. Chỉ xin gợi lên vài nét đặc trưng về một “chân dung linh mục” đã được chính các linh mục giáo phận Cần Thơ trong tuần tĩnh tâm linh mục đầu năm 2010 bình chọn và giới thiệu, để góp phần làm phong phú những chân dung linh mục Việt Nam và cũng để mỗi người chúng ta suy nghĩ và rút ra những bài học cho cuộc sống của mình, nhất là trong Năm Linh Mục này.


    GP Cần Thơ
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 11-03-2010 lúc 07:57 PM

  14. Có 2 người cám ơn Damsan vì bài này:


  15. #47
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse PHÙNG THANH QUANG
    (1926 – 2003)
    Cha Giuse Phùng Thanh Quang sinh ngày 31-10-1926 tại Thủ Dầu Một, Bình Dương. Là con thứ năm trong bảy người con của ông bà cố Bênêđictô Phùng Văn Thế và Maria Nguyễn Thị Hòa.
    Ngày 12-08-1938 gia nhập Tiểu chủng viện.
    Ngày 30-10-1947 gia nhập Đại chủng viện cho đến ngày 25-09-1954 được Đức cha Gioan Cassaigne phong chức linh mục tại nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn.
    Từ ngày 14-10-1954 cha Giuse được sai về làm cha phó nhà thờ giáo xứ Đà Lạt, và sau đó làm tuyên úy quân đội. Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền gọi ngài về Đà Lạt và bổ nhiệm làm cha sở nhà thờ Chánh tòa từ 21-05-1961.
    Ngày 08-09-1962 vì nhu cầu đặc biệt Đức cha thuyên chuyển cha về làm cha sở giáo xứ Di Linh. Đức cha viết trong thư bổ nhiệm: “Cả vùng Di Linh có nhiều thừa sai ngoại quốc, họ không khỏi gặp nhiều khó khăn khi thi hành mục vụ, nên nhờ cha giúp đỡ để các thừa sai được điều kiện thuận lợi hơn khi thi hành sứ vụ của mình, nhất là tại các Trung tâm truyền giáo như: Ka La, BrăYang, Bơtong, Đakplao, Cây số 16 Đinh Trang Hạ (Dariam) và Trại phong Di Linh…”
    Ngày 23-03-1970 Đức cha giao cho cha tạo lập một Trung tâm bác ái tại sở trà Đồng Lạc thuộc địa sở giáo xứ Di Linh để giúp những người thiện chí có nơi yên tĩnh cầu nguyện, học hỏi, cải thiện đời sống. Sau này Trung tâm được gọi tên là Foyer de Charité St Joseph, do cha phó De Regnès phụ trách.
    Từ tháng hai năm 1973 khi Đức cha Jean Cassaigne bị đau liệt, Đức Giám mục giáo phận truyền lệnh cha vừa phục vụ cho Đức cha Cassaigne vừa phục vụ phần thiêng liêng cho làng cùi. Sau đó cha Nhiếp chính Phaolô Đậu cũng đặt cha Giuse giúp làng cùi trong lúc chờ đợi tân giám mục giáo phận (Trích thư 4-12-1973).
    Trong giai đoạn này, cha Giuse Quang đã cho xuất bản tập ký: “Lạc Quan Trên Miền Thượng” để nói về công lao của Đức cha Cassaigne, sáng lập thí điểm truyền giáo Di Linh và sáng lập làng cùi Di Linh (1929). Tập sách này không những giúp mọi người hiểu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của cha Gioan Cassaigne mà còn giúp cho mọi người hiểu và quan tâm hơn đến đời sống của anh chị em phong cùi.
    Trong nhiều năm phục vụ tại Di Linh, không những chăm lo đời sống thiêng liêng mà Cha Giuse cũng rất quan tâm đến đời sống kinh tế của bà con giáo dân Di Linh còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn và thiếu ổn định. Để giúp họ, do những tương quan uy tín sẵn có, cha Giuse đã xin Nha Thủy Nông giúp kinh phí triển khai dự án cải tạo cánh đồng Da Klonkoa, một vùng sình lầy nhiễm phèn khoảng 100 mẫu, để trồng lúa nước và dự án này được chính quyền trung ương chấp thuận và cấp kinh phí từ ngày 19-04-1974.
    Biến cố tháng 3 và tháng 4 năm 1975 đưa đất nước đến một giai đoạn mới: trong buổi giao thời, rất nhiều người hoang mang và chọn giải pháp tạm thời rời Tuyên Đức – Lâm Đồng, để lại những giáo xứ và nhà thờ trống vắng. Cha Giuse là người rất vâng lời Bề trên, cho nên khi nhận được thư của Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm (vừa về nhận giáo phận đúng 10 ngày) viết tại Đà Lạt ngày 28-03-1975: “Tôi tha thiết xin cha vì Chúa, vì Giáo Hội, vì các linh hồn, hy sinh ở lại với giáo phận trong bất cứ hoàn cảnh nào”, ngài đã ở lại giáo xứ mặc dù với hoàn cảnh riêng của ngài, mọi người đều khuyên ngài ra đi khi các trung tâm truyền giáo Brăyàng, Dariam, Trung tâm thánh Giuse Đồng Lạc, Cộng đoàn Đồng Công cây số 12 bị tiếp quản và giải thể, các cha ngoại quốc phải trở về nước, nhà thờ Di Linh bị pháo kích hư hại nặng.
    Và ngài còn vâng phục Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm khi nhận chức Hạt trưởng hạt Di Linh từ ngày 19-08-1975 khi Đức cha thiết lập một giáo hạt với bức thư gửi cho cha: “Vì không họp được các cha trong vùng, tôi xin đặt cha làm Hạt trưởng hạt Di Linh, để khi có thể, cha liên lạc, củng cố tinh thần anh em trong huyện nhà ... Mong cha thông cảm với những khó khăn hiện tại của giáo phận... nhận chức Hạt trưởng để giúp đỡ anh em...”.
    Nhưng chính trong giai đoạn nhiều khó khăn này, cha Giuse đã để lại nhiều dấu ấn mục vụ nhất, không những trong địa bàn Di Linh mà còn nhiều nơi trong giáo phận Đà Lạt, đặc biệt cho anh chị em kinh tế mới và anh chị em dân tộc.
    Từ thập niên 80, rất đông đồng bào từ các địa phương miền Bắc đến tỉnh Lâm Đồng để xây dựng cuộc sống và lập nghiệp tại các địa phương Hòa Ninh, Hòa Nam, Blát thuộc huyện Di Linh, Cát Tiên, Đạ Tẻh thuộc huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh, Ninh Loan thuộc huyện Đức Trọng. Tấm lòng mục tử của cha Giuse đã vươn đến những vùng đất rất xa giáo xứ Di Linh. Ngài đã nhiều lần đến thăm, động viên, an ủi anh chị em ở vùng kinh tế mới, lập danh sách đồng bào công giáo tại các giáo điểm này cũng như đón nhận họ vào những ngày lễ trọng tại chính giáo xứ Di Linh. Ngay chính Giám mục giáo phận khi muốn xây dựng một giáo họ, một giáo xứ, một nhà thờ tại những nơi đó… thì đều nhờ ngài cung cấp các dữ kiện về địa hình, địa vật, dân số, đời sống của cư dân. Và cũng chính nhờ những quan tâm này, lần lượt các giáo điểm được tổ chức các thánh lễ vào dịp Giáng Sinh và Phục Sinh để dần dần hình thành nên các giáo họ, giáo xứ như Cát Tiên (1989), Đạ Tẻh (1990), Ninh Loan (1991), Hòa Ninh (1992), Blat (1995).... Lịch sử các giáo họ, giáo xứ của anh chị em kinh tế mới và dân tộc ghi nhận tình thương và công lao cha Giuse dành cho họ. Riêng đối với anh chị em dân tộc, cha còn quan tâm chăm sóc đời sống vật chất vàvăn hóacho họ với những chương trình dài hạn. Hằng năm vào lúc giáp hạt là lúc các thôn làng dân tộc đói kém, cha vẫn thường trợ cấp cho các thôn dân tộc hàng tấn lương thực để giúp họ.... Ngài cũng xin những dự án tài trợ cho chương trình tái định cư cho các thôn làng quen nếp sống du canh du cư hoặc gặp những sự cố cháy làng, cháy nhà như tại Đinh Trang Thượng năm 1996. Để giúp nâng cao đời sống cho anh chị em dân tộc tại các thôn làng về văn hóa, cha đã xin mở các lớp bổ túc văn hóa tại thôn Kaminh 1993, trường mẫu giáo Mbung Srénao, trường dạy cắt may dân tộc tại Di linh năm 1996.
    Vào những năm cuối đời, dù tuổi cao và sức khỏe suy yếu nhiều do mắc bệnh tim, hàng tháng vẫn phải tái khám tại bệnh viện Nguyễn Trãi Tp.HCM, cha Giuse vẫn miệt mài tìm đến các thôn làng mới như Gia Bắc, Sơn Điền để giúp đỡ về vật chất và nâng đỡ tinh thần cho các anh chị em tín hữu.
    Cuối tháng 10-2003 cha phải nhập bệnh viện Nguyễn Trãi cấp cứu, nhưng vì bệnh đã quá nặng và tuổi cao nên cha đã qua đời vào lúc 01g45 ngày 31-10-2003, hưởng thọ 77 tuổi.
    Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn khi chọn ngài là mẫu gương linh mục đã chia sẻ: “Khi cha Giuse Phùng Thanh Quang còn sống, chúng ta không thấy được những công lao vĩ đại mà ngài đã âm thầm gieo trồng và để lại cho Giáo Hội cũng như cho các linh hồn ; chỉ khi Ngài qua đi, chúng ta mới thấy được tầm mức ảnh hưởng của những công việc ngài đã làm trong giáo phận ; điều ngài hằng mong muốn là để Danh Chúa được cả sáng, vì ngài đã chọn Chúa là gia nghiệp đời mình”.

    GP Đà Lạt

  16. Có 2 người cám ơn Damsan vì bài này:


  17. #46
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Hội đồng Giám mục Việt Nam khi triển khai Năm Linh Mục đã muốn thu thập những tấm gương linh mục Việt Nam trải dài trong lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam, ít nữa mỗi giáo phận giới thiệu hai gương mặt nổi bật của giáo phận mình. Giáo phận Đà Lạt đã mau mắn để giới thiệu chân dung của nhà truyền giáo vĩ đại Đức cha Gioan Baotixita Cassaigne. Và khi nhìn vào hàng linh mục của mình đã qua đời, giáo phận Đà Lạt thấy cần phải giới thiệu hai con người linh mục mang hai sắc thái bổ túc cho nhau: một con người linh mục của những chức vụ và công việc nổi trội: cha Phaolô Nguyễn Văn Đậu, và con người linh mục kia là của những công việc âm thầm như người gieo giống trong Tin Mừng: cha Giuse Phùng Thanh Quang; và vì thế trong bài này chúng tôi xin ghi lại những ký ức về cả hai con người mà theo thiển nghĩ không thể tách rời trong cuộc sống của một linh mục hôm nay.
    Cha Phaolô NGUYỄN VĂN ĐẬU
    (1912 – 2001)


    Cha sinh năm 1912 tại xứ Hiệp Hòa, tỉnh Long An. Trong gia đình có 10 anh chị em. Ngài là người thứ 7. Người anh sát với ngài là cha Nguyễn Huỳnh Điểu, cha sở nhà thờ Chánh tòa giáo phận Sài Gòn nhiều năm.
    Chịu chức linh mục năm 1938.
    Được bổ nhiệm làm giáo sư Tiểu chủng viện Sài Gòn.
    Nhưng do quan điểm quốc gia dân tộc, ngài phải ra khỏi chủng viện cùng ngày với cha Phaolô Nguyễn Văn Bình (là Tổng Giám mục Sài Gòn 1960) để đi làm cha xứ Bảo Lộc từ 08-12-1949, còn cha Bình về Cầu Đất: khi đó đều là những giáo xứ ít người ở miệt cao nguyên.
    Tổng đại diện giáo phận Ðà Lạt từ năm 1961
    Nhiếp chính giáo phận Ðà Lạt từ 05-09-1973
    Rời Bảo Lộc về phục vụ giáo phận Sài Gòn từ 1975
    Cha sở Mạc-ti-nho 1975-1998
    Nghỉ hưu tại giáo xứ Chánh tòa Sài Gòn từ 1998
    Chúa gọi về: 08-01-2001
    An táng tại nghĩa trang các linh mục tại Lái Thiêu: 11-01-2001.

    Cha Phaolô là vị linh mục rất có uy tín, được quý mến và kính nể trong đạo cũng như ngoài đời.
    Ngài là linh mục có quyết tâm xây dựng một giáo xứ theo sát bước tiến triển của Giáo Hội toàn cầu qua nỗ lực giải thích và áp dụng huấn quyền của Công Đồng. Suốt trên 10 năm sau Công Đồng, Ngài đã lần lượt giải thích các văn kiện chính yếu của Công Đồng mỗi 3g chiều Chúa Nhật hằng tuần cho giáo dân.
    Là một linh mục mà mọi người dễ tiếp cận để có được những hướng dẫn cho cuộc sống, có cuộc sống đơn sơ, thắng thắn, nhưng hiền hòa tế nhị, là người của Hòa bình và Hòa giải.
    Là linh mục rất trung thành trong việc ngồi tòa, và đều đặn trong việc dạy giáo lý cho trẻ em và người lớn. Đọc kinh Nhật Tụng rất đúng giờ, trừ một đôi lần có khách hay công việc bất ngờ, ngoài ý muốn. Rất có lòng yêu mến Thánh Thể và tôn kính Đức Mẹ. Theo thói quen, ngủ trưa dậy thì ra ngồi ghế dựa, đọc nhật báo, sau đó lần chuỗi (trừ thứ bảy, đọc xong báo thì cầm sách nguyện ra ngồi vào tòa giải tội, vừa lần chuỗi hoặc đọc sách nguyện vừa chờ người tới xưng tội). Ngài đã có sáng kiến đi tìm chỗ, vận động tiền, rồi đứng ra xây đài dâng kính Mẹ ở trung tâm đèo Bảo Lộc, đặt tên là “Đài Đức Mẹ Suối An Bình”.
    Tối nào cũng vậy, xem tin tức trên tivi xong là rút vào phòng, ngồi vừa hút thuốc lá vừa dọn bài giảng. Không bỏ qua bài nào. Dọn và viết ra giấy đàng hoàng.
    Ngài có tình huynh đệ với anh em linh mục không phân biệt đối xử, không có sự kỳ thị, ngay cả với những anh em không cùng quan điểm.
    Ngài quan tâm rất nhiều đến những nỗ lực bác ái tông đồ dành cho người nghèo, quan tâm và tìm cách giúp đỡ những người gặp hoạn nạn, những chị em “lỡ làng”. Ngài có sáng kiến và đứng ra mua đất, lo kinh phí xây dựng “Trung Tâm Bảo Trợ Simon-Hòa” ở khu vực giáo xứ Thiện Lộc hiện nay, giao cho các dì hội dòng Mến Thánh giá Chợ Quán phụ trách, làm nơi nương tựa tạm trú cho các chị em lầm lỡ, và nhận những con rơi của họ làm con nuôi.
    Ngài có công rất lớn trong việc tìm kiếm, thương lượng, thu xếp, ổn định nơi ăn chốn ở và thờ tự cho bà con di cư năm 1954 đến vùng Blao, vùng trong cũng như vùng ngoài, đặc biệt là vùng ngoài tức Tân Bùi, Tân Hà, Thánh Tâm.
    Ngài cũng đã đứng ra cùng với chính quyền lo cho bà con Việt kiều bị “cặp-duồn” ở Campuchia chạy hồi hương về định cư tại chỗ mà bây giờ gọi là Nam Phương.
    Ngài cũng rất quan tâm đến việc truyền giáo cho anh chị em dân tộc bản địa: thiết lập trung tâm ngay tại khu vực giáo xứ Bảo Lộc, sau khi tìm được đất rộng rãi và thuận lợi hơn, Ngài mới cùng cha Laurensô di dời Trung Tâm về khu vực giáo xứ Thiện Lộc. Là Tổng đại diện, cùng với Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, ngài luôn mong muốn và mời gọi anh em linh mục dấn thân trong cánh đồng truyền giáo này.
    Ngài biết kêu gọi và tạo sự hợp tác của mọi thành phần dân Chúa cho Giáo Hội. Có lẽ người giáo lý viên giáo dân đầu tiên được ân thưởng huân chương Tòa Thánh là thầy Anrê Bảng, đã do ngài nâng đỡ dẫn dắt, sống, làm việc, và chết trong nhà xứ của ngài. Ngài cũng tạo điều kiện cho các sinh hoạt của Công Giáo Tiến Hành được phát triển mạnh mẽ.

    Để nói về ngài có lẽ không lời nào có thể chính xác hơn lời của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục giáo phận Đà Lạt trong thánh lễ an táng cho ngài: “Đời sống bác ái, hiền hòa, bao dung và khó nghèo của cha cố Phaolô cho thấy là đời sống mới theo như Tin Mừng loan báo không phải là điều vọng tưởng, nhưng là khả thi. Cha cố Phaolô đã trở thành nhân tố làm cho một miền rừng thiêng, nước độc, ít dân cư trở thành một vùng công giáo trọng điểm ngày nay. Tất cả là cuộc sống mới theo Tin Mừng mà cha cố đã kiên trì làm chứng”.

  18. Có 2 người cám ơn Damsan vì bài này:


  19. #45
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức Hồng y Phaolô Giuse
    PHẠM ĐÌNH TỤNG
    (1919–2009)

    1. Một nhà giáo dục đào tạo
    Sau cuộc di cư năm 1954, con số các linh mục phục vụ tại các giáo phận Miền Bắc giảm sút trầm trọng. Cần phải gấp rút đào tạo một lực lượng bổ sung. Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội được khai sinh. Linh mục chính xứ Hàm Long -Phaolô Phạm Đình Tụng- được Đức cha Giuse Trịnh Như Khuê tín nhiệm đặt làm Giám đốc. Có lẽ đây là Tiểu Chủng viện liên giáo phận đầu tiên tại Việt Nam, quy tụ gần 200 chủng sinh của 7 giáo phận Miền Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bùi Chu, Phát Diệm, Thái Bình, Thanh Hoá). Sau hai năm hoạt động, 9 chủng sinh lớp lớn được tách ra để thành lập Đại Chủng viện Thánh Giuse. Vị Giám đốc Tiểu chủng viện kiêm nhiệm luôn chức Giám đốc Đại Chủng viện.
    Năm 1960, cả hai Chủng viện đều bị đóng cửa vì không chấp nhận việc nhà nước điều động giáo viên vào dạy môn chính trị. Các chủng sinh như đàn chim non phải rời xa me, bươn chải giữa bao sóng gió cuộc đời.
    Gần 200 chủng sinh Tiểu Chủng viện (đúng hơn chỉ là các chú trường thử) với số năm “cải tạo tập trung” (một hình thức cầm tù) của các chủng sinh cộng lại dài ngót 3 thế kỷ. Vậy mà Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà nội đã cung cấp cho Giáo Hội Miền Bắc hơn 50 linh mục nhiệt tình và trung tín. Kết quả lớn lao ấy đã xác nhận khả năng giáo dục và đào tạo của các giáo sư, nhất là của vị Giám đốc.
    Năm 1963 linh mục Phaolô Phạm Đình Tụng được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Chính Toà coi sóc giáo phận Bắc Ninh. Có người đã nói một cách ví von: từ năm 1963, Trường Đào tạo Linh mục từ xa đã âm thầm hoạt động tại giáo phận Bắc Ninh. Phòng U8 trong Tòa Giám Mục đã xác nhận câu nói ấy. Đức tân Giám mục đã “chú ý đến việc đào tạo các linh mục không chỉ giỏi nghiệp vụ mà quan trọng hơn, gần gũi với giáo dân, đồng thời chú ý đến hàng ngũ giáo dân được đào tạo để dấn thân trong trần thế. Nên nhớ đây là những trục tư tưởng chính trong công đồng Vatican II (1963-1965, đặc biệt qua sắc lệnh “Chức vụ và đời sống linh mục”, hai Hiến chế về Giáo Hội và Giáo Hội trong thế giới ngày nay). Tuy không tham dự Công đồng -thậm chí có thể không nắm bắt tình hình thời sự của Công đồng tại Vatican trong những năm Việt Nam đóng cửa- nhưng dường như ngài đã có những trực giác ấy của Công đồng. Người ta có thể giải thích đó là do hoàn cảnh thực tế của các giáo phận bắt buộc ngài suy nghĩ thế, nhưng tại sao chúng ta không được phép nghĩ đó là kết quả thu lượm được từ những suy nghĩ và cầu nguyện sâu xa của ngài về Ðức Giêsu mục tử, hay từ tấm lòng nhân ái và bao dung của một người cha và một người thầy? Ðó có lẽ cũng là điểm lôi kéo nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân từ miền Nam tìm gặp ngài sau ngày đất nước thống nhất: tại Bắc Ninh, người ta không chỉ nghe mà còn chứng kiến thấy sự gần gũi của ngài với giáo dân, cũng như sự trân trọng và tin tưởng ngài dành cho các tông đồ giáo dân - nhất là những giáo dân tận hiến trọn đời cho Chúa và cho Giáo Hội” (Lm. ĐXT).
    2. Một vị mục tử nhân lành
    Ngày 07 tháng 10 năm 1963, Đức cha Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng về nhận giáo phận Bắc Ninh, một giáo phận trải dài từ Đồng bằng Sông Hồng đến giáp biên giới Việt Trung gồm “năm tỉnh trực thuộc và 7 tỉnh liên hệ”. Số linh mục già yếu ở lại giáo phận sau cuộc di cư 1954 đếm được trên đầu các ngón tay và có lúc chỉ còn “1 linh mục rưỡi”! Vậy mà chỉ sau một thời gian vắn, giáo phận Bắc Ninh đã dần dần hồi sức và bước vào giai đoạn cường tráng tràn đầy sức sống. Mỗi ngày Chúa Nhật, trong các buổi cầu nguyện chung, giáo dân được nghe những bài suy niệm Lời Chúa thật đơn sơ, dễ nhớ, dễ thuộc mà tác giả đã suy gẫm lâu giờ trước Thánh Thể và chỉ dẫn những chi tiết cụ thể để thực hành Lời Chúa. “Thông qua đội ngũ tông đồ giáo dân đông đảo, được huấn luyện cách căn bản, ngài đã điều hành được giáo phận” (Lm . ĐXT).
    Ngài duy trì và thích nghi nếp sống Nhà Đức Chúa Trời để thành lập cộng đoàn Anh em Nhà Chúa cho những người nam muốn “dâng mình cho Chúa” và cộng đoàn Tận hiến cho những người nữ độc thân.
    Hơn 20 năm Đức Giám mục giáo phận không được ra khỏi Tòa Giám mục để thi hành mục vụ! Khi Chủ chăn không thể đến với đoàn chiên thì đoàn chiên tìm đến với người mục tử. Tòa Giám Mục Bắc Ninh đã thật sự trở thành Nhà Chung của giáo phận. Để đồng cảm và gần gũi với quần chúng giáo dân, chăm lo cho giáo dân từng bữa cơm, từng đêm ngủ, gia đình Tòa Giám mục từ Đức cha cho đến người giúp việc đã lựa chọn một nếp sống giản dị, khó nghèo và phục vụ. Không người giáo dân nào cảm thấy mình là người xa lạ khi về Tòa Giám mục. Hàng ngày, Đức cha cùng ăn, cùng đọc kinh chung với giáo dân. Trong thời kỳ “hạt gạo miền Bắc chia ba” mà nhà ăn Tòa Giám mục thường xuyên đông vui, đầm ấm. Những ngày lễ trọng, Đức cha kêu gọi và tổ chức cho giáo dân “góp gạo thổi cơm chung”. Trên những chiếc xe đạp “cọc cạch” của giáo dân “miền rừng” có cả bó củi, bao khoai, bao sắn… góp thêm chất đốt và thực phẩm cho “nồi cơm chung giáo phận”! Cộng đoàn tín hữu thời các thánh Tông đồ được tái hiện ngay tại Nhà Chung Bắc Ninh!
    Nuôi dưỡng đời sống tâm linh cho giáo dân là điều luôn thúc bách vị chủ chăn. Không được đến với giáo dân, Đức cha đã trăn trở suy nghĩ làm sao để đời sống đức tin của giáo dân được nuôi dưỡng. Hàng tuần ngài gửi các bài suy niệm Lời Chúa đến từng xứ họ. Ngài đặt lời Thánh vịnh vào những làn điệu quan họ Bắc Ninh để ngâm nga, ca ngợi Thánh Tâm Chúa. Ngài soạn “Kinh Bản tắt” giúp giáo dân học hỏi giáo lý căn bản trong các buổi cầu nguyện chung. Ngài sáng tác những vần thơ “Ca nhiệm tích”, “Tóm lược cuộc đời Chúa”… giúp giáo dân dễ dàng thực hành việc thánh hoá ngày sống, học hỏi giáo lý và gặp gỡ Lời Chúa bất cứ lúc nào và bất kỳ ở đâu. Tiếp bước các vị tiền bối, ngài đã đưa Tin Mừng hội nhập nền văn hoá dân tộc.
    Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, ngài dâng giáo phận cho Thánh Tâm và phát động phong trào dâng các gia đình cho Thánh Tâm Chúa. Nhiều gia đình đã thực sự trở thành nhà cầu nguyện, trường dạy giáo lý. Ngài đã vượt qua mọi trở ngại để tổ chức định kỳ những “đại hội” Ban Hành Giáo, cộng đoàn “sống lý tưởng tại gia”, “Dòng Ba Đaminh”, đoàn “thiếu nhi” Thánh Thể ... Nhờ những “đại hội” định kỳ cho từng thành phần ấy, các buổi cầu nguyện chung được duy trì và ngày càng có sức thu hút giáo dân, đặc biệt giới trẻ hăng say học hỏi Lời Chúa, suy tôn Lời Chúa và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
    Ngày 18 tháng 05 năm 1990, Đức Hồng Y Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Trịnh Văn Căn qua đời. Đức cha Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng được bổ nhiệm làm Giám quản Tông Toà Tổng giáo phận Hà Nội. Ngày 23-03-1994 Ngài được bổ nhiệm Tổng Giám mục và cùng năm ấy ngày 26 tháng 11 ngài được vinh thăng Hồng Y.
    “Ngài là một trong những gương mặt vĩ đại của Giáo Hội Việt Nam, là chứng nhân lịch sử của Giáo Hội ở Miền Bắc trong hơn 70 năm qua. Ngài đã góp phần to lớn và quan trọng trong việc xây dựng Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt là trong các lãnh vực tông đồ, đào tạo, tổ chức nhân sự và quan hệ ngoại giao. Cuộc đời phục vụ của ngài còn để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá trong công cuộc xây dựng Giáo Hội hôm nay” (Lm. Thanh Bình).
    Ngài qua đời ngày 22 tháng 02 năm 2009, một tháng sau dịp mừng kỷ niệm 90 năm ngày sinh, 60 năm Linh mục, 45 năm Giám mục, 15 năm Hồng Y.
    Để ghi dấu ấn về cuộc đời của Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói trong Huấn từ với HĐGMVN dịp các Giám mục Việt Nam thăm viếng Toà Thánh tháng 06 năm 2009: “Tôi muốn tưởng nhớ ở đây Đức Hồng Y đáng kính Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám mục Hà Nội trong nhiều năm. Cùng với Anh Em, tôi tạ ơn Thiên Chúa vì lòng nhiệt thành mục tử của Ngài đã thể hiện cách khiêm nhường, với tình yêu hiền phụ sâu xa đối với đoàn dân của Ngài và tình huynh đệ lớn lao đối với các linh mục”. Và khi được tin Đức Hồng Y qua đời, trong điện văn phân ưu gửi tới Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã viết: “Đức cố Hồng Y đã phục vụ Giáo Hội trong những hoàn cảnh khó khăn với lòng can đảm lớn lao và trong niềm quảng đại trung thành với Toà Thánh Phêrô, xả thân tận tuỵ rao giảng Tin Mừng”.
    Thiết tưởng đây là lời đẹp nhất mà Đức Thánh Cha đã dành cho Đức cố Hồng Y kính yêu của chúng ta, bởi vì cả cuộc đời ngài là một lời tuyên xưng liên lỉ: “Tôi tin vào Tình Yêu Thiên Chúa”.
    GP Bắc Ninh
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 02-06-2010 lúc 08:33 AM

  20. Có 2 người cám ơn Damsan vì bài này:


  21. #44
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Gioakim NGUYỄN QUANG MỸ
    (1910-1977)

    Cha Gioakim Nguyễn Quang Mỹ (còn gọi là cha Kim) sinh năm 1910 tại giáo họ Lạng Am, thuộc xứ Nam Am, giáo phận Hải Phòng. Ngài là một linh mục đã trải qua nhiều đau thương nhưng vẫn luôn nhiệt thành và mẫu mực trong đời mục tử.
    Sau khi được thụ phong linh mục, ngài được bổ nhiệm làm cha xứ Đông Khê (Đông Triều, Quảng Ninh). Trong thời kháng chiến, ngài bị chính quyền Việt Minh bắt giam 5 năm (1949-1954). Sau cuộc di cư năm 1954, Đức Giám mục Hải Phòng là Đức cha Giuse Trương Cao Đại và một phần lớn linh mục đã di cư, giáo phận chỉ còn lại 13 linh mục đã già yếu. Phần cha Gioakim Mỹ, sau khi ra tù, đã về làm mục vụ tại xứ Kẻ Sặt, vì lúc đó linh mục chính xứ Kẻ Sặt đã di cư vào miền Nam.
    Linh mục Gioakim được mọi người ca tụng như một vị chủ chăn hiền từ, hy sinh tận tuỵ phục vụ đàn chiên. Công việc mục vụ của ngài trải dài trên một nửa tỉnh Hải Dương hiện nay, tức là gồm các giáo xứ: Kẻ Sặt, Đào Xá, Bùi Xá, Phú Lộc, Đồng Bình, Đồng Vạn, Bùi Hòa, Từ Xá, Phương Quan, Ba Đông, Kẻ Bượi. Với phương tiện lúc bấy giờ chỉ là một chiếc xe đạp cũ, cha Gioakim vẫn nhiệt thành trong công việc. Ngài thường xuyên di chuyển từ xứ này tới xứ khác trong suốt tuần để “làm phúc”.
    Nhưng những gian lao khốn khó nhất mà cha Gioakim đã phải chịu là những cáo buộc trong thời cải cách ruộng đất năm 1955. Theo “chỉ tiêu” của Nhà Nước, nhiều làng xã đã có những người dân lành bị kết án “địa chủ”, bị đấu tố và xử bắn công khai cho dân khiếp sợ. Cha Gioakim đã bị đấu tố, nhục mạ và vu khống đủ mọi điều xấu xa. Ngài bị cấm không được tiếp xúc với giáo dân. Có người giáo dân trong làng Kẻ Sặt đã bị cán bộ cải cách mua chuộc và dàn dựng để vu khống cho ngài. Vào thời điểm “nhất đội nhì trời” này, những liên lạc với người bị quy tội địa chủ hoặc các cha các thày, có thể là nguyên nhân của mọi vu khống và tố giác. Người ta nghi ngờ nhau, ngay cả giữa các thành viên trong cùng một gia đình hay những người sống cùng một xóm. Có nhiều người thương muốn giúp đỡ cha Gioakim, phải âm thầm mang cá kho, gạo hoặc thức ăn để ở tòa giải tội, để ngài mang về nhà xứ. Sau này, kể lại những kinh nghiệm đau thương của giai đoạn cải cách ruộng đất, ngài thường gọi đó là “thời của hỏa ngục và ma quỷ”.
    Cha Gioakim cũng lo lắng cho việc vun trồng ơn gọi linh mục cho tương lai. Ngài nuôi rất nhiều các chú giúp lễ, nhưng vào thời đó không có chủng viện, nên các chú giúp lễ khi lớn lên không còn lựa chọn nào khác là về sống bậc gia đình. Trong số những con cái thiêng liêng của cha già Gioakim, có cha Giuse Phạm Văn Dương (đã qua đời năm 2001) và Đức cha Giuse, Giám mục Hải Phòng hiện nay. Những cậu giúp lễ, những cô ca đoàn thời cha Gioakim xưa kia, hiện nay vẫn quy tụ với nhau thành hội đoàn, với thao thức lưu giữ những kỷ niệm và gương sáng của ngài.
    Vào năm 1976, Đức cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo đau nặng, các linh mục trong giáo phận đã mời cha Gioakim về Tòa Giám mục với tư cách là linh mục niên trưởng, để điều hành giáo phận trong khi Đức cha Phêrô Maria đau bệnh. Sau 21 năm phục vụ giáo xứ Kẻ Sặt, cha già Gioakim đã về Hải Phòng tháng 06 năm 1977. Ngày 18-8-1977, Đức cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo qua đời. Sau đó, cha Gioakim cũng ốm đau bệnh tật triền miên và ngài đã yên nghỉ trong Chúa ngày 23-11-1977, tại bệnh viện Việt-Tiệp Hải Phòng. Thi hài của ngài được an táng tại nghĩa trang Kẻ Sặt, giữa những người giáo dân mà ngài đã suốt đời hy sinh tận tâm để phục vụ.
    Linh mục Gioakim Nguyễn Quang Mỹ là nhân chứng cho những khó khăn khốc liệt một thời của Giáo Hội miền Bắc. Ngài cũng là tấm gương hy sinh đối với các linh mục trong sự nhiệt tâm phục vụ các linh hồn. Ước mong việc nhắc lại cuộc đời và sự nghiệp của ngài nhân Năm Linh mục sẽ giúp cho các linh mục hôm nay thêm lòng nhiệt thành tận tuỵ phục vụ các linh hồn.

    GP Hải Phòng

  22. Có 2 người cám ơn Damsan vì bài này:


  23. #43
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Phaolô NGUYỄN KHẮC HY
    (1902–1992)

    Linh mục Phaolô Nguyễn Khắc Hy là cha xứ Hoàng Xá. Từ Toà giám mục Hưng Hoá tại Sơn Tây, đi ngược theo quốc lộ 32 khoảng 20 km, qua cầu Trung Hà rẽ trái, rồi ngược dòng sông Đà theo tỉnh lộ 316, tới kilômét 13 rẽ phải sang tỉnh lộ 317, đi thêm 3km, là đến xứ Hoàng Xá, một giáo xứ có bề dày lịch sử trên 115 năm và số giáo dân đông nhất giáo phận. Nơi đây đã trải qua nhiều đời các đấng coi sóc, trong đó không thể không kể đến cha già cố Phaolô Nguyễn Khắc Hy, người đã gắn bó với giáo dân và giáo xứ Hoàng Xá gần một nửa thế kỷ.
    Cha già Phaolô Nguyễn Khắc Hy sinh ngày 22 tháng 03 năm 1902 tại giáo xứ Trù Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Khi còn nhỏ người đã sớm có hướng đi tu; năm lên 9 tuổi đã được cha già Triệu nhận làm nghĩa tử, rồi năm 12 tuổi được gửi vào Tiểu chủng viện Hà Thạch. Người nổi tiếng là thông minh. Năm 1923, sau khi mãn “Tràng La-tinh”, người được cử làm “thầy giáo” tại Tiểu chủng viện Hà Thạch, và thường xuyên về Toà giám mục tại Hưng Hoá lĩnh bài học “Phi-lô” (Triết học).
    Năm 1929, người được gửi đi tu học tại Đại chủng viện Kẻ Sở thuộc giáo phận Hà Nội. Sau tám năm ngồi ghế nhà trường, ngày 13 tháng 03 năm 1937 người được Đức cha Gustave Vạn truyền chức linh mục tại Nhà thờ chính toà giáo phận Hưng Hoá.
    Những tháng đầu đời mục tử, cha đi giúp các đấng trong giáo phận, rồi trở về phục vụ tại Toà giám mục.
    Ngày 20 tháng 09 năm 1938, Đức Giám mục bổ nhiệm cha Phaolô Hy làm cha giáo Tiểu chủng viện Hà Thạch. Sau 5 năm đứng trên bục giảng, năm 1945, cha được cử làm “Cha đốc tràng Hà Thạch”.
    Ngày 10 tháng 05 năm 1947, cha nhận được bài sai đi làm chính xứ Hoàng Xá. Ngày 29 tháng 08 năm 1947, cha chính thức nhận nhiệm sở thay cha già Lượng và cha Chiểu.
    Thời kỳ đó, tình hình chiến tranh loạn lạc, lòng người dao động, đạo Công giáo bị gò bó, cơ sở vật chất thiếu thốn đủ bề. Dầu vậy, ngay từ những ngày đầu, cha đã cố gắng quy tụ đoàn chiên, củng cố cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề tồn tại. Chiến tranh ngày càng ác liệt, công việc đã khó khăn lại chồng chất khó khăn.
    Năm 1949, theo ý kiến của chính quyền, cha phải rời xứ tản cư lên vùng Yên Tập, Cẩm Khê. Suốt 2 năm trời, tâm trí cha lúc nào cũng trăn trở nghĩ đến đoàn chiên mà bề trên đã trao phó cho mình chăm sóc.
    Khi chiến tranh trong vùng Hoàng Xá lắng xuống, cha trở về giáo xứ với hy vọng sẽ gặp thuận lợi để phục vụ giáo dân, phục vụ giáo xứ. Nhưng năm 1953, với chính sách phát động giảm tô, cha phải nộp tô theo quy định của chính quyền, thậm chí phải nộp cả phương tiện đi lại làm mục vụ là chiếc xe đạp.
    Năm 1954, một số giáo dân đã bị xúi giục dùng những lời lẽ bịa đặt để khép cha vào thành phần địa chủ, thành phần bóc lột nhân dân. Chuyện kể lại: vào một buổi trời mưa rất to, họ bắt cha đứng dưới giọt mái nhà tranh, tuy rét run vì ngấm nước nhưng cha vẫn không phản ứng một câu. Lại có kẻ vu cáo cha rằng: “Năm 1945 nhà xứ thì nhiều thóc, thậm chí có thóc đổ xuống ao cho cá ăn, trong khi đàn con tao bị đói, tao vào hỏi vay mà mày không cho”, khi ấy cha chỉ nói lại rằng: “Thưa bà, năm 1945 thì con không biết, vì năm 1947 con mới được về đây”.
    Từ những năm đó cho đến năm 1960, cha sống âm thầm một mình, tất cả mọi thứ hầu như tự mình phục vụ.
    Từ năm 1960 đến năm 1962, bề trên giáo phận đã sai thầy Sự đến giúp cha.
    Từ năm 1963 cho tới cuối đời (1992), một phần do hoàn cảnh xã hội, phần lớn do lối sống khiêm hạ của cha, cha đã sống âm thầm suốt 30 năm, một mình, không người giúp đỡ.
    Như Chúa Giêsu, cha chăm sóc chiên mà lại bị chiên phản bội. Nhưng nhờ ơn Chúa và nỗ lực của bản thân, cha đã đứng vững. Mặc dù bị quản lý cả về giờ giấc làm mục vụ, nhưng cha vẫn thầm lặng chịu đựng, một lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, hết lòng phục vụ giáo dân, phục vụ giáo xứ.
    Năm 1959, trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt, cha đã cố gắng không biết mệt mỏi xây dựng hang đá để tổ chức lễ Giáng Sinh.
    Năm 1960, Đức cha Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang đã đặt cha làm Cha Chính (tổng đại diện) giáo phận Hưng Hoá.
    Ngày 13 tháng 3 năm 1962, cha mừng Ngân khánh Linh mục. Để đánh dấu kỷ niệm 25 năm thụ phong linh mục, cha đã đóng một giảng đài để công bố Lời Chúa.
    Cuộc sống cứ âm thầm lặng lẽ trôi theo thời gian cho đến năm 1983, khi cha xứ Phù Lao Giuse Trần Văn Tín qua đời, Toà giám mục đã bổ nhiệm cha coi sóc thêm hai giáo xứ Phù Lao và Xuân Dương. Nhờ ơn Chúa, cha vẫn sắp xếp thời gian hợp lý để hoàn thành việc phục vụ giáo dân cả 3 giáo xứ với 16 giáo họ.
    Ngày 13 tháng 3 năm 1987, cha tổ chức Lễ Kim Khánh, mừng kỷ niệm 50 năm linh mục. Đông đảo các đấng trong giáo phận và đoàn chiên các xứ họ cùng đoàn thể xã hội tới chúc mừng.
    Với những cống hiến của cha, ngày 20 tháng 6 năm 1989, cha được vinh dự đón Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn về thăm và dâng Thánh Lễ tại nhà thờ Hoàng Xá.
    Trong suốt đời mục tử, cha đã dâng trọn đời mình cho Chúa, đã nuôi dưỡng và dạy dỗ các nghĩa tử, trong đó có người đã được Chúa chọn lên chức linh mục và nhiều người là tu sĩ trong các hội dòng.
    Đặc biệt với giáo dân giáo xứ Hoàng Xá, nơi mà cha đã 45 năm gắn bó và hy sinh phục vụ, cha đã ban Bí tích Thánh tẩy cho hàng vạn người để họ trở thành những Kitô hữu và chứng nhân cho Chúa, đã cùng chia cơm sẻ áo cho đoàn chiên của mình trong tình cảnh xã hội gặp nhiều khó khăn. Với lý tưởng cao cả và nhờ sự trợ giúp của Thánh bổn mạng Phaolô, cha đã kiên cường, trung tín và nhiệt thành trong sứ mạng tông đồ, hết lòng vì con chiên, đã gìn giữ, tu sửa nhiều lần ngôi thánh đường giáo xứ Hoàng Xá, sửa chữa và làm mới các nhà thờ họ lẻ.
    Trong đời sống xã hội, cha luôn dạy bảo giáo dân làm người công dân tốt. Cha luôn đi đầu trong phong trào gửi tiền tiết kiệm, mua công trái nhà nước, giúp đỡ những vùng bị thiên tai.
    Những năm cuối đời, vì tuổi cao sức yếu, với trách nhiệm Cha Chính giáo phận, cha xứ Hoàng Xá, kiêm nhiệm xứ Phù Lao và Xuân Dương, thấy cha đi lại vất vả, có giáo dân đã tình nguyện đưa đón cha bằng xe gắn máy, nhưng cha vẫn từ chối. Khi nắng trảng trưa hè, lúc mưa buốt đêm đông, một cụ già với chiếc áo dài năm thân trên chiếc xe đạp cũ, vẫn đi đến các xứ, các họ dâng lễ, ban bí tích cho các bệnh nhân.
    Ngày 15 tháng 02 năm 1992, cha lâm bệnh nặng. Mặc dù đã được các y bác sĩ hết lòng cứu chữa, được giáo dân chăm sóc tận tình, nhưng vì tuổi cao, sức yếu, cha già Phaolô Hy đã được Chúa gọi về hưởng nhan thánh Chúa vào hồi 4 giờ 30 phút ngày 29 tháng 03 năm 1992.
    Trong buổi lễ an táng, ngoài linh mục đoàn trong giáo phận, có hàng vạn giáo dân sụt sùi tiễn đưa người cha già khả kính của mình. Người an nghỉ bên cạnh ngôi thánh đường xứ Hoàng Xá.
    Cha Phaolô Nguyễn Khắc Hy là hiện thân của Chúa Kitô về tinh thần quả cảm, tính kiên nhẫn, sự hy sinh quên mình. Cả cuộc đời người sống không phải cho mình, nhưng hoàn toàn sống cho lý tưởng linh mục, sống cho Tin Mừng, sống cho đoàn chiên yêu dấu.


    GP Hưng Hóa

  24. Có 5 người cám ơn Damsan vì bài này:


  25. #42
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức Ông Giuse Đích
    NGUYỄN NGỌC OÁNH
    (1922–2007)
    Vị tông đồ nhiệt thành

    Đức Ông Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh sinh ngày 10-04-1922 tại làng Chi Long, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam, quê hương thánh tử đạo Antôn Nguyễn Đích, trong một gia đình công giáo đạo đức gồm 6 người con, 4 trai, 2 gái, trong đó có hai người dâng mình cho Chúa làm linh mục của Tổng giáo phận Hà nội là Đức Ông Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh và linh mục Anphongsô Đích Nguyễn Ngọc Châu.

    Tuy ông nội và thân phụ có học thức và vai vế trong xã hội, nhưng gia đình Đức Ông sống đạm bạc thiếu thốn. Nhờ cha già Phêrô Nguyễn Huy Tôn nâng đỡ, cậu Oánh mới được ăn học. Có trí thông minh và ý chí cầu tiến, nên cậu Oánh học hành tiến bộ, thi đâu đậu đấy.
    Năm 1933, cậu được tuyển vào Tràng tập Hà nội để tìm hiểu ơn gọi. Thấy cậu có lòng đạo đức và quyết chí dâng mình cho Chúa, nên năm 1936 bề trên đã cho cậu vào Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Học hành xuất sắc nên đã được bề trên cho theo học trường Pasteur Hà Nội để thi bằng Tú tài vào năm 1944. Tháng 8 năm 1944 cậu được theo học tại Đại chủng viện Saint Sulpice Liễu Giai.
    Tháng 7 năm 1951, sau khi lãnh chức phụ phó tế, thầy Oánh được cử đi du học tại Hoa Kỳ. Tiếp tục học thần học tại Đại chủng viện Saint Meinrad, Indiana, thầy được chịu chức linh mục ngày 03-05-1952. Sau đó, cha Oánh được chuyển đến Đại học Loyola tại Chicago để học môn Xã hội học. Tháng 6 năm 1954 cha tốt nghiệp master về Xã hội học. Đang tiếp tục dọn tiến sĩ thì ngài nhận được thư của cha Phêrô Nguyễn Huy Mai chuyển đạt lệnh truyền của Đức cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê như sau: “Xin cha biên thư cho các cha Trương, cha Thông, cha Oánh, báo tin cho các cha ấy biết tôi muốn cho các cha ấy về Bắc. Các cha bỏ đi Nam nhiều, thiếu người làm việc. Tôi muốn mở lại các Chủng viện. Tôi để tùy ý các cha, nhưng nếu các cha ấy về, thì tôi vui mừng lắm”.
    Nhận được thư ấy, ngài lo âu suy nghĩ rất nhiều. Vì đang học dở dang. Vì hoàn cảnh quê nhà đang rối ren và những người thân thiết đều ngăn cản. Nhưng cha Thông nói với ngài: “Bỏ tất cả mà về, thì được Chúa Thánh Thần”. Thế là hai cha cùng nhau quyết định vâng lời bề trên trở về giáo phận dù rất băn khoăn lo lắng vì biết chắc sẽ gặp nhiều khó khăn.
    Tháng 9 năm 1955, về đến nhà, ngài lao ngay vào công việc, vừa làm thư ký cho Đức cha, vừa dạy học cho Tiểu chủng viện Gioan, vừa dạy giáo lý cho giới trí thức. Có thể nói các lớp giáo lý này là một thao thức hợp thời nên đã qui tụ được một khối lượng học viên trí thức lớn lao. Mỗi tuần hai buổi qui tụ hàng ngàn sinh viên và giáo viên, lớp giáo lý có kết quả rất tốt. Vì lớp giáo lý có ảnh hưởng sâu rộng nên chính quyền ra lệnh đình chỉ. Ngài lại lui vào âm thầm, tổ chức đào tạo giáo lý viên trong Tòa giám mục.
    Thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của ngài, và vì ngài không ủng hộ Ban Liên Lạc Công giáo nên chính quyền quyết định bắt ngài cải tạo tại chỗ. Ngày 16-08-1965, ngài bị quản chế tại Chuôn Trung với kỷ luật nghiêm ngặt: Không được đi ra khỏi thôn. Không được nói chuyện với bất cứ người nào trong thôn. Khách muốn đến thăm phải có phép của công an. Không được làm lễ trước mặt giáo dân.
    Tuy bị quản chế nghiêm ngặt, hằng ngày phải chịu đựng những thái độ, lời lẽ nghi kỵ, nhục mạ, luôn bị gọi lên thẩm vấn, điều tra, làm kiểm điểm, làm báo cáo liên tục, ngài vẫn luôn vui tươi. Ngài hăng hái làm việc tay chân như cuốc đất trồng rau, đào giếng. Và nhất là dù bị cấm đoán, ngài vẫn dâng lễ vào lúc 2 giờ sáng để giáo dân có thể tham dự thánh lễ. Ngài dâng lễ rất sốt sắng. Đó là lý do tại sao giáo dân xa xôi cũng đến tham dự thánh lễ vào lúc 2 giờ sáng. Ngài lợi dụng thời gian để cầu nguyện và tôn thờ Thánh Thể. Đó chính là nguồn sống, nguồn sức mạnh nâng đỡ ngài trong thời gian rất khó khăn này.
    Trong suốt 20 năm, ngài thường xuyên liên lạc với Đức cha Khuê bằng thư từ hoặc nhắn gửi. Đặc biệt trong những ngày lễ ngày tết không bao giờ ngài quên viết thư chúc mừng Bề trên Giáo phận. Nhận được thư của ngài, Đức cha Khuê đều trả lời với lòng quí mến, rất ưu ái. Ngài cũng thường viết thư trao đổi với Đức cha Thuận đang bị quản chế tại Hà Nội. Để trả lời ngài, Đức cha Thuận cũng thường viết thư cho “em Oanh Sắc” (ý nói cha Oánh).
    Ngài vừa khiêm tốn vừa cương quyết trong thái độ đối với chính quyền. Khiêm tốn nên không bao giờ chống đối hay có ý tưởng oán thù, trái lại luôn chấp hành mọi chỉ thị của Nhà Nước. Nhưng cương quyết thi hành nhiệm vụ linh mục, không tán thành Ủy ban Liên Lạc Công giáo và không bao giờ chịu tố cáo những người xưng tội, những người con linh hướng của ngài. Ngài đã viết trong bản tự kiểm: “Tôi nhiệt liệt ca ngợi những công trình xây dựng làm cho dân giầu nước mạnh. Còn chủ nghĩa xã hội xây dựng trên nền móng duy vật, tôi nhận thấy điều đó không hợp với tín ngưỡng của tôi tin có một Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, có linh hồn bất tử và có thưởng phạt đời sau”. “Đối với các linh mục trong Ủy ban Liên Lạc, tôi mến trọng các ngài… nhưng đứng về phương diện Giáo Hội, tôi không đồng ý với các ngài được”. “Chính quyền có nhắc đến tên những anh Đông, Hùng, Hưng, Bích, Thành, Tiến hiện đang bị bắt giữ. Tôi biết những người đó vì họ có đến với tôi về việc đạo, thuộc phạm vi lương tâm liên quan đến linh hồn thiêng liêng của họ. Nói về họ ngược với lương tâm tôi là một người cha thiêng liêng, là một linh mục của các linh hồn, không hợp với luật đạo chúng tôi”. “Tôi kính nể và tôn trọng chính quyền. Tôi cũng muốn làm đầy đủ nghĩa vụ thiêng liêng của một linh mục đối với Thiên Chúa và đối với các linh hồn” (Tự kiểm ngày 05-04-1965 tại Sở Công an Hà Nội). Trong những năm tháng bị quản chế và cả sau này, không bao giờ ngài có lời lẽ oán thù, bực tức, ngay cả nói xấu Nhà Nước cũng không.
    Sau 20 năm bị giam lỏng, ngài được tự do vào năm 1985 để đi coi xứ Hà Thao, tiếp tục dạy Đại chủng viện, đặc trách người dân tộc Mường vùng Hòa Bình và làm thư ký cho Hội đồng Giám mục.
    Sở dĩ ngài được giao nhiều công việc vì có nhiều khả năng, nhưng trên hết vì ngài là người luôn vâng lời và nhiệt thành việc tông đồ. Nhưng dù làm việc gì, ngài cũng luôn khiêm tốn, đơn sơ và nhiệt thành. Tuy lớn tuổi và ở xa chủng viện, nhưng ngài luôn đi xe ôm để đi dạy và không bao giờ bỏ mất giờ nào. Ngoài việc dạy dỗ trong Chủng viện, ngài cổ võ ơn kêu gọi và giúp các thanh niên thiếu nữ đi học đại học. Có thể nói các con cái thiêng liêng của ngài là những người đầu tiên được học đại học.
    Vùng Hòa Bình còn rất khó khăn, nhưng ngài liên tục vào thăm người dân và làm mọi việc có thể làm để phục hồi những xứ đạo đã bị tàn phá trong chiến tranh. Bị chính quyền cấm đoán, nhưng ngài vẫn kín đáo lui tới. Biết bao lần xe bị chặn bắt. Biết bao lần phải vào trụ sở Ủy ban để làm việc và ngồi chờ hết ngày giờ. Biết bao lần bị khiển trách. Nhưng ngài vẫn hăng hái nhiệt thành lo cho vùng Hòa Bình. Bị cấm sửa chữa nhà thờ, ngài đã cho đốt đèn âm thầm làm trong đêm tối. Bị ngăn cấm dạy giáo lý, ngài đưa người dân tộc Mường ra Hà Thao để dạy giáo lý cho họ. Ngài tuyển chọn các học sinh người dân tộc Mường, lo cho các em được đi học và khuyến khích các em dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì. Kết quả ngài đã gây dựng được 2 linh mục và 2 nữ tu người dân tộc Mường.
    Tuy có vị trí đáng kính trong Giáo Hội nhưng ngài luôn nêu gương về đời sống đơn sơ khiêm nhường. Đơn sơ khó nghèo trong việc sử dụng của cải. Ở căn nhà đơn sơ. Dùng những dụng cụ đơn sơ. Y phục rất đơn sơ. Đơn sơ khó nghèo cả trong tinh thần từ bỏ danh vọng chức quyền. Sau khi làm thư ký cho Hội đồng Giám mục một thời gian, ngài tự ý rút lui để nhường chỗ cho người khác. Được phong tước Đức Ông nhưng không bao giờ ngài tự xưng là Đức Ông, không bao giờ mặc áo viền tím. Nhiều người ngưỡng mộ xin ngài kể lại cuộc đời của ngài cho mọi người biết, ngài luôn trả lời: “Mình thế nào thì mọi người đã biết cả rồi”.
    Vị tông đồ luôn hăng say nhiệt thành với công việc mục vụ đã an nghỉ trong Chúa lúc 2 giờ sáng ngày 13-08-2007 tại Hà Thao, hưởng thọ 86 tuổi.
    Thật là một tấm gương chói sáng. Vì thế ngài luôn luôn được bề trên, anh em và học trò ngưỡng mộ, yêu mến và mong muốn bắt chước.

    TGP Hà Nội

  26. Có 2 người cám ơn Damsan vì bài này:


  27. #41
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Vinh Sơn HOÀNG TRỌNG QUỲNH
    (1903–2000)
    Cha Chính giáo phận Lạng Sơn


    Đôi nét cuộc đời
    Cậu Vinh Sơn Hoàng Trọng Quỳnh cất tiếng khóc chào đời năm 1903, tại Hậu Phú, Nam Định thuộc giáo phận Bùi Chu.
    Năm 13 tuổi cậu Quỳnh đã bắt đầu lên Lạng Sơn để tập tu ở Tiểu Chủng Viện Lạng Sơn, nằm ở giáo xứ Mỹ Sơn. Sau đó, chú Quỳnh được gọi đi học lý đoán ở Đại chủng viện Hà Nội, nhưng do bị bệnh đã trở về giáo phận và giúp xứ ở các giáo xứ Cao Bình, Tinh Túc, Bản Lìm, Mỹ Sơn, Cửa Nam.
    Suốt 33 năm làm thầy, từ năm 1946 đến 1979, thầy luôn được Bề trên tín nhiệm và giáo dân tin yêu quý mến. Thầy có nhiều khả năng về âm nhạc, sửa chữa và sáng chế ra đồng hồ chỉ bởi mấy bánh xe đồng hồ cũ. Khi còn ở với cha Kế, thầy đã sáng chế ra một chiếc đồng hồ theo ánh nắng của mặt trời, để ở một góc sân cho mọi người xem giờ. Thầy còn rất sáng tạo trong việc dạy giáo lý, thầy có cuốn phim nhựa hình ảnh Kinh Thánh, thầy nhặt các kính hiển vi hỏng để chế ra chiếc máy phát hình cho các em học giáo lý xem. Thầy tổ chức tuần cửu nhật khấn Đức Mẹ và dạy giáo lý trong nhà thờ Mỹ Sơn.
    Khoảng năm 1996, thầy phải trải qua một ca phẫu thuật nguy kịch tại bệnh viện sơ tán Kéo Tầu gần Tam Thanh. Thời gian này thầy được Bà Mến (Dì Mến) và ông trùm Thành chăm sóc. Dù bệnh tật đau đớn nhưng thầy Quỳnh vẫn một lòng gắn bó với giáo phận, vì thế sau khi từ bệnh viện về vì thầy chẳng còn gì khác để trang trải nên đành bán chiếc xe đạp để tiếp tục ở lại Lạng Sơn để phục vụ.
    Có thể nói, suốt quãng đời làm thầy dù thật khổ, nhưng thầy vẫn vững bước theo Chúa. Vì lúc đó giáo phận không còn linh mục nào, Đức cha Dụ đã cử thầy Quỳnh đi học bổ túc ở Bắc Ninh để về làm linh mục, nhưng không được vì nhà nước không đồng ý.
    Vào năm 1979, nhân dịp chạy giặc Tàu về qua Bắc Ninh rồi đến Bùi Chu, thầy Quỳnh đã được Đức cha Vinh Sơn Dụ nhờ Đức cha Cung, Đức cha Bùi Chu truyền chức linh mục. Khi đó thầy đã 76 tuổi. Dù thế, ngài vẫn là linh mục “chui”; do đó, khi trở về Lạng Sơn, khi dâng lễ cha Quỳnh chỉ mặc áo alba và đeo dây stola.
    Năm 1982, nhân dịp lễ giỗ cho Cha Chính Khái, Đức cha Dụ đã yêu cầu cha Quỳnh mặc áo lễ tím để đồng tế. Kể từ đó Đức cha Dụ chính thức công khai hóa chức linh mục của cha Quỳnh ở địa phận, và sai cha về làm mục vụ ở nhà thờ Mỹ Sơn.
    Vào dịp lễ Giáng sinh năm 1983, ông chủ tịch mặt trận tỉnh Lạng Sơn đồng ý việc cha Quỳnh dâng lễ ở Cửa Nam và Mỹ Sơn một cách công khai. Kể từ đó, một cách mặc nhiên, linh mục Quỳnh đã được nhà nước công nhận. Vì thế, dù tuổi cao sức yếu, một mình cha đã phải đảm nhận công việc mục vụ hầu hết cả giáo phận trải dài từ Lạng Sơn đến Cao Bằng vì Đức cha Dụ chỉ được ở một nơi, xứ Thất Khê.
    Năm 1994, cha Quỳnh đã khôi phục lại giáo xứ Lộc Bình. Nhà thờ Lộc Bình trước đó do thời cuộc đã bị chiếm đóng và bị biến thành kho đựng vật liệu của công trường cầu đường, nhờ cha Quỳnh can thiệp mà nhà thờ đã được trả lại, dần dần giáo xứ Lộc Bình đã hồi sinh. Hơn nữa, ngài được Đức cha Dụ tín nhiệm đặt làm Cha Chính của giáo phận.
    Các đức tính nổi bật của người cha già
    – Khiêm nhường nhịn nhục:
    Thời gian đầu làm linh mục, cha Quỳnh bị một số giáo dân chất vấn và hạch sách về chức linh mục: “Ai truyền chức cho ông?”, “Ông xuống để tôi lên làm cho!” Ngài không thanh minh, chỉ nói: “Việc tôi làm linh mục không thuộc quyền của các ông. Là linh mục tôi phải dâng lễ, thế thôi!”. Một số sỉ vả ngài rằng: “Không có trình độ mà cũng đòi làm linh mục.” Nhưng ngài vẫn im lặng. Có những xứ không đón tiếp ngài nhưng ngài vẫn đến để làm mục vụ.
    Đức khiêm nhường của cha cũng được tỏ hiện khi vì áp lực công việc hay do bệnh tật hành hạ và khiến ngài khó chịu, la mắng người chăm sóc mình, nhưng ngay sau đó, khi cơn đau đã dịu, cha đã khiêm nhường nhận lỗi và xin tha thứ.
    Có thể nói đứng trước mọi chống đối, hiểu lầm kể cả sự sỉ nhục, ngài luôn im lặng.
    – Khiết tịnh:
    Từ nhỏ cho đến khi làm thầy, làm linh mục, đến lúc tắt thở, 84 năm trong cuộc đời tận hiến không có một ai đàm tiếu về đời sống khiết tịnh của ngài.
    – Khó nghèo:
    Ngài luôn luôn quan tâm đến người nghèo khổ. Tiền của, quần áo luôn sẵn sàng chia sẻ. Có người thấy ngài ít quần áo quá nên nói với Bà Mến: “Sao cha ít quần áo quá vậy?” Bà Mến nói: “Ông không biết cái quần vừa may cho ngài, gặp người khó ngài cho luôn!”
    – Vâng lời:
    Ngài tuyệt đối vâng lời các Đấng Bề trên, từ thời Đức cha Dụ, Đức Hồng y Tụng và Đức cha Kiệt, dù công việc khó khăn mệt nhọc ngài vẫn vâng lời làm tất cả các việc đến các nơi mà bề trên truyền. Một mình ngài phải rong ruổi cả 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn nhất là khi có kẻ liệt, bất kể đêm ngày hay mưa phùn gió bấc. Như một lần vào một đêm giá buốt, Đức cha Dụ đã sai ngài đi Cao Bằng gấp vì có kẻ liệt, cách nơi ngài ở 200km. Cha và ông Trùm đã vội vàng đón xe hàng đi Cao Bằng ngay. Khoảng 3g30 cha con đã đến Bó Tờ nơi có kẻ liệt, nhưng vì trời còn sớm mà nhà xứ lại không có chỗ ngủ, cha con đã nằm nghỉ ngay tại ghế nhà thờ chờ trời sáng, rồi vội vã đi kẻ liệt. Một lần khác, đang khi ngài lên cơn sốt rét và nằm chữa bệnh ở Mỹ Sơn, nghe tin có kẻ liệt đang hấp hối và cần lãnh nhận các bí tích cuối cùng ở Ngạn Sơn, cha đã vội vàng đi ngay
    Cuộc đời của cha luôn vâng lời, khiêm tốn phục vụ, phục vụ đến hơi thở cuối cùng. Năm 1999 dù tuổi già và sức yếu, nhưng ngài vẫn lên Cao Bằng dâng lễ Tro ở giáo xứ Thanh Sơn, Bó Tờ, Tà Lùng. Sau khi trở về Lạng Sơn, cha mắc cơn bệnh trầm trọng và vào ngày 31-05-2000 cha đã an nghỉ trong Chúa, hưởng thọ 97 tuổi, và kết thúc 84 năm tận hiến cho Chúa ở giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng.
    Cuộc đời tận hiến của Cha Chính Vinh Sơn Hoàng Trọng Quỳnh đã là bài học cho các linh mục hôm nay về đời sống dâng hiến, khó nghèo, khiết tịnh, can đảm và luôn khiêm hạ trong phục vụ yêu thương để trở nên chứng tá cho Tin Mừng Tình yêu thương của Chúa Giêsu Kitô.
    GP Lạng Sơn

  28. Có 3 người cám ơn Damsan vì bài này:


  29. #40
    sake's Avatar

    Tham gia ngày: Nov 2009
    Tên Thánh: Cecilia
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: Đak Đoa - Gialai
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 277
    Cám ơn
    724
    Được cám ơn 1,559 lần trong 271 bài viết

    Default

    Đức cha
    Micae NGUYỄN KHẮC NGỮ
    (1909–2009)

    Vị mục tử tốt lành và nhân từ





    Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ sinh ngày 2 tháng 2 năm 1909 tại Vạn Đồn, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình. Nhập tiểu chủng viện Mỹ Sơn, địa phận Lạng Sơn năm 1922. Du học tại Đại Chủng Viện Luçon, miền Vendée, nuớc Pháp năm 1928. Thụ phong linh mục ngày 29 tháng 6 năm 1934. Làm cha chính địa phận Lạng Sơn năm 1951. Làm Giám mục địa phận Long Xuyên từ ngày 4 tháng 4 năm 1961. Qua đời ngày 10 tháng 5, năm 2009, hưởng thọ 101 tuổi.
    Làm sao ghi lại được nhân đức của một vị tu hành, của một linh mục, và của một vị Giám mục đã được Chúa cho sống hơn ba vạn sáu ngàn ngày trên dương trần như Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ đây?
    Ta thử dựa vào những lời trong Tin Mừng xem sao.
    “Hãy học với tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29)
    Đức cha Ngữ là một người cha tốt lành và nhân từ. Thật vậy, suốt thời gian ngài cai quản địa phận Long Xuyên trong chức vụ Giám mục tiên khởi, không ai chê trách ngài được điều gì về cuộc sống thường ngày, về đường lối làm việc, và về cách xử sự với linh mục đoàn cũng như với giáo dân trong địa phận. Ngài có tất cả những đức tính của một vị chủ chiên, của bậc làm cha mẹ, và của một người lãnh đạo tinh thần là: yêu thương, chăm sóc, cảm thông, nâng đỡ, và bao dung …
    Giám mục vẫn là con người nên Đức cha Ngữ hiểu được những yếu đuối của con người, những nhẹ dạ của linh mục, những nông nổi của tu sĩ… nên ngài dễ cảm thông và tha thứ. Ngài nghiêm minh nhưng không nghiêm khắc. Ngài thẳng thắn nhưng lại cũng khoan dung.
    Ngài hay dùng “cô Hồng” và “cô Hoa” để chỉ người phụ nữ. Thầy nào “tai tiếng” với “cô Hoa” hay cha nào “ấm ớ” với “cô Hồng” thì ngài gọi vào phòng riêng, đấm vào vai một phát: “Tao nghe nói mày thế này thế kia… Ráng tu trì nhá…” La mắng rồi ngài lại vỗ về và cho tiền về xe. Khác nào Chúa Giêsu xưa kia đã nói với người phụ nữ ngoại tình: “Ta cũng không kết án con đâu. Về đi và đừng… lôi thôi nữa…”. Khác nào người mẹ đánh cho đứa con một roi rồi lại lấy dầu cù là bôi vào vết roi ấy. Còn gì đẹp hơn và yêu thương hơn.
    Ai cũng biết “chiếc áo không làm nên thầy tu” dù đó là tu chùa hay tu nhà thờ, dù đó là ni cô hay linh mục, dù đó là hồng y hay giám mục. Và ở bậc sống nào thì nhân đức cũng vẫn là thói quen tốt lành phải/được/cần tập luyện và thực hiện hằng ngày. Không phải một chủng sinh khi vừa mặc áo dòng là các nhân đức khó nghèo và vâng lời… tự động được gài vào con người ấy vĩnh viễn như người ta cài đặt Windows XP vào máy computer. Không phải một nữ tu vừa khấn trọn đời là các nết xấu như làm biếng, ghen tị, háo danh… tự động biến đi khỏi người ấy như một phép lạ ắt có mà Chúa phải làm. Cũng vậy, không phải khi đã được thụ phong Giám mục là Đức Giám mục không cần phải tập luyện nhân đức nữa.
    Đức cha Ngữ “hồi còn trẻ” cũng nóng tính lắm, nhưng sau khi nghe các cha trong địa phận phản ảnh, Ngài đã thay đổi, và thay đổi thật nhiều. Trong địa phận Long Xuyên sau này cũng có nhiều linh mục thuộc típ nóng nảy, nhưng tất cả hầu như đã bị cái hiền lành của Đức cha Ngữ hóa giải, đã bị cái trầm tĩnh của Đức cha thắng vượt. Ngài đã vui vẻ đặt tên cho các vị “hay sốt” này là Năm Lửa, Bảy Lửa, Mười Lửa… và cuối cùng thì tất cả các lửa này đã… tắt ngúm hoặc chẳng còn lửa nào cháy bùng nữa.
    Đức Giám mục xưng tội với ai? Thường là với một cha có tuổi và có tiếng đạo đức. Nhưng Đức cha Ngữ thì lại thường xưng tội với các linh mục bình thường, có khi lại là một linh mục học trò, đáng tuổi con, tuổi cháu của ngài, nhất là các linh mục mới chịu chức. Tại sao vây? Chắc tại ngài khiêm nhường và luôn xác tín rằng linh mục chỉ là khí cụ của Chúa mà thôi.
    “Ngài đã yêu thương những người thuộc về Ngài đến cùng” (Ga 13,1)
    Thương yêu và nâng đỡ các linh mục là những người cộng tác trực tiếp với mình là chuyện bình thường. Đức cha Ngữ còn yêu thương và nâng đỡ cả những chủng sinh lớp đệ thất đệ lục (lớp 6, lớp 7) vừa vào Tiểu chủng viện nữa. Ngài thuộc tên từng chú chủng sinh, nhà ở đâu, con cha nào... Ngài yêu thưong nên biết tên, biết tuổi, biết tính tình, và biết cả nết xấu của mỗi chủng sinh nữa. Biết để huấn luyên, để uốn nắn, và để nâng đỡ.
    Không chỉ yêu thương các linh mục, các tu sĩ, các chủng sinh, ngài còn thương yêu và để ý đến các giảng viên giáo lý. Rồi ngài còn thuơng cả những chủng sinh đã bị loại khỏi chủng viện. Có lần ngài đã đậu xe lại ở đầu Chợ Kênh Tám, bước vào thẳng nhà ông trùm Đệ tìm anh Hoàng Thắng đã bị đuổi khỏi chủng viện trước đó ít lâu. Không thấy Thắng, Đức cha nhắn với bố của Thắng: “Bảo nó nếu còn muốn đi tu nữa, thì lên gặp tôi…”
    Đức cha Ngữ cũng rất để ý nâng đỡ các linh mục nghèo và đau bệnh trong địa phận. Ngài luôn tìm kiếm và chia bổng lễ cho các linh mục trong những xứ mà giáo dân chỉ xin lễ có khi bằng một rổ khoai lang hoặc bằng vài lon gạo hoặc những linh mục già yếu, đau bệnh trong các nhà hưu dưỡng. Khi nghe cha Nguyễn Đăng Trình bệnh nặng trong tuổi thanh xuân, Đức cha đã than thở: giá Chúa để tôi chết thay cho cha Trình để cha Trình sống mà làm việc…
    “Ai trung thành trong việc nhỏ sẽ trung thành trong việc lớn” (Lc 16,10)
    Linh đạo của Đức cha Ngữ là linh đạo của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, là đường thiêng liêng thơ ấu, là đơn sơ và khiêm nhu. Ngài đã chọn con đường này và đã giới thiệu cho những người sống với ngài.
    Khi làm cha chính và cha bề trên chủng viện Lạng Sơn, ngoài Bắc, ngài đã tặng cho mỗi chủng sinh ngày mới bước vào chủng viện hai tập sách. Đó là cuốn Đường Thiêng Liêng Thơ Ấu và cuốn Chỉ Nam Hướng Đạo Sinh. Khi lập Tiểu chủng viện ở Long Xuyên, trong Nam, Ngài đã đặt tên chủng viện là chủng viện Têrêxa, và ngài cũng có lòng kính mến vị thánh nữ này một cách đặc biệt.
    Cho nên đường nên thánh của ngài cũng rất đơn giản: chu toàn mọi công việc trong đấng bậc của mình, dù đó là việc lớn hay việc nhỏ.
    Ngài đặc biệt yêu quý lao động chân tay. Cho dù bận rộn công việc, Đức cha Ngữ đôi khi cũng tự giặt giũ quần áo cho mình. Ngài đã làm gương và không muốn sắm máy giặt cho các thầy đại chủng viện.
    Trung thành hoàn tất mọi việc trong chức vụ dù lớn nhỏ, Đức cha Ngữ là một nhà giáo dục tận tâm, khôn ngoan, và kiên nhẫn. Ngài nhìn thấy cả cái hay và cái dở; cả cái yếu và cái mạnh của một học trò và của người đối diện. Nhưng ngài luôn nhắm và tập trung vào cái hay, cái tốt, cái mạnh, và cái tài năng tiềm ẩn trong một con người. Từ đó, ngài luôn lạc quan trong việc giáo dục: Không dập tắt tim đèn còn leo lét. Không bỏ rơi một người mới vấp ngã. Không loại trừ một học trò thông minh nhưng lại có tí bướng bỉnh. Điều quan trọng nhất là ngài cho người ta thời gian để đi đến đích: không vội vàng, đốt giai đoạn. Ngài biết rõ một đứa bé chỉ có thể được cưu mang bởi một người phụ nữ trong chín tháng chứ không phải chín người phụ nữ cưu mang đứa bé trong một tháng. Ngài biết mình đang trồng một thế hệ học trò, chứ không phải một luống khoai hay một luống bắp, nên Ngài cho học trò thời gian và cơ hội để thử và học hỏi, đồng thời cũng không cứng nhắc trong đích điểm của việc giáo dục. Điều này lại rất đúng trong thể kỷ 21 này. Với ngài: không làm linh mục thì làm ông trùm, và không làm bác sĩ thì làm bác nông dân. Điều quan trọng là làm một người TỐT.
    Đức cha Ngữ cũng còn là một nhà lãnh đạo đúng điệu nữa. Một trong những đức tính của nhà lãnh đạo là tin tưởng vào người cộng tác: khi đã trao phó công tác cho người được chỉ định thì không can thiệp, không phê bình, không gièm pha, và nhất là không sợ người đựoc trao công tác nổi trợi hơn mình. Sau năm 1975, khi đã trao công việc cho Đức cha Phó là ngài dứt khoát lui vào phía sau hậu trường, hay đúng hơn là lui vào bóng tối, chấp nhận bị quên lãng để người kế vị làm việc và có toàn quyền quyết định. Nhiều lần ngài nhắc: trong địa phận chỉ có một chủ chăn duy nhất mà thôi.
    “Từ nay thầy sẽ không gọi chúng con là người tôi tớ, nhưng là bạn hữu thân tình” (Ga 15,15)
    Trước Đức cha Micae, chắc chưa có vị Giám mục nào dám xưng mày-tao với các linh mục, với các thầy, và với các chủng sinh. Và sau ngài cũng chưa chắc có vị nào dám làm và làm được như vậy.
    Tại sao? Tại vì ngài coi những người cộng tác với mình như bạn bè. Ngài coi con cái trong nhà, trong địa phận như bè bạn. Làm được như vậy vì ngài chân tình và bình dị. Được gọi là MÀY tức là người đối diện, nếu là linh mục, thì đã được nâng lên một cấp, còn nếu là một chủng sinh hoặc một giáo dân, thì còn được nâng nhiều cấp hơn nữa: cấp tuổi, cấp chức vụ, cấp đạo đức…
    Nhưng cho dù ngài hạ mình xuống để xưng TAO hay nâng người đối diện lên để gọi MÀY, thì cái lối xưng hô độc đáo này cũng thật dễ thương và đầy ấn tượng. Trong tiếng Do Thái chắc hẳn không có đại danh từ Mày và Tao như trong tiếng Việt, nên Chúa Giêsu mới phải dài dòng giải thích: Thầy không gọi các con là người tôi tớ, nhưng gọi các con là bạn hữu thân tình, vì các con đã biết chia sẻ công việc của Thầy.
    Ngài sống bình dị và đôi khi còn như phóng khoáng nữa. Việc đổi các cha xứ đâu phải truyện nhỏ. Vậy mà Ngài làm hai phiếu cho hai cha xứ rút thăm chơi. Một khi đã đồng ý cuộc chơi thì “ông nào được xứ nào thì… ráng mà chịu”. Luật “giang hồ” đó. Ấy thế mà lại được việc. (Có khi được cả phúc nữa). Có lần ngài xông vào gõ cửa nhà cha xứ giữa lúc ngủ trưa: Này, này chuẩn bị đổi xứ đấy nhá. “Giang hồ” đến thế là cùng, nhưng việc vẫn chạy và chẳng ai ghét Ngài được.
    “Phúc cho ai có tinh thần khó nghèo vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3)
    Thử đi tìm một vị linh mục không có tiền bạc. Chắc khó lắm hoặc không thể tìm được, vì trong một xứ đạo nghèo nhất, cha sở vẫn có tiền, và trong một địa phận nghèo nhất, Đức Giám mục vẫn không thiếu tiền. Đức cha Ngữ chắc chắn không phải là một luật trừ: ngài phải có tiền. Không có tiền sao ngài xây dựng được bao nhiêu cơ sở to lớn trong địa phận. Không có tiền sao huấn luyện đào tạo được bao nhiêu lớp tu sĩ và giáo sĩ. Chắc chắn ngài có tiền, có của, nhưng ngài lại sống rất khó nghèo và tiết độ với chính mình. Quần áo của ngài rất đơn giản. Giường chiếu của ngài rất thanh bạch. Bàn ghế trong phòng của ngài rất mộc mạc. Tòa Giám mục của ngài bao nhiêu năm chỉ là một nhà xứ cũ nhỏ bé. Chiếc xe ô-tô của Ngài cũng bé và cũ, nhiều lần tài xế phải nhờ các chủng sinh đẩy, khi đề máy không nổ.
    Áo dòng của ngài cũ hơn áo dòng của các linh mục, và tất nhiên là cũ hơn của… các thầy. Nhưng cũ hay mới, thì ngài cũng chia sẻ với mọi người khi cần. Nhiều thầy trong địa phận đã mặc áo dòng của ngài, vì chưa kịp may để đi giúp xứ. Và ngài cũng chia sẻ ngay cả quần áo mặc thường ngày nữa. Nhưng nhiều người khi được chia sẻ áo quần của ngài, cũng phải bấm bụng mà nhận, vì có khi “tặng phẩm’ không được mới và lại chẳng mẫu mã gì cả. Khó mà mặc được.
    Ngài đi chiếc xe cũ, để dành tiền xây Tiểu chủng viện Têrêxa. Ngài đắp chiếc mền cũ, để dành tiền xây đại chủng viện Thánh Tôma. Ngài nằm chiếc giường gỗ cũ kỹ, để dành tiền xây viện giáo lý. Ngài dùng bao thư làm bằng giấy xi-măng, để dành tiền cho các chủng sinh ăn học, để dành tiền cho học trò đi đường. Ngài từng dạy các chủng sinh: “Nếu không cần thì một xu ta cũng không xài, nhưng nếu cần thì một triệu ta cũng chi”. Cho nên ngài đã “ra lệnh” vá lại cái mền cũ nhiều lần, chứ nhất định không chịu mở những chiếc mền mới mà người ta trao tặng.
    Đấy là một vài nét chấm phá về Đức cha Ngữ. Có đôi phần dí dỏm, và mong được như thế, vì dí dỏm cũng là một nét đặc trưng tốt lành trong đời của ngài vậy.


    GP Long Xuyên
    thay đổi nội dung bởi: sake, 22-01-2010 lúc 01:43 PM
    Chữ ký của sake
    :sing::sing: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng :sing::sing:

  30. Có 4 người cám ơn sake vì bài này:


  31. #39
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Micae LÊ QUANG VINH
    (1917–1946)

    Cha Micae Lê Quang Vinh sinh năm 1917 tại họ đạo Cái Mơn, nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
    Cha mẹ ngài là ông Phaolô Lê Quang Mầu và bà Maria Nguyễn Thị Dết. Cha mẹ ngài sinh ra được mười người con. Cha Micae Quang Vinh là anh hai trong gia đình. Ngài có hai người em gái làm dì phước: Dì năm Nghiệm thuộc dòng Cái Mơn (1924-2008), dì út Ngọc thuộc dòng Nữ Tử Bác Ái và hai cháu làm linh mục: cha Gioan Baotixita Nguyễn Tri Tài và cha Phanxicô Xaviê Lê Quang Dũng.
    Vào khoảng năm 1928, cha Gioan Baotixita Lê Quang Triêu cho ngài đi tu. Sau 15 năm tu luyện ngài được Đức cha Jean Cassaigne phong chức linh mục năm 1943 tại Nhà thờ chánh toà Sài Gòn.
    Sau đó ngài được Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục bổ nhiệm về làm phó xứ cho cha Vincent Nguyễn Ngọc Thanh để coi sóc họ đạo Cái Cá, Cồn Rừng và Khâu Băng. Ngài thi hành chức vụ linh mục chỉ vỏn vẹn được khoảng hai năm.
    Tính tình hiền hoà, vui vẻ, dễ thương và lòng nhiệt thành tông đồ của ngài đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp nơi bổn đạo và anh em lương dân.
    Mùa xuân năm Ất Dậu 1946, tại một họ đạo nhỏ bé mang tên Cái Cá ở vùng sình lầy đất đỏ xa xăm…
    Ngày mồng một tết, Ban Quới Chức và bổn đạo đến mừng tuổi cha phó xứ, linh mục Micae Lê Quang Vinh. Năm đó cha phó mới được 29 tuổi. Sau khi cám ơn mọi người cha cho biết ngày mồng hai cha sẽ đi Cái Mơn thăm và chúc tết ông bà nội, mồng mười tết mới về. Nhưng chỉ mới mồng bốn tết cha đã lật đật quay trở về, bất chấp nguy hiểm và sự ngăn cản của cha mẹ vì cha không thể bỏ rơi đàn chiên.
    Trước tình hình rối ren, bổn đạo sợ cha gặp nguy hiểm nên bàn bạc để lén đưa cha đi họ đạo khác hay về Cái Mơn. Nhưng cha không đồng ý: “Sống chết tôi cũng ở đây với họ đạo, tôi không đi đâu hết.”
    Chiều ngày mồng chín tết, người ta gánh cao su và kéo rất nhiều lá dừa đem đến sân nhà thờ. Cả họ đạo xôn xao bàn tán vì chẳng biết người ta sẽ làm gì. Tình hình bấy giờ rất căng thẳng. Một số người biết chuyện nhưng không dám hé môi. Thế là kế hoạch giết cha đã được định đoạt. Nhưng ai sẽ là người thực hiện? Người ta đã phải bốc thăm bởi vì ai cũng sợ làm việc này.
    Như thường lệ, vào lúc 5 giờ sáng ngày mồng mười tết, một số bổn đạo đến nhà thờ để tham dự thánh lễ nhưng bốn bề vắng lặng. Phía trên nhà sàn, ngay chỗ cha ở có lố nhố vài bóng đen. Sau khi rước Mình Thánh Chúa, cha đi từ nhà thờ đến nhà xứ, vừa đi vừa đọc kinh nhật tụng.
    Vào khoảng 6 giờ sáng, có tiếng tàu Pháp chạy từ Bến Tre xuống Thạnh Phú. Trong làng tiếng mõ báo động đánh liên hồi như báo trước điều gì khủng khiếp sắp ập tới.
    Giờ hành quyết bắt đầu. Toàn bộ khu vục nhà thờ phát hoả. Nhà thờ, nhà xứ, nhà ông từ thi nhau bốc cháy. Cùng lúc đó họ bịt mắt, trói tay, hai người được chỉ định kè cha xuống phía sau nhà thờ. Nơi gần con sông nhỏ với mục đích thủ tiêu xong thả xác cha trôi sông. Cha vùng vẫy nói: “Tôi muốn chết tử vì đạo.”
    Túng thế, họ đã dùng dao găm đâm vào trái tim của cha. Trong lúc sơ ý, kẻ sát nhân đã để máu từ trong lồng ngực cha vọt ra trúng mặt và tóc của hắn. Cha thốt lên: “Tôi vô tội. Tại sao các anh lại giết tôi?”
    Với nhát dao xuyên tâm ấy, cha đã gục xuống trên vũng máu. Như để cho chắc ăn, họ đã cắt cổ cha và ném thi thể vào ngôi nhà của ông từ đang còn cháy dở dang.
    Có một điều lạ xảy ra. Đó là người cầm dao đâm cha bị máu xịt văng lên mặt. Nửa mặt của y bị nám đen, rửa không ra. Trên đầu người này có bốn chòm tóc bạc hình cây thánh giá, cố nhuộm đen mà không thể được.
    Khoảng 9 giờ sáng, ngọn lửa đã tắt nhưng một vài chỗ vẫn còn âm ỉ bốc khói. Trước mắt mọi người chỉ còn lại cảnh hoang tàn thê lương. Những kẻ hành sự đã rút đi.
    Khi đó bổn đạo chặt cây, xới tung đống lửa vẫn còn âm ỉ cháy trong nhà chú từ, tìm thấy một xác người nằm co quắp. Khi lật xác lên thì thấy cha nằm trên đống đồ lễ, gót giầy vẫn còn dính ở chân. Thi thể của cha bị cháy đen hết, lóng chân và lóng tay rớt ra từng đốt. Máu cháy đọng lại thành dề. Dầu vậy, phần lồng ngực cha vẫn trắng tinh, không chút bị nám vì cha mới rước Mình Thánh Chúa buổi sáng hôm đó.
    Sau khi rửa xác cha xong, vì tình hình căng thẳng không thể mua hàng được nên ông Câu Sáu, ông Biện Thu và một số bổn đạo đành liệm xác người cha kính yêu của mình vào trong cái rương đựng đồ lễ. Dùng ba miếng ván của bộ ngựa làm kim tĩnh, vội vàng chôn cất cha. Chôn xong, mạnh ai nấy chạy trốn.
    Vào năm 1963, theo lời gợi ý của cha Nguyễn Văn Xuân, gia đình đã nhờ cha Bernard Nguyễn Ngọc Khả, dì năm Nghiệm là em của cha Micae dẫn đầu đoàn cùng với cha Phaolô Lê Văn Linh, cha Phaolô Nguyễn Minh Đoán và một số đông các dì phước đi lấy hài cốt cha Micae Lê Quang Vinh. Phái đoàn lên đường trong sự hồi hộp lo lắng vì tình hình bất ổn. Khi tới nơi, ông Biện Thu chỉ chỗ cho người ta đào mộ lên nhưng chỉ gặp cục đá và cây thánh giá mà không gặp miếng xương nào.
    Mọi sự tưởng chừng như đã chấm dứt. Chỉ còn lại nắm đất kỷ niệm được vun lên. Thân xác vị linh mục trẻ gửi lại nơi lòng đất lạnh, chẳng mấy ai quan tâm để ý. Gia tài cha để lại cho đàn chiên là tấm gương hy sinh, quên mình, trung thành với đức tin cho đến hơi thở cuối cùng.
    Phần mộ của cha Micae Lê Quang Vinh nằm trong một giáo xứ nhỏ của giáo phận Vĩnh Long. Giáo xứ này do cha Gioan Phạm Hữu Diện đảm trách suốt gần mười ba năm nay.
    Vào năm 1998, nhân cơ hội tu bổ khu vực nhà thờ để đón Đức cha về ban phép thêm sức cho ngày 13-01-1999, một tấm đan bằng xi măng được đặt bên trên phần mộ của cha với vài hàng chữ ngắn gọn: “Nơi an nghỉ của linh Mục Micae Lê Quang Vinh”. Chỉ với mong ước là hãy nhớ đến Ngài, xin đừng để cái chết ấy rơi vào quên lãng.
    Ngày 06-06-2005, nhà thờ Cái Cá được phép xây dựng. Vài đoàn thể đã đến tận nơi xem thực hư nhà thờ thế nào để giúp đỡ, nhân tiện viếng thăm mộ cha Micae Lê Quang Vinh.
    Trong niềm vui hân hoan tạ ơn Chúa và Đức Mẹ, ngày 07-10-2005 họ đạo khởi công xây cất nhà thờ. Họ đạo cũng nhớ đến công ơn của cha Micae nên vào ngày 15-02-2006 đã xây một ngôi mộ đơn sơ cho cha.
    Vào ngày 03-09-2007 Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân chủ sự lễ khánh thành nhà thờ Cái Cá. Trong thánh lễ, Đức cha có nhắc tới gương hy sinh anh dũng của cha Micae. Sau khi lễ tan, nhiều người đã ra viếng mộ, thầm thĩ cầu nguyện xin cha Micae chuyển cầu những ước vọng của họ lên trước tòa Chúa.
    Nhiều người đã được ơn qua lời chuyển cầu của cha Micae Lê Quang Vinh. Trong số đó có anh Nguyễn Văn Nhu tại giáo xứ Bùi Chu. Chính vì vậy nên anh có ý xây cho cha một ngôi mộ khang trang hơn để tỏ lòng biết ơn. Vấn đề được đặt ra là: xây trên nền mộ cũ hay di dời mộ cha đến chỗ mới?
    Nhưng liệu hài cốt cha có còn không, vì gia đình đã bốc một lần mà không thấy. Vấn đề này được trình lên Đức Giám mục. Ngài cho ý kiến: “Hãy cầu nguyện. Tin tưởng phó thác cho Chúa. Cộng thêm sự khôn ngoan và một chút liều nữa.”
    Sau khi đã cầu nguyện, ngày 09-03-2009 họ đạo đã khởi sự dỡ bỏ ngôi mộ cũ. Ngày 10-03-2009 đào sâu xuống độ một mét nhưng không thấy gì. Phần lớn chắc là đã bị phân huỷ hết rồi. Số đất đào lên đem cho ngôi mộ mới xây. Ngày 11-03-2009, đang khi Ban Quới Chức kéo hàng rào thì Biện Chung lén vào thắp hương cầu nguyện trước di ảnh của Cha Micae, sau đó rủ thêm Biện Chí tiếp tục đào, giá của họ chạm vào miếng ván. Họ reo mừng la lên: “Thấy rồi!”
    Mọi người xúm lại vui mừng khôn xiết, ông Trùm Trung buột miệng nói: “Cha nói là cha không đi đâu hết, sống chết cha cũng ở với họ đạo mà.”
    Tin tìm thấy hài cốt của cha Micae Lê Quang Vinh được loan đi trong họ đạo. Bổn đạo tuôn đến quy tụ lại quanh hài cốt của cha, bùi ngùi rơi lệ và đọc kinh cầu nguyện.
    Ngày 14-03-2009, nấm mộ bằng đá được chở xuống. Nghi thức tẩm liệm, làm phép xác và huyệt mộ được diễn ra trước sự chứng kiến của một số đông bổn đạo. Ngày 15-03-2009, sau thánh lễ tạ ơn, mọi người quây quần bên phần mộ của người cha kính yêu để đọc kinh và chứng kiến việc dựng bia mộ.
    Từ đó đến nay đã có nhiều đoàn thể đến kính viếng, cầu nguyện bên di ảnh và phần mộ của linh mục Micae Lê Quang Vinh. Một vị chủ chăn trẻ, cuộc sống chỉ vỏn vẹn hai mươi chín năm ngắn ngủi. Can đảm ở lại với đàn chiên đến giây phút cuối cùng. Lìa đời trong những ngày đầu xuân khói lửa ở trần gian để vươn tới mùa xuân vĩnh cửu nơi thiên đàng. Tấm gương ngời sáng ấy sẽ không thể nhạt nhòa theo thời gian.
    GP Vĩnh Long

  32. Có 3 người cám ơn Damsan vì bài này:


  33. #38
    xuandao's Avatar

    Tuổi: 55
    Tham gia ngày: Sep 2008
    Tên Thánh: teresa
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: sydney
    Quốc gia: Australia
    Bài gởi: 52
    Cám ơn
    322
    Được cám ơn 170 lần trong 36 bài viết

    Default

    cam on cac anh chi da cho moi nguoi nhieu thong tin ve cac cha viet nam .RAT HAY
    Chữ ký của xuandao
    xin cho doi con nhu cay sao cua nguoi

  34. Được cám ơn bởi:


  35. #37
    sake's Avatar

    Tham gia ngày: Nov 2009
    Tên Thánh: Cecilia
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: Đak Đoa - Gialai
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 277
    Cám ơn
    724
    Được cám ơn 1,559 lần trong 271 bài viết

    Default

    Cha Phaolô Châu
    (1833-1862)

    Ông Hòa và bà Nguyện là một gia đình dòng dõi công giáo ở Gò Thị, làng Xuân Hương, tỉnh Bình Định (nay là thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Vợ chồng ông Hòa và bà Nguyện tảo tần buôn bán nuôi sống gia đình, một gia đình bình dân vừa đủ ăn đủ mặc, không bon chen ngược xuôi. Trong mái ấm gia đình này, vào khoảng năm 1833, một bé trai đã chào đời và được đặt tên là Phaolô Châu.
    Khi lên 9, Phaolô Châu được đi học và được phát hiện là một đứa trẻ thông minh. Năm mười ba tuổi, Phaolô Châu được cha mẹ cho giúp Đức cha Cuénot Thể tại Gò Thị. Đức cha nhận thấy Phaolô Châu sáng trí và tính hiền nết tốt nên gởi đi học ở Chủng viện Penang.
    Sau bảy năm dùi mài kinh sử ở Chủng viện Penang, thầy Phaolô Châu trở về quê nhà và được Đức cha Cuénot sai đi giúp xứ ba năm. Năm 1856, thầy Phaolô Châu được Đức cha Cuénot truyền chức linh mục tại Gia Hựu. Tân linh mục Phaolô Châu vừa tròn 23 tuổi, một tuổi đời rất trẻ so với các linh mục Việt Nam thời bấy giờ. Được truyền chức linh mục với một tuổi đời trẻ trung ấy chứng tỏ lòng đạo đức, nhân cách trưởng thành, sự cần mẫn chu toàn việc bổn phận, sự chững chạc, hiền lành và khiêm nhường trong đối nhân xử thế cũng như khả năng tri thức của cha Phaolô Châu đã tạo được sự tín nhiệm của Bề trên.
    Sự tín nhiệm này còn được thể hiện qua việc Đức cha Cuénot bổ nhiệm tân linh mục Phaolô Châu làm Giám đốc chủng viện Mương Lở [1], một trong ba chủng viện được thành lập sau Công Nghị Địa Phận Đàng Trong tại Gò Thị, tức sau năm 1841:Một trường tại họ Tùng Sơn, Quảng Nam, một trường tại họ Mương Lở và một trường tại họ Làng Sông tỉnh Bình Định [2] .
    Các chủng viện này sinh hoạt tương đối ổn định cho đến năm 1859, năm Vua Tự Đức ra sắc dụ cấm đạo và được thi hành gắt gao. Trước tình trạng khó khăn vì sắc dụ cấm đạo, Đức cha Cuénot cho giải thể chủng viện Tùng Sơn và Mương Lở, các chủng sinh ở Mương Lở nhập về chủng viện Làng Sông do cha Tư làm Giám đốc. Cha Phaolô Châu ở lại Mương Lở chăm sóc mục vụ cho giáo dân. Sau khi chủng viện Mương Lở nhập về Làng Sông khoảng hai tháng, một hôm trên đường từ Làng Sông ra Gò Thị yết kiến Đức cha Cuénot, cha Tư đã bị bắt giam. Cha Phaolô Châu liền được bổ nhiệm về làm Giám đốc chủng viện Làng Sông.
    Năm 1861, chiếu chỉ phân sáp của Vua Tự Đức được các quan thi hành triệt để. Đức cha Cuénot chỉ thị cho cha Phaolô Châu tìm cách đưa các chủng sinh vô Gia Định ẩn trú. Trong khi như một quản gia trung tín đang thắt lưng gọn gàng phục vụ, sắp xếp công việc theo ý Giám mục của mình, cha Phaolô Châu đã bị bắt giam và đã hy sinh mạng sống vì đức tin như lời tường thuật:
    “Đến khi có chỉ ra bắt bổn đạo đi phân sáp, cùng truyền phá nhà bổn đạo hết, cho nên các chú ở nhà trường không được nữa, thì Đức cha dạy người lo chở các chú vô Gia Định; nên người dọn đem đồ cần dùng, và mướn đặng một chiếc ghe kẻ ngoại, lại dặn các chú phải chia nhau ở xung quanh gần chỗ ghe đậu mà đợi người. Mà có bữa kia người xuống một mình dưới ghe ấy, có ý gặp lái ghe, mà hỏi thăm cho biết ngày nào chạy, thì có một tên thơ lại, và chức việc làng tới bắt người trong ghe tại sông Dinh gần nhà trường, liền gia giang giáo mác dùi gậy, giải về huyện, tra hỏi căn do, tên tuổi chức phận. Người xưng ngay mình là đạo trưởng, tức thì quan huyện giải người nạp tỉnh. Khi đã giải nạp tỉnh thì ngày mang gông, đêm bị cùm. Cha Châu được giam cùng trại với cha Bửu và ông Qui. Có lần cha Châu mang gông đến thăm và an ủi đôi ba chú chủng sinh bị giam ở một trại khác” [3].
    Những ngày bình yên nơi chủng viện, cha con sống với nhau, cha huấn giáo, cha an ủi… là chuyện thường ngày. Tuy nhiên cuộc thăm viếng trong chốn lao tù này chắc hẳn đã để lại trong lòng các chủng sinh một sự ấm áp khó quên, một bài ‘huấn đức không lời’ đầy ấn tượng. Ngày xưa Thánh Phaolô đã viết thư khuyên nhủ Timôthê, người học trò của mình: “Chớ gì đừng có ai khinh thường con vì con còn trẻ. Trái lại, con hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch” (1Tm 4,12). Bây giờ, trong đời thường cũng như trong chốn lao tù, linh mục Phaolô Châu, một người học trò ‘muộn màng’ của Thánh Phaolô trên giải đất Việt Nam, đã cặm cụi thi hành hết mình lời nhủ khuyên ấy.
    Trong các lần khai báo trước quan quyền, cha Châu luôn nhận mình là đạo trưởng; cùng có thầy bốn Quờn (quê Lò Giấy, Phú Yên) nhận mình là đạo sư; ông Qui (quê Tân Hội, Bình Định) và ông Me (quê Quảng Nghiệp, Bình Định) cùng xưng là đạo chúng và cùng che giấu đạo trưởng. Căn cứ vào lời khai khẳng khái này, quan tỉnh làm án và thích vào má các vị hai chử “tả đạo”. Theo án chỉ triều đình, cha Châu, ông Qui và ông Me chịu án trảm quyết, thầy bốn Quờn chịu án giảo quyết.Án lệnh được thi hành tại Gò Chàm, Bình Định vào ngày 2 tháng 3 năm thứ 15 triều Tự Đức (tháng 5 năm 1862). Sự hy sinh anh dũng của bốn vị chứng nhân đức tin đã được kể lại:
    “Khi dẫn bốn đứng ấy đến chốn pháp đình, đô hội người chen nhau đến coi, đạo một phần mà kẻ ngoại năm bảy phần. Tiên đoàn có một tên lính, vác thẻ biên tên bốn đứng ấy, hai tên khiêng chiêng tiếp sau; bốn đứng đi giữa. Mỗi đứng có hai tên lính, bồng gươm trấn áp tả hữu. Vòng ngoài có năm mươi lính khác, tay cầm giáo mác, tay cầm roi; sau hết hai quan giám sát võng ngựa điệu đi.
    Các đứng ấy đi tề chỉnh, mặt vui vẻ, tay cầm ảnh thánh giá chuộc tội, miệng thầm thì đọc kinh cầu nguyện, chẳng thấy dấu lo sợ buồn bực chút nào; kẻ ngoại ai nấy đều khen ngợi.
    Bấy giờ nghe tiếng truyền rằng: hễ nghe ba hồi chiêng rồi, thì cứ y như lịnh dạy; mà khi mới nghe một hai tiếng chiêng, tức thì nó đã chém rồi và thắt cổ xong; song bởi đứt dây, thì nó làm vòng thắt lại. Rồi lính quăng đầu các đứng ấy lên và lấy đuốc đốt chơn thầy Quờn bay khét nồng nà.
    Khi ấy bổn đạo ở xung quanh khóc om sòm, cùng chạy lại lấy vải thấm máu; đoạn thầy Khoa lo chôn cất phô đứng ấy nơi xử. Đến khi cha Triết lấy cốt đem về Gò Thị, rồi chở vô nhà trường Làng Sông, táng trong nhà thờ. Trước năm Ất Dậu dỡ nhà thờ ấy, thì lấy cốt vào quách, để trong phòng nhà thờ mới; đến năm giặc Văn Thân, phải thân hào phá mất hết, chỉ còn một mình xác cha Châu mà thôi, vì trước đó các cha nhà trường Penang đã xin đem về cùng chôn tại nhà thờ”. [4]
    Như lời Thánh Tổ của mình: “Tôi đã chiến đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin” (2Tm 4,7), cha Phaolô Châu đã ra đi trong đức tin cao đẹp. Một niềm tin khẳng khái trung thành với Đấng chịu đóng đinh. [5]
    Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy” (Kh 3, 20). Cha Phaolô Châu đã mau mắn quảng đại mở cánh cửa lòng ra đón tiếp Chúa qua những con người, qua những công việc hằng ngày, hết mình với bổn phận cho đến hy sinh mạng sống, đến hơi thở cuối cùng. Noi gương và nhân thừa phong cách sống đạo của cha Phaolô Châu, năm 1921, Đức Cha Damien Grangeon Mẫn, vị Giám mục thứ 14 cai quản Giáo Phận Qui Nhơn, đã thành lập Hội Phaolô Châu. Qua đó, các hội hữu Phaolô Châu quảng đại mở cánh cửa lòng ra đóng góp tài sản nhằm giúp giáo phận nuôi dưỡng, giáo dục chủng sinh cho đến khi làm linh mục, đồng thời giúp cho các hội hữu Phaolô Châu có một ‘hương hỏa’ vĩnh viễn cho mình qua những ơn lành từ những thánh lễ do cha Giám đốc Hội cử hành: thánh lễ ngày thứ bảy đầu tháng, lễ Các Đẳng Linh Hồn hằng năm, thánh lễ khi hội viên vừa mới qua đời hoặc thánh lễ cho hội viên đã qua đời khi vừa được ghi tên vào Hội và một thánh lễ trong tháng đầu tiên của các tân linh mục.
    Hội Phaolô Châu, một hậu duệ tinh thần của cha Phaolô Châu được phát triển bền vững cho đến ngày hôm nay là một chứng tá sống động về lòng quảng đại, tinh thần trách nhiệm, lòng trung thành yêu mến Chúa và Giáo Hội của cha Phalô Châu như là muối men ướp mặn và xúc tác đời sống đức tin của dân Chúa.
    Gp. Đà Nẵng
    thay đổi nội dung bởi: sake, 09-01-2010 lúc 02:57 PM
    Chữ ký của sake
    :sing::sing: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng :sing::sing:

  36. Có 4 người cám ơn sake vì bài này:


  37. #36
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Matthêu PHẠM HẢO KỲ
    (1912–1994)
    Nhà tu đức chuyên nghiệp


    Lời vị chủ chăn giáo phận
    Chiều 31-5-1982, trong giờ tôn vinh Đức Mẹ tại giáo xứ Ninh Phát, trước khi ban phép lành kết thúc, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Lãng, Giám mục Chính toà giáo phận Xuân Lộc đã nói: ‘‘Ngày nay, kiếm một linh mục đã khó. Thế nhưng, kiếm một linh mục đạo đức, thánh thiện trổi vượt mà lại khiêm tốn như cha cố Mátthêu Phạm Hảo Kỳ lại còn khó hơn gấp bội”.
    Thật vậy, “hữu xạ tự nhiên hương”, những ai đã từng tiếp xúc và sống với cha cố Mátthêu chắc chắn đã cảm nhận được ảnh hưởng về đời sống thiêng liêng cũng như hương thơm nhân đức nơi ngài toả ra như thế nào.
    Hành trình đời sống trần thế
    Mùa Thu năm 1912, cậu Mátthêu Phạm Hảo Kỳ đã cất tiếng khóc chào đời đúng vào ngày 21-9 tức ngày lễ kính thánh Matthêu tông đồ thánh sử. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nề nếp đạo hạnh, với tư chất thông minh sẵn có và lòng đạo đức trổi vượt so với các bạn cùng trang lứa, cậu đã hiến dâng đời mình cho Chúa và được diễm phúc lãnh nhận thánh chức linh mục ngày 12-8-1944 tại Phát Diệm.
    Khởi đầu sứ vụ linh mục, cha Matthêu được bề trên bổ nhiệm làm cha phó xứ Bình Sa - Ninh Bình từ 1944–1945. Năm Ất Dậu 1945 là kí ức kinh hoàng đối với dân tộc Việt Nam với khoảng 2 triệu người chết đói tại miền Bắc. Chính trong thời điểm này, bằng những việc bác ái rất mực cao độ kết hợp với đời sống đạo đức gương mẫu vốn đã có nền tảng từ những năm tháng ở chủng viện, cha đã chứng tỏ cho mọi người thấy cha đúng là vị mục tử như lòng Chúa mong ước. Nhận thấy chiều sâu tâm hồn của cha xứng đáng là mẫu gương cho các linh mục tương lai noi theo, trong suốt 30 năm, từ 1945–1975, Bề trên đã tín nhiệm đặt cha làm cha linh hướng kiêm giáo sư tại các chủng viện: Tiểu chủng viện Phúc Nhạc; Tiểu chủng viện Phát Diệm Phú Nhuận, Tiểu chủng viện và Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn. Trong nhiều năm trước 1975, cha đã cộng tác với cha Bề trên Gioan Baotixita Trần Ngũ Nhạc để hướng dẫn hai tu hội: “Tu hội Chúa Giêsu” và “Tu hội Mẹ Maria” nay đổi tên là “Tu hội Nô tỳ Thiên Chúa”.
    Sau biến cố 1975, vì lý do thời cuộc, cha được Bề trên bổ nhiệm làm chánh xứ Ninh Phát từ 1975–1994; đồng thời kiêm nhiệm chức Quản hạt Gia Kiệm từ 1976–1994 và Bề trên đồng sáng lập Tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa từ 1983–1994 (cha GB. Trần Ngũ Nhạc qua đời ngày 04-09-1983).
    Là một người rất sùng kính Đức Trinh Mẫu Rất Thánh Diễm phúc Maria, cha đã hướng dẫn rất nhiều tu sĩ và giáo dân hiểu biết về Mẹ. Cha tổ chức nhiều cuộc trình diễn với những lời dẫn, hình ảnh và hoạt cảnh để người tín hữu hiểu sâu xa hơn về cuộc đời của Chúa Cứu Thế và Đức Trinh Nữ Maria một cách sống động, cụ thể hơn, qua đó dễ thực hành theo gương Chúa và Đức Mẹ. Đặc biệt, cha tổ chức nhiều khoá huấn luyện về đời sống tận hiến, giúp người tín hữu biết chạy đến với Đức Mẹ, cậy trông, phó thác nơi Đức Mẹ, và qua Mẹ để đến với Chúa Ba Ngôi.
    Đầu năm 1994, cha lâm trọng bệnh và sức khỏe ngày càng suy giảm nghiêm trọng. Với lòng yêu mến Mẹ đặc biệt, Cha luôn cầu khẩn Đức Mẹ cho cha đựơc chết vào một ngày lễ nào đó của Mẹ. Và thật cảm động thay, như một dấu chỉ ưu ái mà Đức Mẹ ân ban cho cha, đúng vào lúc 11 giờ ngày 31-5-1994, ngày lễ Đức Mẹ đi thăm viếng bà thánh Isave, giữa lúc lời Kinh Truyền Tin đang được cất lên trên môi miệng của những người vây quanh giường cha thì cũng chính là lúc Đức Mẹ đến viếng thăm và đón cha về nhà Cha trên Trời.
    Linh đạo cha cố Matthêu
    Là một nhà tu đức chuyên nghiệp và sâu sắc, cha cố Matthêu đã trình bày cách rất bình dân dễ hiểu một KITÔ GIÁO HIỂU VÀ SỐNG, cũng gọi là ĐẠO CHÍNH TRUYỀN CẢI MẾN YÊU. Gọi là Đạo Chính Truyền vì là đạo do chính Chúa Kitô truyền dạy, còn ghi lại trong Tin Mừng.
    Dựa trên nền tảng hai lời Thánh Kinh: “Ai tin và chịu phép rửa tội sẽ được cứu rỗi, ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16,16); và “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17), cha phân tích:
    Đạo hiểu nghĩa là tin mà chưa có việc làm.
    Đạo sống tức là tin và có việc làm.
    Thế nên, để được cứu rỗi cần phải kết hợp đạo hiểu và sống. Sau đây là tóm tắt cách trình bầy của cha:
    A. PHẦN LÝ THUYẾT
    1/ ĐẠO HIỂU tức KẾ HOẠCH CỨU RỖI (phần tín lý): được tóm gọn trong kinh Tin kính các Thánh Tông Đồ gồm 3 điểm:
    – Chúa Cha tạo dựng loài người và nhận làm con để có quyền thừa kế gia nghiệp của Cha là Nước Trời.
    – Chúa Con nhập thể làm người rồi chết khổ nhục và sống lại sướng vinh để chuộc lại cho loài người chức làm con Thiên Chúa và quyền thừa kế Nước Trời đã mất vì tội.
    – Chúa Thánh Thần cùng Hội Thánh tiếp tục việc cứu chuộc của Chúa Kitô, nhờ đó ta được thực sự làm con Thiên Chúa và có thể thừa kế Nước Trời.
    2/ ĐẠO SỐNG tức SỐNG ĐẠO CHÍNH TRUYỀN (phần luân lý và tu đức): đây là kết luận do phép rửa tội cũng gồm 3 điểm:
    – Ba lần thề hứa từ bỏ ma quỷ, công việc, sự phù hoa của chúng. Đó là bỏ tà dục, nết xấu, tội lỗi, gọi tắt là CẢI.
    – Ba lần thề hứa làm con Thiên Chúa. Con thì phải mến Cha, gọi tắt là MẾN.
    – Những người cùng làm con một Cha chung thì là anh chị em với nhau. Anh chị em thì phải yêu nhau, gọi tắt là YÊU.
    Vậy Cải mình, Mến Chúa, Yêu người là những việc phép rửa tội đòi buộc nói tắt là CẢI, MẾN, YÊU. Sống 3 việc đó là sống ĐẠO CHÍNH TRUYỀN CẢI MẾN YÊU.
    Tuy nhiên, để đạt tới sự yêu người hoàn bị, Kitô giáo đề cập đến ba yếu tố: Công bình, Bác ái, Hoà giải, gọi tắt là CÔNG, ÁI, HOÀ.
    Như vậy, sống đạo Cải Mến Yêu cách trọn vẹn chính là sống ĐẠO CHÍNH TRUYỀN gồm 5 điểm căn bản: CẢI, MẾN, CÔNG, ÁI, HÒA với 5 lời Thánh kinh sau:
    CẢI: “Hãy cởi bỏ người cũ” (Ep 4,22).
    MẾN: “Này con đến để tuân hành ý Cha” (Dt 10,9).
    CÔNG: “Đừng làm cho ai cái mình không muốn chịu” (Tob 4,10).
    ÁI: “Mọi điều chúng con muốn người ta làm cho mình thế nào, thì hãy làm cho họ như vậy.” (Mt 7,12).
    HÒA: “Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4,26).
    B. PHẦN THỰC HÀNH
    Xác tín rằng: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17), cha cố Matthêu đã dày công nghiên cứu, đã sống và rút ra những chỉ dẫn cụ thể để giúp ta hoàn thiện lối sống Đạo Chính Truyền Cải Mến Yêu như sau:
    Để sống Đạo Chính Truyền Cải Mến Yêu cách sâu đậm và toàn diện:
    – Tránh những lối sống đạo lệch lạc như: sống đạo theo hứng, sống đạo vụ lợi, sống đạo kinh lễ.
    – Tận dụng tất cả những sinh hoạt tôn giáo vào việc đó như: Sống mầu nhiệm Nhập Thể, sống mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh; tôn sùng Phép Thánh Thể; sống thánh lễ; sống lời Chúa; chịu bí tích Sám hối; lần hạt Mân Côi – yêu mến Đức Mẹ; cầu nguyện.
    Kết hợp với những chỉ dẫn trên, ngài luôn yêu cầu người thực hiện phải có những điểm sống cụ thể đi kèm. Chẳng hạn: để thực thi sự tiết độ trong ăn uống, ngài dạy: Đừng để cho mình nghiện thứ gì; Bài trừ tật xấu như thi đua tửu lượng, ép nhau ăn uống đến say sưa; không mượn chén rượu để tranh luận, dạy con, mắng nhiếc người khác; thỉnh thoảng hãm mình như ăn chay, ăn vài miếng cơm nhạt, hoãn uống mấy phút khi khát …
    Ngài đã viết nhiều sách vở về thần học, tu đức, nhiều tập thơ để giúp cho giáo dân, nhất là các thiếu nhi dễ nhớ nội dung các bài giáo lý và những cách sống đạo thật thực tế và hữu hiệu.
    Tóm lại, ưu tiên hàng đầu mà ngài đặt ra sau khi đã giúp người nghe hiểu được điều phải tin là buộc phải có điểm sống cụ thể để thực hành trong đời sống.
    Lời kết
    Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: “Ngày nay người ta tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy. Nếu người ta tin vào thầy dạy vì thầy dạy đã sống chứng nhân”.
    Cha cố Matthêu đích thực là một vị mục tử tốt lành và thánh thiện, một chứng nhân sống động của Tin Mừng. Ngài không chỉ dạy người ta sống mà đặc biệt,ngài đã sống những điều đó một cách hết sức anh hùng và gương mẫu. Đời sống thánh thiện ấy đã ảnh hưởng rất lớn đến nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người được ngài trực tiếp hướng dẫn và chăm sóc đến độ mọi người, kể cả các đấng Bề Trên, từ lâu nay vẫn gọi ngài là “Cha thánh Kỳ” với lòng kính trọng đặc biệt.
    Nếu như khi được chứng kiến đời sống thánh thiện của cha thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, bổn mạng của các linh mục, đã khiến có người phải thốt lên: “Tôi đã thấy Chúa trong một con người”; thì con cái của cha cố Matthêu hôm nay cũng có thể nói được rằng: “Cha cố Matthêu cũng chính là hình ảnh sống động của Thiên Chúa giữa lòng thời đại hôm nay”.

    GP Xuân Lộc
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 02-01-2010 lúc 08:31 PM

  38. Có 4 người cám ơn Damsan vì bài này:


  39. #35
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Gioan Baotixita TRẦN VĂN CỪ
    (1927–1998)
    Sơ lược tiểu sử:
    Sinh ngày 01-02-1927 tại làng Công Xá, Tỉnh Hà Nam
    con ông Augustinô Trần Văn Hận và bà Maria Trần Thị Biết,
    Rửa tội ngày 03-02-1927 tại nhà thờ Công Xá, giáo phận Hà Nội,
    Thêm sức năm 1935 tại nhà thờ Công Xá.
    Vào Trường Tập, rồi Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên ngày 01-09-1939
    Có văn bằng CEPCI năm 1942
    Vào Đại chủng viện Saint-Sulpice Hà Nội ngày 16-08-1950
    Thụ phong linh mục tại nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn ngày 01-05-1958
    do Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình
    Là linh mục gốc giáo phận Hà Nội, gia nhập giáo phận Saigon từ ngày 15-05-1958
    Những nơi đã phục vụ:
    1958: 3 tháng rưỡi tại Lái Thiêu, 2 tháng tại Tam Hà Thủ Đức
    1958–1959: Phó xứ Phúc Hải, Biên Hoà
    1959–1960: Phó xứ Hoà Khánh, Đức Hoà
    1960–1962: Phó xứ Hoà Hưng (Phó xứ đầu tiên của Hoà Hưng)
    1962–1970: Phó xứ Bắc Hà
    1970–1974: Nghỉ bệnh tại Nhà Hưu Hà Nội, Ngã Sáu
    3/1974–1998: Chính xứ Tân Phú Hoà
    Qua đời ngày 09-05-1998 tại nhà thờ Tân Phú Hoà, hưởng thọ 71 tuổi với 40 năm linh mục.

    Công trình văn hoá:
    - Phụ trách báo Mẹ Hiền của Các Bà Mẹ ngay từ đầu, khi làm Phó xứ Bắc Hà (báo Mẹ Hiền nay đã tục bản).
    - Những tác phẩm đạo đức: soạn Sách Giáo Lý cho trẻ em, nhất là biên soạn 13 tập Giờ Thánh.

    Công trình xây dựng:
    - Sửa sang khuôn viên Nhà thờ, vì là vùng thấp, hay bị lũ lụt.
    - Đại tu Nhà thờ Tân Phú Hoà năm 1996: nâng nền, tôn tạo cung thánh và xây nhà xứ mới (đơn sơ).
    Công trình đạo dức:
    - Từng làm Phó Giám đốc Liên Minh Thánh Tâm, Tuyên Uý Hội Các Bà Mẹ ở Bắc Hà
    - Chăm lo đời sống thiêng liêng, khuyến khích ơn kêu gọi, có nhiều con cái thiêng liêng nam cũng như nữ.

    Đức tính:
    - Sống thanh khiết: luôn luôn giữ gìn từ lời nói đến tiếp xúc: nói chuyện với nữ giới, ngài hay ngước mắt lên trời!
    - Tinh thần vâng phục: luôn vâng phục bề trên, phục vụ các nơi khác nhau: hai giáo xứ địa phương như Lái Thiêu, Hoà Hưng, cũng như các giáo xứ khác, đang nghỉ bệnh cũng vâng lời đi nhận xứ Tân Phú Hoà.
    - Sống khó nghèo: sống rất bình dị, không có gì sang trọng cho mình, tự mình lo cho mình: không bà bếp, không người giúp việc, sống trong nhà xứ lụp xụp, trần thấp (vì đôn nền mấy lần) suốt 22 năm từ 1974-1996, không bao giờ phàn nàn về cảnh sống của mình, sống nghèo cho mình, nhưng chăm lo cho Nhà Chúa khang trang và đóng góp nhiều cho việc chung của giáo phận.

    Đặc điểm:
    - Hy sinh chịu đựng: ngài là một vị linh mục chịu đau khổ nhiều không phải vì anh em giáo dân, mà do chính quyền địa phương: Phường 19 Quận Tân Bình, nơi có nhà thờ Tân Phú Hoà (nay là Phường Phú Trung Q,Tân Phú), là Phường gây khó khăn nhất cho hoạt động tôn giáo, vì nơi có nhiều dân nằm vùng, hay soi mói cha sở và nhà thờ: không cho ai phụ giúp ngài: ngài phải tự kéo chuông, dọn bàn thờ, đọc sách thánh phải đăng ký người, không có người làm bếp: ăn cơm theo chế độ “cà-mèn”: người đưa cơm tới nhà xứ thỉnh thoảng bị công an khu vực mở nắp ra coi xem những món gì. Sinh hoạt tôn giáo bị hạn chế, các đoàn thể bị theo dõi. Tình trạng khó khăn này kéo dài mãi đến thập niên 90 mới chấm dứt! Hy sinh chịu đựng vì môi trường: giáo xứ Tân Phú Hoà nằm ngay bên cạnh Nghĩa địa Phú Thọ Hoà: bình thường đã ô nhiễm, khi giải toả lại trở thành những lò hoả thiêu lộ thiên càng thêm ô nhiễm, hơn nữa lại còn ô nhiễm vì nước thải độc hại do thuốc nhuộm và các phế liệu… Ngài không kêu ca, mà còn dí dỏm gọi Tân Phú Hoà là “tàn phù hoa”!
    - Có lòng chung: chăm lo việc Nhà Chúa và đóng góp chung. giáo xứ Tân Phú Hoà gồm đa phần dân lao động nghèo (về sau lại thêm di dân), thế mà ngài vận động giáo dân đóng góp vào hàng nhất của hạt Phú Thọ (theo tỷ lệ), điển hình như việc đóng góp xây dựng Văn Phòng Toà TGM, Tân Phú Hoà xếp thứ hai, chỉ sau giáo xứ Phát Diệm Phú Nhuận. Hàng tháng vẫn gửi tiền lễ tốt cho các già hưu, nhất là cho Nhà Hưu Hà Nội Ngã Sáu.
    - Sống tế nhị: ra ngoài luôn vui vẻ với mọi người, luôn lắng nghe giáo dân, không ngắt lời (dù người đối thoại có nói dai), giữ thể diện người khác, không la mắng ai, không dùng toà giảng để chỉ trích ai, không tiết lộ chuyện người này cho người khác. Vì ngài nhân đức, nên đã giúp cho nhiều cuộc hoà giải thành công, không có chuyện thắng thua.
    - Thương người: sau 1975 âm thầm giúp đỡ cho các gia đình nghèo, người nghèo xin lễ: ngài thường cho lại, đặc biệt lễ cưới và lễ an táng: không nhận tiền lễ. Nhà thờ không có hòm khấn, không có giỏ tiền chuyền tay trong giờ lễ. Ngài chỉ đặt 6 hộp tiền chung quanh tường Nhà thờ, để giáo dân ý thức tự động bỏ tiền vào đó. Thế mà vẫn đủ chi dụng mà còn dư để giúp nơi khác.
    - Nói chung, cha Trần Văn Cừ đạo đức, hiền lành và khiêm nhường, được mọi người mến thương: từ các đấng bề trên đến anh em linh mục và giáo dân. Có thể nói ngài là một trong những linh mục gương mẫu của Tổng Giáo Phận Saigon.

    TGP TPHCM

  40. Có 4 người cám ơn Damsan vì bài này:


  41. #34
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức Ông Gioan Maria
    Trần Văn Hiến Minh
    (1918–2003)
    Nhà đào tạo mẫu mực và tông đồ nhiệt thành rao giảng Tin Mừng



    19/6/1918 : Sinh tại Sa Châu, Bùi Chu
    1932-1938 : Tiểu Chủng viện Ninh Cường, Bùi Chu
    1938-1946 : Du học Rôma
    19/3/1944 : Thụ phong linh mục tại Rôma
    1945-1946 : Tiến sĩ triết học và tiến sĩ thần học tại Rôma
    1946-1950 : Cử nhân xã hội học tại Paris
    Tuyên uý Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Pháp, lập giáo xứ Việt Nam tại Paris
    1950-1960 : Giáo sư, giám đốc Đại Chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu
    1957-1999 : Linh mục Đại diện Bùi Chu tại miền Nam
    1960-1967 : Giáo sư triết học tại Đại Chủng viện thánh Giuse, Sài Gòn
    1960-1975 : Bề trên 2 trường trung học Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn và Gia Định
    Giáo sư triết học các trường: Nguyễn Bá Tòng, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Trưng Vương và Trường Sơn
    Giáo sư Tiểu Chủng viện thánh Phanxicô, Bùi Chu; thánh Giuse, Sài Gòn
    Giám đốc nhà in Nguyễn Bá Tòng
    1963-1975 : Đại diện Đức Tổng Giám mục Sài Gòn tại Hội đồng Liên tôn
    Giáo sư Đại học Văn Khoa, Sài Gòn
    1967-1978 : Tuyên uý phong trào Pax Romana
    Giáo sư triết học và thần học tại Đại Chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, Giáo Hoàng Học viện Piô X, Đà Lạt
    1971-1977 : Thư ký thường trực HĐGMVN, giám đốc Trung tâm Công giáo
    1979-1999 : Thành viên các Uỷ ban nghiên cứu thần học và Uỷ ban Phụng tự của HĐGMVN
    1978 : Thành lập Đại chủng viện Đức Ái
    1979 : Thành lập Tu hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng
    1993 : Toà Thánh ban tặng tước Đức Ông nhân dịp kim khánh linh mục
    1993-1998 : Đại diện Đức Giám quản Tổng giáo phận TP.HCM, đặc trách các dòng tu
    1999 : Nghỉ hưu
    21/10/2003 : Từ trần tại trụ sở Bùi Chu, 1B Tôn Thất Tùng, TP.HCM.
    1. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng qua việc giảng dạy
    Năm 1950, sau 13 năm du học tại Rôma và Paris, cha Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh trở về quê hương và phục vụ tại giáo phận Mẹ Bùi Chu. Ngài được Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi bổ nhiệm làm giáo sư, phó giám đốc rồi giám đốc Đại Chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu (1950-1960), thường trực Liên Chủng viện Bắc Việt. Dù trong cương vị nào, cha Gioan cũng hết mình thực thi sứ vụ và trách nhiệm mà bề trên trao phó, với lòng nhiệt thành và quảng đại. Ngài hăng say nghiên cứu giảng dạy và cố gắng truyền đạt những kiến thức cũng như kinh nghiệm cho các môn sinh, nhất là các lãnh vực chuyên môn về triết học và thần học; đồng thời giữ vai trò liên kết giữa ban giáo sư trong các chủng viện.
    Ngài cũng là người đầu tiên khởi xướng việc giảng dạy các môn học thánh ở Đại Chủng viện bằng Việt ngữ. Bước đầu gặp phải rất nhiều gai góc và khó khăn từ nhiều phía, nhưng sau khi được Đức Khâm Sứ Toà Thánh tại Việt Nam, John Dooley, Tổng Giám mục hiệu toà Macra chấp thuận và khích lệ, công việc được thực hiện một cách dễ dàng hơn, mở đầu cho một nền thần học Việt Nam phát triển theo chiều hướng mới mang tính hội nhập. Các tác phẩm, các bộ từ điển, từ vựng, các giáo trình triết học, thần học lần lượt được xuất bản. Riêng bộ giáo khoa triết học vẫn còn được dùng để giảng dạy trong các chủng viện cho đến ngày nay. Hiểu như thế chúng ta không lạ gì khi thấy ngài luôn là thành viên của Uỷ ban Phụng tự và Uỷ ban Thần học của HĐGMVN cho đến những năm cuối đời.
    Cha Gioan coi chủng viện như một gia đình mà Chúa trao phó cho ngài chăm lo đào tạo. Ngài luôn gắn bó và dành tình cảm yêu thương như một người cha đối với các chủng sinh. Vì thế, chủng viện di dời đi đâu thì ngài đi đó, từ Quần Phương lên Hà Nội rồi vào Sài Gòn trong biến cố năm 1954.
    Năm 1960, khi Toà Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, các chủng viện di cư của các giáo phận miền Bắc phải nhập vào các chủng viện địa phương, cha Gioan được Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình đặt làm bề trên trường trung học Nguyễn Bá Tòng (1960-1975), đồng thời với việc dạy học trong các chủng viện và đại học. Trong môi trường giáo dục rộng mở hơn, cha Gioan càng tỏ ra nhiệt tình với sứ vụ giảng dạy, nhất là truyền thụ nền giáo dục Kitô cho các thế hệ học trò. Dù trong môi trường tu viện, chủng viện hay trường học, công lập, tư thục và đại học, ngài đều tỏ ra là một nhà đào tạo tài năng và đức độ, luôn nhiệt thành với sứ vụ truyền bá đức tin và văn hoá.
    Ngoài việc giảng dạy nơi trường lớp, cha Gioan còn chú tâm rao giảng bằng ngòi bút. Cha là giám đốc nhà in Nguyễn Bá Tòng. Cha viết bài cho báo Đường Sống, báo Sacerdos, báo Xây Dựng. Cha cùng một số đồng nghiệp soạn và xuất bản bộ Giáo lý Trung học cũng như những tập sách Tín lý toát yếu cho giới sinh viên và cho các thành viên Pax Romana mà cha đảm nhận vai trò tuyên úy. Cha cũng giúp soạn thảo hiến pháp cũng như các tài liệu đào tạo cho nhiều dòng tu và tu hội. Quả thực cha Gioan say sưa với công việc đào tạo và dường như ngài chỉ muốn chu toàn công việc này mà thôi.
    Sau biến cố 30/4/1975, các trường học đều thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Vì thế các linh mục, tu sĩ phải rời khỏi bục giảng. Trong hoàn cảnh mới này, cha được tình yêu Chúa Giêsu thôi thúc phải “rao giảng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,2). Vì thế, cha đã thích nghi và bắt đầu ngay vào giai đoạn nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trong âm thầm (1975-2003). Cha mở các lớp giáo lý tân tòng dành cho người lớn tuổi từng lớp hai hay ba người và rửa tội cho họ. Cha tự nhủ: “Trước đây Chúa sai đi thả lưới bắt cá, lúc này Chúa sai đi thả câu bắt từng con!” Giai đoạn này, với phép của các đấng bề trên, cha Gioan âm thầm khai sinh ra Đại Chủng viện Đức Ái và Tu hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng.
    Linh mục Albertô Trần Phúc Nhân, giáo sư Kinh Thánh, đã nói: “Tôi xin nói lên lòng khâm phục một giáo sư học giả vào hàng tiên phong trong môn triết học và thần học bằng tiếng Việt. Ngay từ 50 năm trước đây, Đức Ông đã soạn những cuốn tự điển và những bộ sách giáo khoa tiếng Việt về những môn này, không những giúp ích cho các học viên thời đó, mà còn mở đường cho những tác phẩm của các tác giả đi sau. Một điểm khác cũng cần nêu ra, là vai trò của Đức Ông trong việc đào tạo linh mục trong các Đại Chủng viện trước năm 1975. Sau năm 1975, vai trò này lại càng quan trọng hơn, nhất là đối với giáo hội miền Bắc. Có thể nói nhiều giáo phận tại Việt Nam, nhất là giáo phận Bùi Chu, ngày nay vẫn còn đang gặt hái những thành quả do công lao vất vả của Đức Ông sau năm 1975”.
    2. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng bằng chính cuộc sống
    Trước hết, với tư cách là linh mục, cha Gioan luôn luôn ngay thẳng trung thành với nguyên tắc đời tu, rất chừng mực trong nếp sống đời thường và đầy lòng yêu mến. Ấn tượng ban đầu đối với các học trò là sự đúng giờ, luôn tươi vui và khả ái. Cha Gioan luôn kính trọng và vâng phục các đấng bề trên. Trong giao tiếp và các mối quan hệ, cha rất nhã nhặn, chín chắn và đĩnh đạc; trong các phát biểu, ngài chừng mực và luôn lắng nghe; trong đời sống, ngài đơn sơ khó nghèo, luôn kỷ luật và nề nếp.
    Điểm nổi bật nữa là lòng khiêm tốn hiền hậu. Người ta thấy nơi cha Gioan “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cha Gioan có “chữ tâm” của nhà giáo dục Kitô, đó là sự hiền lành và khiêm nhường theo Chúa Giêsu. Cha thật khiêm nhường đơn sơ và hồn nhiên. Thầy Giuse Phạm Trọng Hoá học trò của cha Gioan ở Đại Chủng viện thánh Tôma kể: “Có ai nhắc đến bằng Tiến sĩ, thì cha nói: ‘Bằng Tiến sĩ là chứng chỉ sự dốt nát của mình’ rồi cha giải thích: ‘Cũng như có lên núi cao, mới thấy trời rộng, thì khi đạt được bằng Tiến sĩ, sẽ thấy biển học mênh mông’”. Sự khiêm tốn của cha Gioan còn rõ nét trên bục giảng: với giọng nói bình dị, phân tích đề tài có gốc có ngọn, rõ ràng, mạch lạc, đầy tính sư phạm. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong các trước tác của ngài. Linh mục Phêrô Đặng Xuân Thành, giáo sư Thần học Luân lý, đã chia sẻ: “Tôi đã học nơi ngài cách thi hành thiên chức sư phạm một cách hết sức căn bản, đó là không khoe chữ hay lòe kiến thức”.
    Cha Gioan ít nói về bản thân và cũng không muốn ai đề cao ngài. Trong những dịp mừng bổn mạng, mừng ngân khánh, mừng thọ, cha không muốn được người ta ca tụng. Dịp mừng kim khánh linh mục, năm 1994, các linh mục vui mừng nghe đài Vatican loan tin Toà Thánh ban tặng tước hiệu Đức Ông cho cha, nhưng thấy cha vẫn làm thinh, tưởng cha không biết. Khi đến chúc mừng, cha đưa cho xem văn thư của Toà Thánh do Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ gửi về và nói: “Tước hiệu là chuyện đời. Vả lại nhiều linh mục còn làm những việc lớn lao hơn mình nhiều”.
    Hình ảnh cha Gioan lưu lại nơi người gặp gỡ cha là cặp mắt hiền từ và nụ cười hồn nhiên. Cha hiền hậu không nặng lời với ai, nhưng hơn hết là sự thánh thiện và lòng yêu mến Giáo Hội cùng với trái tim rộng mở, bao dung, nhân ái, sự tận tuỵ và lòng nhiệt thành với sứ vụ rao giảng Tin Mừng.
    Cha Gioan rao giảng Tin Mừng bằng tình thương yêu, nhất là tình cảm trìu mến dành cho các ơn gọi linh mục và các ơn gọi sống đời thánh hiến. Cha Gioan luôn tỏ ra quý trọng các linh mục và sẵn sàng chia sẻ gánh nặng mục vụ với anh em linh mục. Trong cương vị đại diện Bùi Chu tại miền Nam, cha hết lòng quý mến các cha gốc giáo phận Mẹ Bùi Chu, lo cổ võ sự hiệp nhất, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau, luôn hướng về quê nhà yêu dấu. Cha nhận đây như một bổn phận và trách nhiệm. Cha tìm đến thăm hỏi giúp đỡ an ủi các linh mục đau yếu, lo xây dựng, duy trì và mở rộng trụ sở Bùi Chu, nhà hưu dưỡng linh mục.
    Kể về những kỷ niệm với cha Gioan, các môn sinh của cha kể rất nhiều. Nhưng kỷ niệm gây ấn tượng nhất với họ là tấm lòng rộng mở, bao dung và đầy tình thương yêu, được thể hiện qua thái độ lắng nghe và trao đổi. Tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, khi thì cha an ủi, khích lệ; khi thì sửa chữa những sai lầm, khiếm khuyết; khi thì cha giúp đỡ tinh thần và cả vật chất nữa; cả những người vì một lý do nào đó phải nhận sự kỷ luật cũng rất cảm phục tấm lòng yêu thương rộng mở của cha.
    3. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng bằng những sáng kiến cấp thời
    Cuối niên học 1977-1978, Nhà nước buộc Đại Chủng viện Sài Gòn phải đăng ký lại ban giáo sư và các chủng sinh phải hội đủ các tiêu chuẩn của Nhà nước. Số đại chủng sinh chừng 230, nhưng chỉ khoảng 50 thầy đủ điều kiện, còn gần 200 thầy bị loại. Họ bơ vơ tan tác. Trước hoàn cảnh bi đát đó, là nhà đào tạo, cha Gioan cảm thấy vô cùng xót xa và “chạnh lòng thương”. Cha xin phép Đức Tổng Giám mục Sài Gòn cho phép thành lập Đại Chủng viện ngoại trú và đã được Đức Tổng phê chuẩn với sự khích lệ và nhiệt tình giúp đỡ. Vì thế, Đại Chủng viện Đức Ái được hình thành và phát triển.
    Với thời gian, Đại Chủng viện Đức Ái đón tiếp thêm nhiều ơn gọi mới trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhất là các thầy từ giáo phận Mẹ Bùi Chu, được Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất gửi vào. Năm học 1992-1993, tổng số chủng sinh của Đại Chủng viện Đức Ái lên tới 130 thầy thuộc nhiều miền của đất nước, nhất là từ Bùi Chu. Về mặt tu đức, Đại Chủng viện Đức Ái được tổ chức như một Tu hội đời. Cha Gioan đã mời các linh mục, giáo sư và các nhà đào tạo cộng tác giảng dạy và huấn luyện các ứng sinh cho chức linh mục. Các nhà đào tạo và giáo sư Đại Chủng viện Đức Ái lúc bấy giờ hơn kém 30 vị, gồm có nhiều tiến sĩ, cao học, cử nhân chuyên ngành đã tốt nghiệp ở nước ngoài và các giáo sư đã từng dạy trong các Đại Chủng viện và Đại học trước 1975. Nhờ sự thánh thiện, đức độ và uyên bác, nhất là tấm lòng của người mục tử nhìn thấy tương lai của Giáo Hội tuỳ thuộc rất nhiều nơi chủng viện, nên các giáo sư không ngần ngại nhận lời giúp Đại Chủng viện Đức Ái. Đây cũng là dịp tốt để giáo phận Bùi Chu nói lời tri ân đến tất cả các cộng sự viên của Đức Ông Gioan trong việc đào tạo, giúp đỡ và vun trồng các ơn gọi, mà hôm nay họ đang hiện diện khắp nơi để tiếp nối công việc rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng.
    Có lần một nhóm linh mục Đại Chủng viện thánh Tôma về mừng quan thầy cha Gioan, lúc đó cha đã ngã bệnh, nhưng cha rất vui mừng và nhắc tên từng người. Cha tâm sự về Đại Chủng viện Đức Ái: “Vẫn biết rằng Đại Chủng viện nội trú là phương thế huấn luyện tối ưu của Giáo Hội. Nhưng vì hoàn cảnh không thể mở được, nên chỉ biết làm hết sức, phần còn lại Chúa sẽ lo. Bây giờ chỉ xin dâng những đau khổ bệnh tật để xin Chúa thánh hiến họ”.
    Cùng với các thế hệ học trò ở khắp nơi ảnh hưởng một “truyền thống Gioan”, cách riêng với hơn 100 linh mục xuất thân từ Đại Chủng viện Đức Ái, là những hoa trái mà Chúa gửi đến cho Giáo Hội qua cha Gioan, một nhà đào tạo mẫu mực, đầy lòng yêu mến, suốt đời hy sinh phục vụ và hăng say rao giảng Tin Mừng trong các môi trường đào tạo, như khẩu hiệu cha chọn vào đầu đời linh mục: “Chúa Giêsu Kitô đã thí mạng vì chúng ta, như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng thí mạng sống vì anh em” (1 Ga 3,16).
    Ngài đã an bình lên đường về Nhà Cha ngày 21/10/2003, hưởng thọ 84 tuổi, với 59 năm linh mục và gần ngần ấy năm phục vụ Giáo Hội qua thiên chức sư phạm đào tạo. Sự ra đi của Đức Ông Gioan để lại bao niềm thương nhớ đến các thế hệ học trò ở mọi môi trường giáo dục: công, tư, trung học, đại học, chủng viện, dòng tu...
    Nhân Năm Linh Mục, mẫu gương của Đức Ông Gioan góp phần làm sáng lên hình ảnh người linh mục của Chúa Kitô và cũng là niềm tự hào của toàn thể Giáo Hội. Những lời của Đức Hồng y Claudio Hummes, Bộ trưởng Bộ Giáo Sĩ, trong lá thư nhân Năm Linh Mục, thật thích hợp để nói về Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh:
    “Giáo Hội tự hào về các linh mục của mình biết bao, Giáo Hội yêu mến họ, trọng kính họ, thán phục họ và nhìn nhận với lòng biết ơn công việc mục vụ và chứng tá đời sống của họ dường nào. Đúng vậy, các linh mục thật quan trọng không chỉ vì những gì họ làm, nhưng còn vì những gì họ là nữa”
    .


    GP Bùi Chu
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-12-2009 lúc 09:20 PM

  42. Có 5 người cám ơn Damsan vì bài này:


  43. #33
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Phaolô BÙI CHU TẠO
    (1909–2001)
    Người mục tử hiền lành, chủ chăn can đảm



    1. Tiểu sử
    Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo sinh ngày 21-01-1909 tại Tam Châu, là con ông bà cố Liên, nghĩa tử của cha già Phaolô Dương Đức Liêm. Năm 1921-1923 ngài theo học tại trường thử Ba Làng, sau đó về học tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, rồi Đại chủng viện Thượng Kiệm (1931-1937). Ngài được Đức cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng phong chức linh mục tại Phát Diệm ngày 13-03-1937. Sau đó, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc (1937-1940), linh hướng Đại chủng viện Thượng Kiệm (1945-1951). Từ 1951 đến 1954, ngài dưỡng bệnh tại đền Đức Mẹ Cứu Giúp ở cạnh chợ Nam Dân.
    Sau năm 1954, ngài về nhận nhiệm sở tại Tam Châu cho tới ngày được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản tông tòa Phát Diệm (30-11-1956). Ngài chính thức về nhận giáo phận ngày 25-01-1957. Ngày 26-04-1959, tại Hà Nội, ngài được tấn phong Giám mục giáo phận Phát Diệm. Ngài được gọi về nhà Cha ngày 05-05-2001, hưởng thọ 92 tuổi.
    Suốt cuộc đời 64 năm linh mục, 42 năm giám mục, ngài đã nên gương sáng trong đời sống cầu nguyện, thực thi bác ái mục tử, đúng như khẩu hiệu giám mục của mình: “Yêu thương không giả dối”.
    2. Con người của Bí tích Thánh Thể
    Đức Giám quản Phaolô Bùi Chu Tạo lên lãnh đạo giáo phận giữa lúc xã hội Việt Nam cũng như giáo phận Phát Diệm đầy biến cố phức tạp. Cuộc di cư 1954 để lại trong giáo phận những khoảng trống khó lấp đầy; số linh mục di cư gần hết, giáo dân di cư hơn một nửa; giáo phận xơ xác, tiêu điều. Chính Đức tân giám quản khi vừa nhận trách nhiệm nặng nề này, trong Thư Chung đầu tiên gửi toàn giáo phận đề ngày 25.01.1957, đã khiêm nhường xác tín: biết mình tài hèn sức yếu, tôi hết sức từ chối, nhưng ‘La-mã đã phán’ tôi nhận là thánh ý Chúa, cúi đầu vâng theo…”, “… Con thuyền này vẫn chở Chúa Giêsu và đoàn chiên yêu dấu của Chúa, cũng không khi nào Chúa để nó đắm chìm. Bất kỳ tay lái là ai, Gioan hay Phaolô, ta cứ yên trí vì có Chúa ở bên tay lái.”
    Nhờ đâu mà ngài xác tín mạnh mẽ và cậy trông vững vàng như thế? Thưa, nhờ gắn bó với Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài là con người của Thánh Thể.
    Chẳng biết tự bao giờ, ngài có thói quen thức dậy từ 2 giờ sáng, rồi lên nhà nguyện. Ngài quỳ cầu nguyện sốt sắng trước Thánh Thể đến 5 giờ rồi dâng lễ. Khi có ai cần tìm gặp ngài, nếu không thấy ngài ở trong phòng riêng, thì cứ đến nhà nguyện, chắc chắn gặp ngài ở đó. Ngài có thói quen rất đáng khâm phục là đọc các Giờ Kinh Phụng vụ trước Thánh Thể.
    Một linh mục được ở bên ngài nhiều năm kể lại: “Năm 1975, tôi được vào học hàm thụ tại Tòa giám mục. Nhà chung lặng ngắt giữa thời khó khăn, chỉ có Đức cha, cha chính xứ và tôi là người giúp việc. Đêm đầu tiên trằn trọc khó ngủ, đến nửa đêm về sáng lại ngủ quên, tới giờ lễ Đức cha phải từ tầng hai xuống gọi dậy giúp lễ. Thái độ ôn tồn, bao dung của Đức cha khiến tôi quyết tâm từ đây tự điều chỉnh để dậy đúng giờ. Ngày thứ hai, nghe tiếng chân Đức cha bước lên cầu thang, tôi vội bật dậy lên theo. Đồng hồ nhà nguyện chỉ 2 giờ. Tôi hơi bỡ ngỡ. Thì ra, ngày nào Đức cha cũng lên nhà nguyện vào giờ đó. Tôi hiểu ra sức sống nội tâm của Đức cha và hiểu được bí quyết làm cho Đức cha vừa mềm dẻo lại luôn cương quyết giữa bối cảnh xã hội đầy biến động lúc đó”.
    Trong thời kỳ giám mục của ngài, các linh mục thiếu hụt trầm trọng. Hầu hết các xứ, họ vắng bóng các linh mục, giáo dân phải tự sống đức tin của mình. Để nâng đỡ họ, Đức cha Phaolô đã tìm mọi cách để Bí tích Thánh Thể đến với đoàn chiên. Ngài lựa chọn các ông trùm, ông quản, những người đạo đức, trao thừa tác vụ ngoại lệ để họ kiệu Mình Thánh về cho giáo dân chầu buổi tối; buổi sáng có cử hành Lời Chúa và Hiệp lễ, rồi trao Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt. Ngài mời gọi những ai không hiệp lễ được thì hợp lòng rước lễ thiêng liêng. Nhờ vậy giáo dân vẫn giữ vững được đức tin.
    Ngay khi về nhận giáo phận, ngài đã tận tâm xốc lại phong trào Hội Thánh Thể nơi các giáo xứ, ban nhiều đặc ân cho những ai vào Hội Thánh Thể, cổ võ việc chầu Mình Thánh, đặc biệt trong ngày chầu lượt của các giáo xứ.
    Ai dự lễ Đức cha dâng đều nhận thấy rằng, ngài say mê Thánh Thể. Trước và sau thánh lễ ngài quỳ cầu nguyện thật lâu giờ.
    Như vậy, ngài không chỉ đặt Bí tích Thánh Thể vào trung tâm đời sống mục tử của mình, mà còn muốn mọi thành phần dân Chúa kín múc đựợc nguồn mạch đức tin nơi đây để sống đạo giữa hoàn cảnh lịch sử đầy biến động và nguy nan.

    3. Con người từ tốn và khôn ngoan
    Một linh mục kể: “Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo, con người hom hem ốm yếu, cân nặng chừng 40 ký. Con người như thế, lẽ ra theo nhận xét loài người, với sức đè nặng của nhiệm vụ Giám quản, giám mục trong suốt thời loạn ly bi đát (1954-1960), đã phải kiệt sức và mất sớm. Tuy nhiên chương trình của Thiên Chúa thì khác hẳn: hơn 40 năm trong chức vụ chủ chăn, ngài đã cầm cự với thời gian, với thời cuộc, luôn luôn phấn đấu kiên cường, trí khôn vẫn minh mẫn sáng suốt, và tuy sức khỏe đã giảm nhiều, nhưng ngài vẫn minh chứng phong độ khí khái, dẻo dai! Con người thầm lặng, ít nói, nhưng nếu nói ra thì câu nào cũng như đinh đóng cột, và thế đứng của ngài lúc nào cũng bình chân như vại!”
    Dù gặp hoàn cảnh nào ngài cũng luôn bình tĩnh, từ tốn và khôn ngoan. Cũng một linh mục Phát Diệm kể lại: Một hôm, sau khi dâng lễ ngoài nhà thờ lớn, ngài trở về Nhà Chung theo lối Núi Sọ. Có một anh công an y phục chỉnh tề đứng bên cạnh đường lên giọng hỏi ngài: Ông đi đâu? Ngài vẫn bình thản, thinh lặng bước đi. Anh ta đi theo, tới cổng vào nhà, anh ta lại hỏi lớn hơn: Ông đi đâu? Trước khi khép cổng, ngài dừng lại một chút và nhỏ nhẹ trả lời: “Nhà tôi đây”, rồi tiếp tục về phòng không chút bực bội hay khiển trách. Sau khi thay lễ phục, ngài chỉ nói như để bào chữa cho người công an: “Hình như anh này mới đến đây.”
    Đối diện với biết bao khó khăn, bị hạn chế đi lại, bị những lời la mắng của chính những giáo dân mà ngài yêu thương, bị những người một thời được ngài coi là thân thuộc quay lưng lại, ngài vẫn một thái độ điềm đạm, bao dung. Bởi ngài biết họ chỉ làm theo yêu cầu nào đó. Quả thực, lời Chúa Giêsu đã thấm nhuần nơi ngài: “Sự thật sẽ giải thoát anh em”“Ngài đã yêu thương họ đến cùng”.
    Hoàn cảnh khó khăn đã cầm chân ngài tại Tòa giám mục. Không thể đến với giáo dân, ngài viết thư luân lưu giáo huấn hàng giáo sĩ và giáo dân bằng những lời tâm huyết được kín múc từ nguồn mạch khôn ngoan là Lời Chúa và Thánh Thể. Từ năm 1959 đến năm 1988, ngài viết khá nhiều thư về các đề tài, vào các dịp khác nhau, nhằm nâng đỡ đức tin và hướng dẫn đoàn chiên sống đức tin trong hoàn cảnh mới.
    Có thể nói, Đức cha hiếm khi lớn tiếng. Ngài luôn nhỏ nhẹ, nhưng giọng nói âm trầm, rành rọt và khúc chiết, thâm thúy pha chút hóm hỉnh. Dáng người nhỏ nhắn, yếu ớt mà sự ung dung tự tại đến vĩ đại vẫn luôn toát lộ ra ngoài; ánh mắt luôn nhân hậu, hiền lành không sắc sảo mà vẫn đọc được tâm can người đối diện, dù là người thiện hay tà tâm.
    4. Con người đơn sơ, thân thiện và tận tình với đoàn chiên
    Đức cha sống đơn sơ, đạm bạc: từ tiện nghi trong phòng tới ăn mặc. Căn phòng của ngài chỉ là chiếc giường chiếu đơn sơ với bộ bàn ghế mộc mạc. Bữa ăn thường ngày là rau mắm đạm bạc. Ngài tự giặt giũ quần áo cho mình và tự tay thu dọn phòng riêng. Cố linh mục Luca Trần Hùng Sỹ kể lại: “Có lần về Phát Diệm thăm hai Đức cha, tôi bắt gặp cả hai vị đang tự mình ngồi giặt quần áo, và quét phòng riêng của mình!” Ngài chẳng tích trữ gì riêng cho mình, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ những người túng thiếu, bệnh tật. Quả thật gương sống thanh bần của ngài đã ảnh hưởng tới nhiều tâm hồn.
    Cuộc đời của ngài hoàn toàn xả thân cho giáo dân, liên tục sống đời trong suốt, chiếu dọi một nếp sống thánh thiện. Đối với chính quyền địa phương, ngài đối xử lịch thiệp, biết lui biết tới, mặc dù vẫn kiên trì trong phong độ cương nghị. Điều mà ai ai cũng cảm phục và nhận thấy nơi Đức cha là lòng bác ái, bao giờ cũng sẵn sàng tham gia với chính quyền chống nạn đói, chống bão lụt và mưu tìm lợi ích cho dân chúng.
    Ngài thật là Kitô thứ hai, thành mẫu gương sáng cho mọi thế hệ. Chính vì thế, trong dịp mừng Ngọc khánh linh mục của ngài, người ta đã không ngại tặng ngài danh hiệu: “Mục tử hiền lành, chủ chăn can đảm”. Thật xứng đáng thay!
    GP Phát Diệm
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-12-2009 lúc 09:16 PM

  44. Có 6 người cám ơn Damsan vì bài này:


  45. #32
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Paul Marcel PIQUET LỢI
    (1888–1966)


    Mục tử nhiệt thành, khó nghèo và nhân hậu






    Đức cha Paul Raymond Marie Marcel PIQUET LỢI sinh ngày 27-08-1888 tại Notre Dame des Champs, Paris, nước Pháp. Ngài là người con thứ 7 trong gia đình Công giáo đạo đức có 8 người con. Chúa ân ban cho song thân ngài 2 ơn gọi làm linh mục. Thân mẫu qua đời lúc ngài mới sáu tuổi. Sớm mất mẹ, cậu Marcel đặt trọn tình yêu và lòng tín thác vào Người Mẹ trên Trời là Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm.

    Năm 1898, Marcel Piquet nhập học tại Tiểu chủng viện Notre Dame des Champs. Và ngày 15-09-1908, ngài gia nhập Đại chủng viện Thừa Sai Bièvres. Thầy Marcel xác quyết ơn gọi truyền giáo của mình trong thỉnh nguyện thư gởi cha Giám đốc Đại chủng ciện Thừa sai Bièvres khi sắp mãn lớp Terminal (tương đương lớp 12) như sau: « Con không có những tài năng lớn lao, cũng không có những nhân đức cao cả. Nhưng con biết rằng Chúa Nhân Lành gọi con trong Ơn gọi Truyền giáo. Hành trang đức hạnh con mang theo không có những phẩm tính cao quí, nhưng những gì con có, con hiến dâng tất cả. Đó là thiện chí của con. Ước muốn quyết liệt của con là sau này trở nên một công cụ hữu dụng trong tay các Bề Trên.”

    29-09-1912: Thầy Marcel lãnh chức linh mục và ngày 27-11 lên đường truyền giáo cho địa phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn), Việt Nam.

    29-12-1912: Đặt chân lên miền truyền giáo Qui Nhơn và nhận tên Việt là Lợi.

    1913 – 1915: Cha Phó Xứ Đồng Quả.

    1915: Nhập ngũ với nghiệp vụ y tá nhưng sớm giải ngũ vì lý do sức khoẻ

    09/1916: Giám đốc kiêm giáo sư Triết Đại chủng viện Đại An, Qui Nhơn.

    1924 – 1927: Cha sở Dinh Thủy, Ninh Thuận.

    1928 – 1943: Cha sở Hộ Diêm, Ninh Thuận.

    1941 – 1943: Bề trên Giáo phận Tông tòa Qui Nhơn.

    11-11-1943: Được bổ nhiệm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Qui Nhơn.

    18-01-1944: Được tấn phong Giám mục tại nhà thờ Chính toà Qui Nhơn, do Đức Cha Drapier, Khâm Sứ Toà Thánh

    05-07-1957: Tòa Thánh thành lập Giáo Phận Tông Tòa Nha Trang và đặt Đức Cha Marcel Piquet Lợi làm Giám mục tiên khởi

    24-11-1960: Toà Thánh thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Giáo Phận Nha Trang được nâng lên thành Giáo phận Chính toà

    23-06-1961: Nhậm chức Giám Mục Chính Tòa Giáo Phận Nha Trang với phương châm: “Ut in omnibus maxime ametur Deus” (Để trong mọi sự Thiên Chúa được hết lòng yêu mến) và huy hiệu Chiên Con cầm cờ chiến thắng

    11-07-1966: Qua đời tại Sài Gòn. Linh cữu Ngài được quàn tại Nhà Thờ Chính Tòa Sài Gòn 3 ngày cho cộng đoàn dân Chúa kính viếng

    18-07-1966: Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đalat chủ sự Thánh lễ an táng tại Nhà Thờ Chính Toà Nha Trang.

    Mục tử nhiệt thành dựng xây ‘Nhà Chúa’

    Khi còn là mục tử trên cánh đồng truyền giáo Ninh Thuận, Cha thừa sai trẻ Marcel Piquet, thường được gọi là Cố Lợi, luôn nhiệt thành, năng nổ dựng xây cơ sở tinh thần và vật chất cho giáo xứ để giúp giáo dân sống đức tin năng động và phong phú hơn.

    Là cha sở Hộ Diêm, Cố Lợi xây dựng ngôi Thánh đường Hộ Diêm khang trang lộng lẫy theo kiến trúc gôtic và xúc tiến việc khẩn hoang, xây cất Nhà Chúa cho các họ đạo lân cận như: Cà Đú, Gò Đền, Rừng Lai, Phước An. Ngài thành lập “Hội con Đức Mẹ” và Hội này sau đó nhân rộng trong nhiều giáo xứ khác của giáo phận.

    Ngài không chỉ chăm lo đời sống đức tin của các giáo hữu mà quan tâm cải thiện vấn đề dân sinh, tiếp tục công trình của các vị tiền nhiệm như: khai hoang lập ấp, dẫn thủy nhập điền, nâng cao mức sống người nghèo từ mấy trăm mẫu ruộng và rẫy nương thuốc lá… Hầu hết những người đến làm ăn trên vùng đất mới này lần lượt gia nhập cộng đồng dân Chúa, tạo nên những xóm đạo gần như toàn tòng (Cà Đú, Gò Đền, Rừng Lai, Tầm Chưởng).

    Khi làm Giám mục Tông toà Giáo Phận Qui Nhơn, trong thời buổi nhiễu nhương, chiến tranh ly loạn, ngài vẫn nhiệt tâm len lỏi thăm viếng mục vụ khắp nơi trong giáo phận. Khi chủng viện Làng Sông – Qui Nhơn không hoạt động được, ngài thành lập tạm thời Chủng viện Tấn Tài (1946-1952), rồi sau đó là Chủng viện Nha Trang tại địa điểm 22 Duy Tân, Nha Trang (1952 -1958) nay là Tòa Giám Mục cho chủng sinh của Nha Trang.

    Với lòng yêu mến và tôn sùng đặc biệt Đức Maria, cùng với đặc sủng truyền giáo của mình, chín năm trong cương vị chủ chăn tiên khởi của Giáo phận Nha Trang, Đức Cha Marcel Piquet đã tạo lập được những cơ sở nền tảng cho sự phát triển Giáo phận còn non trẻ. Ngài di chuyển trụ sở Dòng Thánh Giuse về Nha Trang (1954), chọn Đức Maria Vô Nhiễm làm quan thầy Giáo phận, rồi năm 1958, thành lập Tiểu chủng viện Sao Biển (Bổn mạng là Sinh nhật Đức Mẹ) và thành lập Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ (bổn mạng Trái tim vẹn sạch Đức Mẹ). Đức Cha cũng tạo thuận lợi cho Dòng Chúa Cứu Thế hiện diện trên địa bàn giáo phận (1959), xây dựng Đan viện Cát Minh và mời các đan sĩ về Nha Trang (1960) làm hậu thuẫn cho công cuộc truyền giáo.

    Mục tử khó nghèo và nhân hậu

    Thời Tiểu chủng viện cũng như Đại Chủng Viện, Ban Giám đốc vẫn nhận xét Thầy Marcel Piquet là một con người khổ chế, sốt sắng, đức hạnh, thông minh, trung thành với bổn phận và nhiệt thành trong mọi phương diện. Trong đời sống linh mục và giám mục thừa sai, ngài đã nên tấm gương sáng cho các linh mục bản xứ về đời sống khó nghèo, khổ chế, lòng khiêm nhường và xả thân quên mình vì đàn chiên.

    Giáo dân vùng Ninh Thuận vẫn quen thấy cố sở của họ trên cỗ xe ngựa, thường xuyên thăm viếng bệnh nhân và giáo dân, đều đặn nạo vét kênh mương dẫn nước từ đập về, xắn tay áo hốt lúa khi trời đổ mưa.

    Noi gương lòng nhân hậu của Chúa Giêsu, Thầy chí thánh, ngài luôn sẵn sàng hy sinh, quảng đại phục vụ mọi người bất luận ngày đêm. Khi trong làng có bệnh nhân cấp cứu hay sản phụ sắp sinh nở, ngài mau mắn dùng chiếc xe “cà tàng” Citroen 5 ngựa di chuyển họ đến bệnh viện Phan Rang, khiêng bệnh nhân vào phòng cấp cứu.

    Ngài là vị mục tử luôn rộng lượng bao dung với mọi người, nhưng lại khổ chế với chính mình. Ngài luôn rộng rãi đóng góp của cải cho những nhu cầu truyền giáo. Việc đi lại cho công tác mục vụ thật khó khăn trong thời chiến tranh, ngài không bận tâm, vì ngài luôn bằng lòng với cái tối thiểu cần thiết. Đời sống hàng ngày của ngài thì rất bình dị, đạm bạc, đơn sơ.

    Khi làm giám mục Nha Trang, người ta vẫn còn thấy ngài trong chiếc áo chùng đen bạc màu, đầu đội nón cối, chân mang dép cao su, đi xe đạp cọc cạch lên Bình Cang (cách Tòa Giám Mục chừng 7 cây số) để thăm viếng con cái ở tu viện Bình Cang.

    ***

    Đức cha Marcel Piquet Lợi đã gắn bó cuộc đời và sứ mạng mục tử của mình với giáo phận Nha Trang cho đến lúc tàn hơi, và gởi lại thân xác giữa miền truyền giáo thân yêu. Mộ phần của ngài toạ lạc bên sườn đồi của Nhà thờ Chính toà Nha Trang, nơi các tín hữu vẫn kính viếng, nguyện cầu; và hằng năm, các chủ chăn kế nhiệm cùng đàn chiên Giáo phận cử hành Thánh lễ giỗ cầu nguyện, tri ân ngài.

    Xin Chúa nhân lành ân thưởng cho người tôi tớ tín trung của Chúa sau một đời thừa sai kiên vững, hăng say theo sát dấu chân Vị Mục tử nhân lành là Đức Kitô chí thánh.
    GP Nha Trang

  46. Có 6 người cám ơn Damsan vì bài này:


  47. #31
    giedonimotoan's Avatar

    Tuổi: 40
    Tham gia ngày: Oct 2009
    Tên Thánh: Hiedonimo
    Giới tính: Nam
    Đến từ: SaiGon
    Bài gởi: 116
    Cám ơn
    995
    Được cám ơn 386 lần trong 99 bài viết

    Default

    chân thành cam ơn pro:monkey03:

  48. Có 3 người cám ơn giedonimotoan vì bài này:


  49. #30
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Phêrô NGUYỄN BÁ ĐƯƠNG
    (1925–1986)
    Linh mục thánh thiện


    “Một linh mục thánh thiện”: đó là lời Đức cha cố Phêrô Gioan Trần Xuân Hạp viết về cha Phêrô Nguyễn Bá Đương trong sổ linh mục đoàn giáo phận Vinh.
    Cha Phêrô Nguyễn Bá Đương sinh ngày 11 tháng 12 năm 1925 tại giáo xứ Hướng Phương (Quảng Bình) trong một gia đình truyền thống đạo hạnh; vào Trường Tập Xuân Phong năm 1937. Trong thời gian học tại các trường Tiểu chủng viện, Đại chủng Viện Xã Đoài, học lực của thầy Đương thường được xếp nhất nhì trong lớp.
    Ngày 1 tháng 2 năm 1959, thầy Phêrô Nguyễn Bá Đương chịu chức linh mục cùng với 5 thầy khác mà sau này đã được trao phó nhiều trọng trách khác nhau; trong đó có Đức cố Giám mục Phêrô Trần Xuân Hạp, cha cố Phêrô Hoàng Bảo - nguyên Tổng đại diện, cha Phêrô Nguyễn Văn Huyền - nguyên Bề Trên Đại chủng viện Xã Đoài.
    Sau khi thụ phong linh mục, cha Phêrô Nguyễn Bá Đương được Bề trên đặt phụ trách giáo xứ Hội Yên, Xuân Kiều. Cuối tháng 8 năm 1959, ngài về làm giáo sư Tiểu chủng viện Xã Đoài, đến năm 1964 làm giáo sư Đại chủng viện Xã Đoài. Ngày 20 tháng 11 năm 1970 bị bắt tại Đại chủng viện và bị đem đi “cư trú bắt buộc” tại giáo xứ Trung Hoà (Thanh Chương – Nghệ An). Ngài ở Trung Hoà với cha già Phêrô Nguyễn Đoài quản xứ này. Đầu năm 1974, cha già Đoài nghỉ hưu, Cha Phêrô được bề trên giáo phận đặt làm quản xứ Trung Hoà và qua đời tại đây ngày 16 tháng 12 năm 1986.
    Gần 30 năm làm linh mục, cha Phêrô đã để lại những mẫu gương sáng của người mục tử thánh thiện với những nét đặc biệt sau đây:

    1. Đầy lòng yêu mến Giáo Hội
    Cha Phêrô lãnh chức linh mục trong thời gian giáo phận Vinh gặp nhiều sự khốn đốn nhất. Với tư cách là người đào tạo linh mục, khi thấy nhiều chủng sinh và cả anh em linh mục phải bỏ quê mẹ di cư vào Nam, số khác bám trụ quê hương thì bị bắt đi vào các trại cải tạo lao động… Trước tình cảnh ấy, ngài đã viết nhiều bài hát để củng cố niềm tin yêu, hy vọng và can đảm trước thử thách, toát lên tâm hồn của người linh mục luôn biết bám chặt vào Mẹ hiền Giáo Hội mà tiến bước. Ngày nay những bài hát ngài sáng tác vẫn còn nung nấu nơi nhiều người trẻ thêm lòng yêu mến Giáo Hội Chúa và kiên vững trong Đức Tin.
    Đối với cha, dù Giáo Hội có bị bắt bớ và khó khăn cách nào thì nét đẹp Đức Ái sẽ làm cho Giáo Hội luôn bền vững: “Cờ Vàng-Trắng tung ngàn ánh quang thái bình, dẫn đưa bao người thoát ách lầm thanCờ Bác ái tung phất phới trên Kinh đô Ngàn năm hùng tráng. Toàn thế giới Công giáo hướng về nơi châu thành ngàn năm”. Nhờ những bài hát này mà rất nhiều chủng sinh, linh mục và giáo dân thời đó đã thêm tin tưởng, can đảm vượt qua thử thách và hiên ngang làm chứng cho Đức tin.

    2. Đầy sức lôi cuốn lòng người
    Trong những năm bị “quản chế” rồi sau đó quản xứ Trung Hoà, cha Phêrô có sức lôi cuốn lạ thường đối với các anh em linh mục và chủng sinh. Trung Hoà là một giáo xứ nằm ở miền cực Tây của giáo phận Vinh, đường sá đi lại rất khó khăn, đò giang cách trở. Thời đó, việc đi lại của các linh mục và chủng sinh bị hạn chế, vậy mà nhiều chủng sinh linh mục vẫn cố tìm đến với cha Phêrô để được ngài khuyên bào trong đời sống đạo, theo đuổi ơn gọi trước những khó khăn thử thách. Thêm vào đó cha Phêrô còn âm thầm dạy triết học, thần học cho nhiều chủng sinh sau những năm dài ở tù trở về đang kiên trì trong ơn gọi, với mục đích là chờ thời thuận tiện giáo phận sẽ có ngay nhân sự.
    Giáo dân trong vùng, các giáo xứ trong hạt, trải dài trên một địa bàn rộng lớn luôn tìm đến với cha Phêrô mong được nghe những lời khuyên bảo đầy tinh thần Phúc Âm và được thêm đức tin trước thử thách gian nan.
    Điều đặc biệt là từ năm 1976, chính quyền địa phương bắt buộc giáo dân phải di dời xa nhà thờ xứ từ 3-6 km, chỉ còn nhà thờ Trung Hoà giữa bãi ngô mênh mông, vậy mà sáng tối, nhà thờ giáo xứ Trung Hoà vẫn luôn đầy người đến đọc kinh, tham dự Thánh Lễ. Dù phải đi lại rất khó khăn, bị để ý và kiểm soát nghiêm nhặt, nhưng giáo dân Trung Hoà từ già đến trẻ, trời mưa hay nắng, nóng nực hay rét mướt, sáng tối họ vẫn luôn đến đầy trong nhà thờ Trung Hoà, quanh cha kính yêu của mình. Trong nhà xứ ngày nào cũng có người đến làm việc để làm bớt đi sự cô quạnh. Họ cảm thấy vui khi đến phiên mình được vào làm việc tại vườn nhà xứ.
    Năm 1986, khi biết mình mắc bệnh ung thư, cha Phêrô luôn chuẩn bị sẵn sàng giờ Chúa gọi. Chính ngài đã ghi âm những lời trăn trối đầy lòng đạo đức thánh thiện và yêu thương dân mình. Sau này khi nghe lại những lời trăn trối ấy, nhiều người tội lỗi biết đường hoán cải, kẻ khô khan thêm lòng mến Chúa, những người đạo đức lại thêm nhân đức hơn. Ngài biết giữa bối cảnh đầy khó khăn, linh mục thiếu hụt chưa có người bù đắp, mà ngài ra đi là một đau thương cho giáo xứ Trung Hoà, ngài đã trấn an dân ngài với niềm hy vọng vào ngày: “Phút tối tăm nhất báo tin giờ sắp sáng. Đã mưa nhiều là nắng mãi sắp liên”.
    Ngày 16-12-1986 cha Phêrô Nguyễn Bá Đương ra đi bình an trong sự tiếc thương vô hạn của anh em linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân giáo phận Vinh.
    Vì chính quyền không cho an táng tại vườn nhà thờ, nên giáo xứ Trung Hoà phải an táng thi hài cha Phêrô tại nghĩa trang xa giáo xứ hơn 3 km. Đám tang của ngài đã trở thành cuộc rước lớn với dòng người kéo dài gần 3 km. Không chỉ có người công giáo mà cả đến bà con lương dân phải mang xe đạp trên vai để băng qua những cánh đồng lầy lội theo linh cữu ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng.
    Đã 23 năm trôi qua, cha Phêrô Nguyễn Bá Đương vẫn luôn là mẫu gương về đời sống thánh thiện đầy nhiệt thành trong sứ vụ linh mục cho linh mục đoàn giáo phận Vinh.

    GP Vinh

  50. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  51. #29
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Micae TRẦN KHẮC VINH
    Người lữ hành lặng lẽ


    Trong dòng vận động thăng trầm của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, có biết bao tấm gương linh mục đã từng sống, từng cống hiến và nêu gương như những nhân chứng sống về tình yêu và niềm tin bất diệt vào chân lý của Đức Kitô. Giáo phận Thanh Hóa là nơi ươm mầm, phát triển cho nhiều nhân chứng như vậy, trong đó cho đến ngày nay, nhiều người còn nhắc nhớ đến cha Micae Trần Khắc Vinh như một điển hình của hành trình ấy. Có rất nhiều câu chuyện, nhiều sự tích về cuộc đời của cha Micae.

    1. Đôi nét về cuộc đời cha Micae Trần Khắc Vinh
    Cha Micae Trần Khắc Vinh tên thật là Nguyễn Văn Vinh sinh ngày 16-9-1911 (23 tháng 7 năm Tân Hợi) tại giáo họ Trị Sở, giáo xứ Phong Ý, thuộc giáo hạt Sông Mã, giáo phận Thanh Hóa (xóm Nghĩa Dũng, xã Cẩm Phong, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa). Ông bà thân sinh là những người giáo hữu rất đạo đức, luôn lấy việc lành thánh thiện mà nêu gương sáng cho con cái. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sống của cha Micae Trần Khắc Vinh – có thể nói gia đình chính là nơi khơi nguồn cho tình yêu và ước muốn dấn thân theo Đức Kitô của ngài.
    Một sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời dấn thân của cha Micae, đó là năm lên 11 tuổi (năm 1922) ngài được cha Phêrô Trần Khắc Cần nhận làm con thiêng liêng và linh hướng cho việc chuẩn bị vào Tiểu chủng viện. Vì thế, ngài đã quyết định lấy họ Trần của cha đỡ đầu thay cho họ Nguyễn, là họ của dòng tộc.
    Ba năm sau, ngài được gửi vào học tại Tiểu chủng viện Ba Làng, Thanh Hóa. Theo học ở đây được 3 năm, đến năm 1927 ngài lại chuyển ra học tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, Phát Diệm. Từ năm 1933 đến 1936 cha dạy học ở trường Mission, Thanh Hóa. Năm 1936 cha được cử đi học chủng viện ở Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Sáu năm sau, mùa hè năm 1942 (ngày 6-6-1942) ngài được thụ phong linh mục tại nhà thờ chính tòa Thanh Hóa, do tay Đức cha Luy Hành (Couman), giám mục giáo phận Thanh Hóa. Kể từ đây cuộc đời của chàng thanh niên trẻ bắt đầu đi theo một hành trình đầy những chông gai, trắc trở. Nhưng với sức trẻ của tuổi thanh xuân, cái nhìn luôn lạc quan trong bất kỳ hoàn cảnh nào và niềm tin xác tín rằng Đức Kitô luôn sát cánh bên mình, ngài đã vượt thắng được mọi cám dỗ, thử thách của đời trần tục.

    2. Cha Micae Trần Khắc Vinh - chứng nhân của niềm tin và niềm lạc quan không bao giờ tắt
    Năm 1945, làm phó xứ Chính Toà, ngài được giao chăm sóc trại phong cùi Đại Độ (hiện nay thuộc phường Phú Sơn, Thành phố Thanh Hóa), tuy là linh mục trẻ mới ra trường song ngài không nề hà vất vả, dấn thân hết mình phục vụ những người phong cùi theo tinh thần Phúc âm. Cũng năm 1945 xảy ra nạn đói khủng khiếp, cha Micae suốt ngày rong ruổi trên mọi nẻo đường với chiếc xe đạp cũ kỹ, vừa đi cử hành bí tích cho người hấp hối ở các ngả đường, gầm cầu, xó chợ, vừa đi quyên góp lương thực để trợ giúp những người đang bị nạn đói của năm Ất Dậu hoành hành.
    Năm 1952, khi cha đang làm quản xứ giáo xứ Ngọc Lẫm (thuộc xã Trường Giang, huyện Nông Cống, Thanh Hóa), thì xảy ra việc đấu tranh chính trị, ngài bị bắt dẫn vào làng Hồi Cù, là một làng cũng thuộc xã Trường Giang nhưng xa khu vực Công giáo. Cha bị trói lại treo ngược chân lên xà nhà, đầu quay xuống đất rồi người ta ra lệnh cho mọi người có mặt ở đó lấy roi gai kè đã được chuẩn bị sẵn từ trước, đánh tới tấp từ đầu tới chân một cách vô tội vạ, ai không đánh là đồng lõa với địch. Họ đánh ngài máu me đầm đìa, gai kè gẫy cắm sâu trong da thịt. Sau những trận mưa gai kè, người ta hạ ngài xuống, cho ngài vào một cái rọ lợn xô xuống ao rồi lại kéo lên tiếp tục những trận mưa đòn roi khác. Nhưng suốt đời sống với mầu nhiệm thập giá, ngài đã được sức mạnh phi thường của thập giá nâng đỡ, nên ngài đủ sức kiên cường chịu đựng không một lời ca thán. Họ đánh chán lại thả ngài xuống, chảy nhiều máu ngài kêu khát nước; thấy vậy, một người đàn bà trong phiên tòa đấu tố bày trò làm nhục ngài Sau cuộc đấu tố, người ta cho giáo dân khiêng ngài về nhà xứ Ngọc Lẫm, và tình hình căng thẳng dịu dần. Người ta cho đem ngài ra nhà thương của nhà Chung, do các xơ dòng Truyền giáo phụ trách. Các xơ đã mổ vết thương, gắp ra những cái gai kè bị gãy ngập sâu trong da thịt, nghe nói đến cả bát gai. Không một liệu pháp gây mê, không một lời ca thán, trái lại để động viên các xơ yên tâm mổ vết thương, ngài còn hài hước: Chúa Giêsu chỉ bị đội mão gai trên đầu, còn cha Micae được đội mão gai cả người, nhưng lại được các xơ mổ lấy gai ra cho, còn Chúa Giêsu thì không được may mắn như vậy…
    Những tích truyện về cha Micae thì nhiều lắm như việc ngài cùng chung chia bắp ngô, củ khoai, củ sắn với bà con giáo dân những vùng nghèo khó, ngài yêu thương trẻ thơ hết lòng…
    Cuộc đời linh mục của cha Micae luôn gắn chặt với Chúa Giêsu Thánh Thể: Ngài chuẩn bị Thánh lễ rất chu đáo (dọn mình trước khi cử hành Thánh lễ, cử hành Thánh lễ nghiêm trang, sốt sắng, bài giảng ngài dọn rất chu đáo). Sau mỗi Thánh lễ,ngài luôn cám ơn Chúa và Mẹ Maria đã đồng hành cùng ngài. Ngoài ra ngài còn siêng năng giải tội và cử hành các bí tích; đọc kinh Phụng vụ đúng giờ, tham gia đọc kinh với giáo dân. Một nét son mà ít linh mục làm được là ngài đã thường xuyên ghi nhật ký về việc cử hành Thánh lễ, nhất là số lễ đã cử hành, cử hành ở đâu, cho đến tận lễ cuối đời ngài. Sống trong hàng giáo sĩ, ngài luôn luôn kính trọng và vâng phục bề trên, tôn trọng anh em linh mục dù hơn tuổi hay ít tuổi với tất cả sự chân thành đơn sơ.
    Đời linh mục của ngài là một đời linh mục trong thời gian giáo phận gặp nhiều gian nan, khốn khó, cá nhân ngài là người luôn bị xã hội gây khó khăn trong công việc mục vụ, song ngài luôn kiên cường, hy sinh bản thân mình để phục vụ dân Chúa và hoàn thành những trách nhiệm mà bề trên giáo phận giao cho. Ngài cần cù như một người thợ gặt lành nghề, đều đặn gom góp hương thơm quả ngọt đem về dâng Chúa. Đúng như lời Thánh thi ca ngợi: “Đây Linh mục, những con người thánh hiến/ Suốt cuộc đời làm chủ tế trung kiên…/ Thắt đai lưng như đầy tớ chuyên cần/…Không mỏi mệt nhưng kiên trì tỉnh thức/ Suốt đêm trường hay mãi tới canh khuya” (Thánh Thi giờ Kinh sáng, lễ kính các Thánh Mục tử).
    GP Thanh Hóa
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 27-11-2009 lúc 04:54 PM

  52. Có 7 người cám ơn Damsan vì bài này:


  53. #28
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse NGUYỄN KHẮC CẨN
    (1880 – 1971)
    Chánh xứ Hội Am, Giáo phận Hải Phòng



    Cha già Giuse Nguyễn Khắc Cẩn là vị chánh xứ thứ 6 của xứ Hội Am. Ngài coi sóc xứ Hội Am trong suốt 22 năm và để lại trong lòng người dân Hội Am nhiều dấu ấn khó phai mờ.
    Cha Giuse Cẩn được Đức Cha Gomez Lễ sai về xứ Hội Am ngày 15-01-1949 cùng với thầy Giuse Nguyễn Công Luận. Lúc đó ngài đã 69 tuổi. Trước đó ngài từng phụ trách giáo xứ Đại Lộ. Giáo xứ Đại Lộ có được ngôi thánh đường như ngày nay là nhờ công lao của ngài. Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng ngài vẫn nhiệt tình chăm lo việc phần hồn cho giáo dân toàn xứ và phát triển riêng văn hoá cho giới trẻ. Ngài mở trường tiểu học, thu nhận cả trẻ em lương cũng như giáo. Ngài tìm những thầy cô dạy giỏi, tận tâm về giúp các em. Ngài còn nhận nhiều con cái thiêng liêng để hy vọng đào tạo ơn gọi linh mục và tu sĩ.

    Mỗi kỳ nghỉ hè có rất đông các thầy, các chú về nghỉ giúp ngài nhiều việc trong các xứ họ. Ngài cũng thành lập nhiều hội đoàn tông đồ và cầu nguyện như Hội thánh Giuse, Hội tràng hạt Mân côi…

    Sau năm 1954, non nửa giáo dân Hội Am di cư vào Nam. Khi ấy đất nước lại vừa trải qua cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, đời sống giáo dân ở lại có nhiều thiếu thốn và khó khăn. Cha già Cẩn đã thường xuyên đi thăm viếng an ủi động viên họ giữ lòng cậy trông mến Chúa.

    Năm 1956 miền Bắc cải cách ruộng đất. Một số cán bộ đi quá đà, một vài giáo dân bị lôi cuốn đã có những lời lẽ và hành vi không tốt xúc phạm nặng nề đến ngài. Chính trong thời gian khốn khó này, Cha đã sống đời sống chứng tá của một vị chủ chăn tốt lành và thánh thiện. Ngài bị đem ra xét xử tại điếm phủ nhà xứ, ngay cuối nhà thờ Hội Am. Người ta vu khống cho ngài đủ mọi thứ tội lỗi, nhưng ngài vẫn nhẫn nhục, chịu đựng và tha thứ cho họ. Ở tuổi 84 tuổi mà bị chính những người thân của mình gây cớ làm khổ, ngài đau đớn cho mình thì ít mà xót xa cho người tố cáo mình thì nhiều. Noi gương Đức Kitô, ngài đã xin Thiên Chúa tha thứ cho những kẻ tố cáo mình.

    Sau đó ngài còn nhiều lần bị cách ly hoàn toàn với giáo dân. Trong nhà xứ khi ấy chỉ còn lại thầy già Luận, bõ Ri mù, cô Sinh lo nhà bếp và cậu Hiển (bây giờ là linh mục Stêphanô Nguyễn Văn Hiển – nghĩa tử của cha già, thuộc giáo phận Hải Phòng).

    Họ tố cáo ngài và chiếm đoạt tài sản nhà thờ: tịch thu ruộng đất; lục soát lấy sách vở tài liệu để thiêu đốt. Ngày nào họ cũng đưa ngài ra chốn công chúng để tố cáo, cứ từ sáng đến tối ròng rã suốt 3 tháng liền. Có điều kỳ lạ là ngài rất bình thản, không buồn rầu héo hắt mà cứ vui tươi cùng mọi người.

    Chính trong suốt một năm vào sa mạc ăn chay cầu nguyện này, cha già đã được Chúa tiếp thêm sức mạnh thiêng liêng và thể lý, để chuẩn bị cho giai đoạn phụ trách thêm 6 giáo xứ khác nữa.

    Sau năm 1957, trong dịp Đức cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo kinh lý tại giáo xứ Nam Am, nhiều giáo dân từng tham gia vào việc đấu tố các linh mục đã công khai thú tội và xin lỗi Giáo Hội. Sinh hoạt tôn giáo trở lại bình thường, một số ruộng đất được trả lại, giáo dân tự do lui tới nhà thờ, nhà xứ. Theo lệnh của Đức cha, cha già Cẩn phụ trách 5 xứ thuộc huyện Vĩnh Bảo và 2 xứ khác thuộc huyện Tứ Kỳ. Ngài luân phiên ở mỗi xứ một tuần lễ, mỗi họ lẻ 1-2 ngày để dâng lễ và cử hành các bí tích. Ngài thành lập Hội bác ái gồm các chị em nữ tu thường xuyên đi vào các làng lân cận không Công giáo để rửa tội cho các trẻ sơ sinh hấp hối mà chưa được chịu bí tích Thánh tẩy. Nếu các em không may qua đời thì các nữ tu này xin xác về để mai táng. Ngài còn lo trồng thuốc lào và cấy lúa tại ruộng của nhà xứ để có thêm ngân quỹ chi dùng và tu sửa nhà thờ.

    Năm 1958, cha già Giuse tổ chức lễ Phục sinh quy tụ 7 giáo xứ về tại nhà thờ Nam Am. Năm 1962, ngài mua lại gỗ lim của một ngôi chùa bên Cao Dương – Thái Bình về thay hoành rui nhà xứ. Năm 1965, ngài tu bổ lại nhà thờ giáo xứ và giúp Họ Vạn Hoạch sửa lại mái nhà thờ. Năm 1963, do tuổi cao sức yếu, ngài chỉ còn phụ trách 5 xứ thuộc huyện Vĩnh Bảo.

    Ngày 15-02-1971, cha già Giuse Nguyễn Khắc Cẩn được Chúa gọi về sau một cuộc đời dâng hiến phục vụ với biết bao gian nan thử thách. Hàng vạn giáo dân đã về Hội Am để đưa tiễn người cha khả kính. Dù trong hoàn cảnh thế nào đi nữa, cha Giuse luôn một lòng trung thành và trung kiên phục vụ Giáo Hội. Ngài đã an nghỉ tại giáo xứ Hội Am, như muốn nói lên sự gắn bó mãi mãi của vị mục tử với đoàn chiên mà Ngài đã dày công phục vụ.
    GP Hải Phòng



  54. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  55. #27
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Giuse PHẠM VĂN THIÊN
    (1907–1997)

    Giám mục tiên khởi giáo phận Phú Cường



    Sơ lược tiểu sử Đức cha Giuse:



    – Sinh ngày 2-5-1907
    ­– Thụ phong linh mục: 17-03-1934
    – Tấn phong giám mục: 06-01-1966
    – Qua đời: 15-02-1997 tại Bình Dương
    – Khẩu hiệu giám mục: “Ơn Chúa ở cùng tôi”
    Một đời sống tu đức sâu xa
    Nền tảng của đời sống thiêng liêng là thinh lặng và hồi tâm. Hai đặc điểm đó, ai tiếp xúc với Đức cha Giuse đều có thể dễ dàng nhận ra: ngài chỉ nói những lúc cần, những điểm cần và vừa đủ. Ngài ít nói, nhưng nhìn ngài quỳ trước Nhà Tạm, cung kính nghiêm chỉnh và như bất động, người ta có thể đoán được ngài đang nói thật nhiều.
    Một vẻ đẹp của nhân cách
    Nếp sống kỷ luật của Đức cha Giuse là kết quả của một nền giáo dục kỹ càng: ngài rất đúng giờ. Mọi chương trình làm việc được ghi chú cẩn thận vào agenda. Thời đại của ngài chưa có “thiết bị nhớ” để lưu trữ lịch trình cần thực hiện. Nhưng chưa thấy ngài quên ngày giờ và công việc ngài đã chuẩn nhận.
    Tới thăm giáo xứ nào, nếu thấy giáo dân xếp hàng chào đón, ngài liền chủ động bảo tài xế dừng xe, xuống đi bộ để đáp lễ mọi người.
    Một bông hồng khiêm tốn
    Có một tin đồn, chỉ mang tính “hành lang” nhưng đã đến tai nhiều người: lúc nhận được quyết định bổ nhiệm của Tòa Thánh, ngài đã mời cha Antôn Phùng Thành, đang làm quản lý của Đại chủng viện Sài Gòn, giúp ngài quản trị công việc tài chính cho giáo phận mới. Khi trao đổi với cha Antôn, ngài đã nhấn mạnh: “Nếu cha từ chối, có lẽ tôi cũng không dám lãnh nhận sứ vụ.” Không rõ thực hư câu chuyện, nhưng nếu đúng, quả thật ngài đã biết “tri kỷ”, biết mình “sở đoản” trong lãnh vực tài chính. Nhưng cũng “tri bỉ”, biết người, cha Antôn có nhiều “sở trường” trong lãnh vực đó.
    Từ thấy đi đến tin tưởng và trao trách nhiệm. Sự tín nhiệm đó được duy trì suốt cả đời ngài. Khi trao tác phẩm đầu tay “Từ Thánh Thể đến Chúa Ba Ngôi” cho một cha phát hành, ngài đã không ngại ngùng ngỏ lời: “Cha vui lòng giúp sửa lại lời văn”.
    Một dịp tĩnh tâm thường niên, trong giờ hội thảo, ngài đã đưa ra một vài chỉ thị về phụng vụ: “Phần ca dâng lễ: hát hay đọc?” Một cha góp ý. Ý này khác hẳn ý ngài. Đầu tiên có vẻ ngài không hài lòng, nhưng sau đó, duyệt xét lại, ngài đã thẳng thắn và công khai xin lỗi.
    Một dịp tĩnh tâm thường niên khác, lúc đã trọng tuổi, ngài kết thúc giờ huấn thị bằng một câu rất ấn tượng: “Cám ơn quý cha đã vui lòng nghe!” Câu nói vừa được thốt ra, cộng đoàn linh mục ai nấy đều tươi nở nụ cười, nụ cười của yêu thương, chất ngất niềm cảm xúc.
    Một tấm lòng dễ rung cảm
    Mỗi khi đề cập với Đức cha Giuse về tình cảnh nghèo khổ của anh chị em giáo dân, là thấy ngay được nỗi xúc cảm hằn sâu trên khuôn mặt của ngài. Trong giai đoạn khó khăn của những ngày đầu sau 1975, ngài đã gợi ý với các linh mục: “Hãy cố sắp xếp gọn nhẹ những giờ phụng vụ, để tạo sự dễ dãi cho công việc lao động của bổn đạo”, mặc dù ngài rất nghiêm chỉnh và cẩn thận trong việc phụng vụ.
    Bất cứ một linh mục, tu sĩ nào trong giáo phận lâm trọng bệnh, ngài đều thân hành đến tận nơi thăm hỏi và giúp đỡ tài chính nếu cần.
    Một con người dám đổi mới
    Tinh thần vâng phục của Đức cha Giuse cũng rất đáng lưu ý. Mọi quyết định từ Tòa Thánh, ngài hết sức trân trọng và thực thi tỉ mỉ, không phải chỉ với Tòa Thánh, mà ngay cả với Tòa Tổng giám mục, ngài vẫn luôn tỏ lòng tôn kính.
    Con người của ngài thấm sâu một nền tu đức, lấy sự nhiệm nhặt làm nền tảng. Nhưng ngài vẫn sẵn sàng đổi mới khi thấy đó là hướng đi chung của Giáo Hội. Một chứng cớ cho thấy rõ điều đó là: chỉ một lần qua Rôma viếng mộ thánh Phêrô vào năm 1980, lúc trở về, cộng đoàn linh mục đã thấy nơi ngài nhiều thái độ và cách ứng xử mới.
    Một người cha biết phòng xa
    Đại đa số linh mục trong giáo phận đều là học trò của Đức cha Giuse, từ ngày ngài còn làm giám đốc Đại chủng viện thánh Giuse Saigon. Vì thế, ngoài tư cách là chủ chăn của giáo phận, ngài còn dùng tình “sư đệ” để giúp hàng ngũ linh mục duy trì lòng đạo đức và trung thành với lời khấn độc thân và vâng phục.



    GP Phú Cường
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 07-11-2009 lúc 04:07 PM

  56. Có 11 người cám ơn Damsan vì bài này:


  57. #26
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết
    (1909–2000)

    Người mục tử tận tụy

    Cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết là chứng nhân một đời mến Chúa - yêu người, tận tụy yêu thương đoàn chiên của mình. Hình ảnh một con người nhỏ bé, đơn sơ, khiêm tốn được ghi khắc trong tâm khảm của mỗi người dân Chúa. Nhắc đến ngài, người giáo dân không thể không nhắc đến hình ảnh một cụ già trèo đèo, lội suối, băng rừng đi tìm kiếm từng con chiên. Nhắc đến ngài, người ta thường nói đến lòng quảng đại, sự hy sinh quên mình vì đoàn chiên, luôn quan tâm giúp đỡ mọi người. Dù ngài đã được Chúa gọi về, nhưng hình ảnh một con người, một linh mục đáng kính vẫn sống mãi trong lòng đoàn chiên mà ngài được trao phó.
    1. Đôi dòng tiểu sử

    Cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết sinh năm 1909, tại giáo họ Thạch Sơn, giáo xứ Hà Thạch, giáo phận Hưng Hóa, là con thứ sáu trong một gia đình có 7 anh chị em (4 trai, 3 gái). Thân phụ là ông cố Phanxicô Xaviê Trần Văn Thạch. Thân mẫu là bà cố Maria Trần Thị Gián.
    Năm 1918, khi mới được 9 tuổi, cậu Khiết được gửi vào học tại Tiểu Chủng viện Hà Thạch. Sau khi học xong chương trình văn hóa, chú Khiết được các cố thừa sai dạy Triết học và Thần học.
    Vì hoàn cảnh đất nước chiến tranh, Tiểu Chủng viện phải đóng cửa, Thầy Khiết được cử đến giúp các giáo xứ Trù Mật, Hoàng Xá, Sơn Dương, Yên Khoái, Sơn Tây, và tiếp tục con đường tu trì như một “thầy giảng”cho đến năm 1971, vào năm 62 tuổi, nên thường được gọi là thầy già Khiết.
    Năm 1973, thầy già Khiết được Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Quang chọn làm linh mục. Lúc đầu thầy không nhận vì tuổi cao, nhưng sau đó thầy đã vâng lời Đức cha. Ngày 25 tháng 10 năm 1973, thầy già Khiết được trao ban thừa tác vụ linh mục lúc đã 64 tuổi.
    Tân linh mục Khiết được cử đến coi sóc các giáo xứ: Nhân Nghĩa, Yên Bái, Yên Bình, Vĩnh Quang, Nghĩa Lộ, Lao Cai, Sa Pa… Địa bàn hoạt động của ngài rộng hàng ngàn cây số vuông.
    Ngày 25 tháng 10 năm 1998, ngài kỷ niệm Ngân khánh Linh mục, khi đã được 89 tuổi.
    Ngài được Chúa gọi về ngày 22 tháng 04 năm 2000, hưởng thọ 91 tuổi. Ngài được an táng tại khuôn viên nhà thờ giáo xứ Nhân Nghĩa, giáo phận Hưng Hóa.


    2. Gương chứng nhân và công việc mục vụ

    Sau khi cha già Nghĩa qua đời ngày 06-10-1973, cha Khiết được Đức cha bổ nhiệm coi sóc các giáo xứ thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay thuộc hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai). Ngài đã bắt tay vào việc đi tìm gặp những người công giáo trong các cộng đoàn trên 20 năm chưa bao giờ được gặp linh mục. Ngoài ra, cha Khiết còn tìm ra nhiều cộng đoàn tin Chúa nhờ nghe các chương trình phát thanh, chứ chưa hề được ai giảng dạy. Họ tin có Chúa và cùng nhau quy tụ lại đọc kinh, cầu nguyện.
    Ngoài việc xây dựng và củng cố đức tin cho các cộng đoàn, cha Khiết cùng với bà con giáo dân đã lấy lại được một số đất đai của các nhà thờ bị chiếm dụng, đã xây dựng lại các cơ sở thờ tự ở Yên Bái và Lào Cai bằng tranh tre, vách đất, những nhà thờ đã đổ nát, hoang tàn vì chiến tranh tàn phá và từ lâu không có linh mục coi sóc.
    Cha Khiết không những chỉ dâng lễ ở các nhà thờ giáo xứ như Nhân Nghĩa, Yên Bái, Yên Bình, Vĩnh Quang, Nghĩa Lộ, Lao Cai, Sa Pa…, mà còn thường xuyên đến dâng lễ tại các họ lẻ như Đại Phác, Văn Yên, Hoàng Thắng, Hầu Thào, Lao Chải, Tằng Loỏng, Phình Hồ, Giàng La Pán. Ngài luôn ân cần động viên thăm hỏi bà con giáo dân. Mỗi khi có kẻ liệt, ngài đến tận nơi, đến từng nhà để động viên, yên ủi, không quản đường xa, đêm hôm, giá rét.
    Ngoài việc chăm lo cho đời sống tinh thần của giáo dân, cha Khiết còn quan tâm nuôi dưỡng ơn gọi làm linh mục, tu sĩ cho người bản xứ nơi cha coi sóc.
    Phương tiện đi lại thời đó chủ yếu bằng xe đạp, bằng ngựa, thuyền, võng, hoặc đi bộ. Đường xá thì xa xôi cách trở, đèo dốc, núi rừng, nhưng cha vẫn không quản gian lao vất vả để tìm đến với đoàn chiên của mình. Gia tài quý nhất của cha là chiếc xe đạp. Có khi cha phải đạp xe vài chục cây số, thậm chí hàng trăm cây số, một thân một mình giữa đường xa vắng vẻ.
    Cha không có người giúp việc, phải tự lo cho mình về sức khỏe, về ăn uống và công việc mục vụ. Cha đến với mọi người bằng tình thương và tấm lòng của mình. Cha khiêm nhường bình dị, đi dép cao su, đội mũ lá, khăn vắt vai. Hình ảnh người cha già đáng kính đơn sơ giản dị vẫn được giáo dân say sưa kể lại.
    Thay lời kết, xin mượn lời một giáo dân, ông Nguyễn Văn Thơm, nói lên những cảm nhận của ông về cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết như sau: “Cha già Khiết là một linh mục đạo đức, thánh thiện, chuyên lo giảng dạy đạo thánh Chúa cho mọi người. Cha đã sống nghèo, chia sẻ kiếp nghèo với mọi người dân ở đây. Cha thật sự là một người cha trong gia đình giáo xứ, giáo họ. Cha rất nhân hậu, không bẳn giận, cáu gắt. Tâm đức ngài căn dặn con chiên rất sâu sắc. Cha sống cuộc đời thanh bạch, giản dị, hòa đồng với người dân đến nỗi nhiều người không nhận ra ngài là linh mục trong cuộc sống đời thường. Ngài là một linh mục gương mẫu sống mãi trong lòng mọi tín hữu nơi đây”.
    GP Hưng Hóa

  58. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  59. #25
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH

    (1912 – 1971)
    Cha chính Hà Nội
    Tấm gương can trường



    Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

    Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

    Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.

    Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

    Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
    Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.

    Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.

    Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

    Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

    Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

    Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

    Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

    Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, ngài kể chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầmở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm tôn giáo tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

    Cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Ngài còn sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan.
    Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.
    Ngài tổ chức và chỉ huy đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thở Lớn Hà Nội.

    Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam Đạo Công giáo tự do hành đạo, và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dip Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.

    Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án nhân dân Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

    Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
    Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”.

    Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’.

    Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

    Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

    Vì không khuất phục được ngài, nên bản án của ngài từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”.

    Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm trọn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.

    Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
    TGP Hà Nội

    Linh Mục Nhạc Sĩ Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh


    Linh Mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh (1912-1971)




    LM Nguyễn Văn Vinh, tù nhân tử tội




    Ngôi nhà và thửa đất tại Ngọc Lũ, quê hương Linh Mục Nguyễn Văn Vinh


    Hồi 19h30 ngày 12.10.2007, sau khi bế mạc Đại Hội Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Giám mục Hòang Đức Oanh, Giáo Phận Kontum, với tư cách nghĩa tử của cha chánh Vinh, đã rời Tòa Giám Mục Hà Nội về Giáo Xứ Ngọc Lũ (Hà Nam) cách Hà Nội hơn 90 km. Ngọc Lũ là quê hương của cha chánh Vinh, nơi lưu giữ di cốt của cha chánh Vinh sau khi cải táng.




    Hồi 4h30, sáng 13.10.2007 Thánh Lễ đồng tế do Hoàng Đức Oanh - Giám Mục Kontum, và linh mục thư ký cử hành tại nhà thờ Ngọc Lũ
    Một chút di cốt ít ỏi, các mảnh vải áo cha mặc khi chôn cất nay may mắn còn sót lại, một ít mắn đất nghi rằng do xương của cha mục nát tan ra.... Tất cả được thu gom trong các túi nhỏ đặt trong một quan tài bằng kính, được đặt tôn kính tại gầm bàn thờ bên trái của nhà thờ Giáo Xứ Ngọc Lũ.



    Di cốt Cha Chánh Vinh tại Nhà Thờ Ngọc Lũ, Nam Định


    Sau Thánh Lễ, Giám Mục đến thăm mảnh đất hơn 07 sào, xưa là nhà của ông bà thân sinh cha chánh, năm 1993 đã được bán lại cho một gia đình khác (cũng là người công giáo).





    Giám Mục Nghĩa Tử Chủ Tế và người thu hồi di cốt cha Vinh


    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 07-11-2009 lúc 04:16 PM Lý do: bổ sung thông tin

  60. Có 12 người cám ơn Damsan vì bài này:


  61. #24
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Phêrô Maria
    PHẠM NGỌC CHI
    (1909–1988)
    Chứng nhân của đức vâng phục



    Khuôn mặt vị mục tử
    Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (1909-1988), được xếp vị trí thứ 6 trong bảng danh sách 100 vị giám mục Việt Nam (tính từ Đức cha GB. Nguyễn Bá Tòng, người Việt Nam đầu tiên được phong chức giám mục) và cũng là vị giám mục tiên khởi của giáo phận Đà Nẵng (được thành lập ngày 18-01-1963, tách từ giáo phận Quy Nhơn). Thực sự, thế hệ giáo dân Công giáo thuộc các thập niên 1940, 1950 và 1960 có thể biết danh ngài, đặc biệt là anh chị em giáo dân di cư từ Bắc vào Nam năm 1954; còn các thế hệ sau này có thể chỉ nghe biết đến ngài một cách tình cờ, dẫu là những giáo dân, linh mục, tu sĩ trẻ của giáo phận Đà Nẵng và Quy Nhơn. Điều này cũng thật dễ hiểu, bởi vì trong suốt 13 năm cuối đời, từ 1975 đến 1988, Đức cha Phêrô Maria hầu như không còn xuất hiện công khai, kể cả trong những lần hội họp chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Con người và hành trạng là thế, nhưng sự hiện diện vô hình của Ngài thực sự đã ghi một dấu ấn rõ ràng trong lịch sử giáo hội Việt Nam, cách riêng với giáo phận Đà Nẵng mà ngài là vị mục tử tiên khởi, với những đóng góp tích cực trong thời gian từ khi khởi đầu thánh vụ giám mục cho đến lúc từ trần. Đó là những giáo xứ toàn tòng Công giáo được gọi là “Bắc di cư” và những ngôi thánh đường đầu tiên tại các vùng đất vắng (Gò Vấp, Hóc Môn… của giáo phận Saigon, những xứ đạo dọc kênh của vùng Cái Sắn, giáo phận Long Xuyên, các xứ đạo nội thành của giáo phận Đà Nẵng…) Đó cũng là các đoàn thể Công giáo tiến hành được tổ chức quy củ từ những năm 1960 trong các giáo phận phía Nam. Đó cũng là Trung Tâm Công Giáo hiện nay, là cơ ngơi mà chính Đức cha Phêrô Maria đã tạo lập cho Giáo hội Việt Nam và là vị giám đốc đầu tiên khi được đặc cử phụ trách Công giáo tiến hành Việt Nam. Riêng tại giáo phận Đà Nẵng, vốn đã được chính Đức cha Phêrô Maria định danh là “Giáo phận của Công đồng” vì được thành lập ngay chính trong thời gian công đồng Vatican II nhóm họp, và được tổ chức theo đường hướng của Công đồng, sự nghiệp của Đức cha Phêrô Maria đã ghi khắc một dấu ấn đặc biệt và vững bền.
    Bởi đó, việc ghi nhớ, nhắc nhở và tiếp nối công việc của vị giám mục tiên khởi của giáo phận Đà Nẵng như mẫu gương mục tử nhân lành, là điều hợp tình và hợp lý, nhất là trong thời điểm chuẩn bị mừng 50 năm của giáo hội Việt Nam và xem như cũng là của giáo phận Đà Nẵng.

    Một đời sống theo gương Chúa Kitô
    Đức Giêsu Kitô, trước khi bước vào cuộc khổ nạn thập giá, đã thân thưa với Chúa Cha: “Xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha”, và Ngài đã hoàn tất công trình cứu độ với cái chết trên thập giá. Đức cha Phêrô Maria, khi nhận sứ vụ giám mục (năm 1950), đã chọn câu nói của Thánh Phêrô với Thầy Chí Thánh Giêsu, làm khẩu hiệu đời Giám mục của mình: “Vâng lời Thầy, con thả lưới”. Và với quyết tâm đó, Đức cha Phêrô Maria đã tiếp tục hiến đời mình cho việc “thả lưới” vì “vâng lời Thầy”, cho đến giây phút cuối đời.

    Vâng lời từ tuổi thanh xuân
    Sinh ra và lớn lên trong một gia đình đạo đức truyền thống tại giáo xứ Tôn Đạo (Giáo phận Phát Diệm), năm lên 11 tuổi, cậu bé Phêrô đã sẵn sàng nghe lời cha sở Pleneau Kim để “dâng mình cho Chúa” nhập trường Thử Ba Làng (Thanh Hóa) rồi Tiểu chủng viện Phúc Nhạc (Phát Diệm). 6 năm sau, khi chỉ mới 17 tuổi và đang học Trung học, cậu thanh niên Phêrô lại một lần nữa vâng lệnh Bề Trên là ĐGM Marcou Thành, rời Việt Nam sang nước Ý du học tại Trường Truyền Giáo Rôma. 7 năm sau (ngày 23-12-1933), ở tuổi 24, thầy Phêrô can đảm và quyết tâm nhận chức linh mục tại Đại Thánh Đường Thánh Phêrô (Vatican) rồi tiếp tục hoàn tất các học vị tiến sĩ triết học, cử nhân thần học và giáo luật tại Đại học Apollinaire, sau đó (năm 1935) lại qua Pháp theo học văn khoa tại đại học Công giáo Paris. Nhưng chỉ một năm sau, ở tuổi 27, ngài vâng lời Đức Giám mục giáo phận hồi hương để làm giáo sư Đại chủng viện Phát Diệm, dạy chính các bạn đồng song ở quê nhà. Các trách vụ lại tiếp nối được đặt lên vai vị linh mục trẻ trung, năng động và tận tụy với việc huấn giáo tại chính giáo phận bản quán: Phó Giám đốc Đại chủng viện (1944), Chánh án Tòa án Hôn phối giáo phận và thành viên của Hội đồng giáo phận (1946), Cố vấn về luật và các vấn đề xã hội của Đức cha Lê hữu Từ (1945-1950), Giám đốc Đại chủng viện Phát Diệm (1946). Trong mọi công việc và trách nhiệm được giao phó, vị linh mục trẻ Phêrô đã hết lòng chu toàn với một ý thức vâng lời phục vụ vì lòng yêu Chúa và Giáo hội Chúa.

    Tuân phục đến phút cuối đời
    Sách Lão Tử (Đạo Đức kinh, LXIV, 2) viết: “Cửu tầng chi đài, khởi ư lũy thổ. Thiên lý chi hành, thỉ ư túc hạ” [Đài cao chín tầng phát khởi từ mô đất. Cuộc viễn hành ngàn dặm bắt đầu từ dưới chân] để đề cao tầm quan trọng của một nền tảng cần thiết phải có cho những công trình, những cuộc hành trình. Với Đức Cố Giám mục Phêrô Maria, những bước tiếp theo của đời vị linh mục vẫn luôn được tín nhiệm để giao phó nhiều trọng trách, đã thêm một bước cao và dài hơn: chức vụ giám mục. Khởi đầu là giám mục Chính Tòa Bùi Chu (1950-1954), rồi đến một biến cố đầy thử thách cho đời giám mục của ngài: Phụ trách giáo dân di cư (1954-1957). Vì đức vâng lời và theo sự ủy thác của Vị Khâm sứ Tòa Thánh Dooley, Đức cha Phêrô Maria chấp nhận phải rời xa giáo phận và đàn chiên đang chăn dắt với nhiều dự tính và thành quả tốt đẹp, nhận trọng trách lo lắng phần tinh thần cho những người di cư từ Bắc vào Nam sau hiệp định Genève, cả giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ. Chắc chắn rằng, cùng với đức vâng lời là khả năng điều hành hữu hiệu và khôn ngoan, Đức cha Phêrô Maria, chỉ trong 3 năm đã tích cực giúp ổn định cả về đời sống tinh thần lẫn vật chất cho một số rất lớn những người di cư tại các trại định cư mà nay là những xứ đạo sầm uất, vững vàng từ miền Trung, Nam đến Tây nguyên. Có lẽ cao điểm của đức vâng phục và nhiệt tâm mục vụ của Đức Cố GM Phêrô Maria là quyết định đầy can đảm và mẫu mực của ngài khi nhận làm Giám mục Chính Tòa của giáo phận tân lập Đà Nẵng, được tách ra từ chính giáo phận mẹ Quy Nhơn mà ngài đang là Giám mục Chính Tòa (1957-1963). Chính quyết định này của vị Giám mục của một Giáo hội Việt Nam với hàng giáo phẩm mới được thành lập, cũng đã khiến nhiều giới chức ở Tòa Thánh cảm kích và thán phục. Làm chủ chăn một giáo phận mới suốt 25 năm (1963-1988), những gian truân thử thách thuở ban đầu tưởng như sẽ vơi bớt và hanh thông theo thời gian; thế nhưng, như đường thánh giá vẫn luôn có những biến đổi theo từng chặng để dẫn tới đồi Canvê, cuộc hành trình “vâng lời Thầy, con thả lưới” trên biển đời của Đức Cố Giám mục Phêrô Maria cũng luôn ẩn hiện những sóng gió ba đào. Có thể nói, 13 năm cuối đời của Đức cha Phêrô Maria trên cương vị chủ chăn giáo phận đã được chuyển qua một hướng khác, đặc biệt và khác lạ, khởi đi từ một quyết định vâng phục mới của ngài. Sự vâng phục dựa trên Thánh ý Chúa và lòng yêu thương của vị mục tử để quyết định chọn một vị giám mục phó cho mình và giáo phó cho người kế vị những trọng trách tương ứng. Sự vâng phục tiếp theo chắc chắn phát xuất từ lòng phó thác vào Chúa và sự khiêm nhường sâu thẳm để chấp nhận một đời sống ẩn dật tại vùng đất của những chứng nhân đức tin: linh địa Đức Mẹ Trà Kiệu.
    Trong bản “Chúc thư tinh thần”, Đức cha Phêrô Maria đã viết môt cách rất xác tín: “… Cả đời tôi là một chuỗi tình thương của Chúa, tôi ca ngợi không bao giờ cùng!... Cùng với các hồng ân, Chúa đã gửi đến cho tôi nhiều đau khổ, nhiều thử thách. Đau khổ và thử thách cũng là những hồng ân Chúa ban… Đọc Phúc Âm Thánh Gioan (21,18) tôi thấy Chúa đã định trước cả chi tiết đời sống tôi: “Khi con còn trẻ, thì con tự thắt lưng cho mình, và con muốn đi đâu thì đi. Nhưng khi con về già, thì người ta thắt lưng cho con và đem con đến nơi con không muốn”…
    Cuộc đời của vị chủ chăn tiên khởi của giáo phận Đà Nẵng, Đức Cố Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, còn có thể được nhắc tới và tham khảo về nhiều phương diện, đặc biệt là tầm nhìn mục vụ và khả năng đào tạo và dụng nhân của Ngài. Nhưng trước hết và trên hết, vẫn là một khởi nguồn từ đức vâng phục để có thể luôn là người mục tử tốt lành cho “chiên được sống và sống dồi dào”, như lòng Chúa mong ước.
    GP Đà Nẵng


  62. Có 11 người cám ơn Damsan vì bài này:


  63. #23
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha BÔNAVENTURA TRẦN VĂN MÂN
    (1916–2004)

    Dòng Anh em nèn mọn Việt Nam





    1. Cuộc đời
    Cha Bônaventura mà người địa phương thường gọi tắt là “Cố Bôna” hay thân mật hơn nữa là “Ông Sáu Mân” sinh ngày 11 tháng 09 năm 1916, tại giáo xứ Tịnh Giang, thuộc ngoại ô thị xã Hà Tĩnh. Ngài khấn tạm ngày 03 tháng 08 năm 1940, khấn trọng ngày 03 tháng 08 năm 1943, thụ phong linh mục ngày 15 tháng 08 năm 1945, qua đời ngày 14 tháng 05 năm 2004, tại Cù Lao Giêng, hưởng thọ 88 tuổi.
    Ngài sinh trưởng trong một gia đình đạo đức. Thân phụ là một lương y. Ngài là một trong những người đầu tiên gia nhập Chủng viện Phanxicô tại Thanh Hóa. Chúa ban cho Ngài một trí thông minh trung bình nhưng lại cho Ngài biệt tài vẽ các chân dung và các tranh ảnh tôn giáo.
    Đầu năm 1945, trước lúc đầu hàng Đồng Minh, người Nhật đã tập trung tất cả các thừa sai cũng như các tu sĩ người Pháp lại một chỗ. Ban lãnh đạo Dòng thấy cộng đoàn Phan sinh không có người đứng đầu nên đã xin Đức Khâm sứ Tòa Thánh tại Huế cho phép truyền chức cho thầy Bôna Mân cách âm thầm, vội vã và trước thời hạn. Kể từ nay cho đến năm 1954 ngoài việc làm bề trên tại chỗ, Cha Bôna tìm cách ra Bắc, vào Nam, để liên lạc với anh em Phan sinh còn ở lại tại miền Bắc.
    Năm 1954 sau hiệp định đình chiến Genève, ngài tạo điều kiện đưa anh em Phan sinh từ miền Bắc vào miền Nam. Năm 1958 Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, hồi đó là Giám mục Giáo phận Cần Thơ, giao cựu chủng viện Cù Lao Giêng cho anh em Phan sinh chăm sóc. Chủng viện này xưa thuộc Giáo phận Nam Vang. Năm 1946 bị đốt cháy và sau đó trở nên hoang tàn. Cha Bôna đã hướng dẫn 5 anh em Phan sinh đến đây sửa chữa nhà cửa, chủ yếu là để sống đời tu trì, làm tuyên úy dài hạn cho các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng ở gần bên, giúp mục vụ trong các họ lẻ lân cận khi được yêu cầu, phát triển Dòng Phan sinh Tại thế và làm các công tác từ thiện bác ái khác. Kể từ đó, ngài phục vụ trong giáo phận Cần Thơ và rồi trong giáo phận Long Xuyên được tách khỏi giáo phận Cần Thơ cho đến khi từ giã cõi đời.
    Năm 1958, khi thấy có nhiều người phong cùi tại địa phương không được ai chăm sóc, cha Bôna đã cùng với các anh em cất một căn nhà lá và bắt đầu chăm sóc những bệnh nhân đầu tiên. Lúc đầu chỉ có các bệnh nhân vùng An Giang nhưng chẳng bao lâu sau nhiều bệnh nhân đã từ các tỉnh và thành phố tại Đồng bằng Sông Cửu Long đến để xin chữa trị. Cái hay nhất là các bệnh nhân có thể đến trung tâm một cách kín đáo trên những con thuyền nhỏ mà không bị những người kỳ thị phát hiện và xua đuổi. Từ năm 1958 đến 1975, nếu chỉ tính những bệnh nhân được chữa trị lâu dài, và hầu hết được lành bệnh thì con số đã tới mức trên dưới 4.900 người, với hồ sơ bệnh lý hiện đang được cất giữ tại Trung tâm.
    Sau năm 1975, cha Bôna đã giao lại cơ sở bài phong cho Nhà Nước, chỉ để lại một vài nhân viên tiếp tục làm việc. Phần ngài, ngài trở về đời sống nội tâm, thỉnh thoảng đi thăm viếng các bệnh nhân tại gia và âm thầm giúp đỡ các gia đình nghèo khó trong khu vực.
    Năm 2004, sau hai tháng thọ bệnh, Ngài đã được Chúa gọi về. Trong số đông đảo những người tham dự đám tang có rất nhiều tăng, ni, Phật tử, đại diện các tôn giáo bạn như Hòa Hảo, Cao Đài, bên cạnh những bệnh nhân đã được chữa lành cũng như những người đã được ngài giúp đỡ cách này hay cách khác.
    2. Vị Tông đồ của Chúa
    “Cố Bôna” đã từng làm bề trên tu viện nhiều khóa. Ngài đã góp phần vào việc đào tạo các tu sĩ trẻ tại đây. Ngài cũng là vị tuyên úy trung thành của Dòng Chúa Quan Phòng, nơi ngài được các nữ tu mộ mến vì lòng đạo đức, vì sự khôn ngoan và lối sống mực thước.
    Ngài sẵn sàng đến dâng lễ tại các giáo xứ Cồn Phước, Rạch Sâu khi các cha sở tại đây đi vắng hoặc bị ngăn trở.
    Đặc biệt là trong thời kỳ khó khăn nhất và do yêu cầu của cha sở Cù Lao Giêng, ngài đã đến giúp họ đạo Cồn Én, phía bên kia Sông Tiền. Mỗi chiều thứ bảy ngài bơi thuyền qua đó để dạy giáo lý rồi ở lại dâng lễ ngày Chúa nhật, đến chiều mới bơi thuyền trở về. Ngài quan tâm đến người nghèo và đã có công giúp họ giữ lại bãi đất bồi cuối cồn, bị những người từ xa đến lấn chiếm. Kể từ ngày ngài có mặt tại đó, con em trong họ đạo xem ra chăm chỉ học hành hơn.
    3. Vị Tông đồ nhiệt thành và vui tươi của các bệnh nhân phong
    Chăm sóc cho người phong hủi đã là một truyền thống trong Dòng Phan sinh. Trong suốt một thời gian dài, mỗi tháng ba lần vào dịp ngày 10, ngày 20 và ngày cuối tháng, Chẩn y viện, sau này được gọi là Trung tâm Hansen Cửu Long, mở cửa đón tiếp các bệnh nhân đến để được chữa trị và lãnh thuốc miễn phí. Chính thái độ yêu thương, từ tốn, vui tươi của con người hèn mọn lúc phục vụ đã lôi cuốn các bệnh nhân. Tư cách linh mục và tư cách của người thầy thuốc hết lòng phục vụ đã khiến cho nhiều bệnh nhân đặt hết tin tưởng vào ngài, nhờ đó việc chữa trị lại càng đạt được kết quả cao. Vào những ngày có quá nhiều bệnh nhân, ngài phải làm việc cả đêm khuya. Dầu vậy ngài vẫn vui vẻ, lâu lâu lại kể chuyện khôi hài khiến bầu không khí trở nên nhẹ nhàng, dễ chịu. Ngài đã đi đúng đường hướng của Dòng Phan sinh là qua công tác từ thiện đến với mọi người. Trong số các bệnh nhân nhiều người đã xin tìm hiểu đạo và theo đạo. Một điểm đặc biệt nơi cha Bôna, đó là niềm vui. Ngài luôn vui tươi và khôi hài, ngay cả trong những giờ phút cuối đời rất đau đớn vì bệnh ung thư gan hành hạ.
    4. Vị Tông đồ có tinh thần đại kết
    An Giang là vùng đất có nhiều tôn giáo. Thánh địa của anh em Phật giáo Hòa Hảo ở cách Cù Lao Giêng chẳng bao xa. Ở phía đầu Cù Lao có Chùa Ông Đạo Nằm thu hút khá nhiều tín đồ và khách hành hương. Ở giữa Cù Lao có rất nhiều Thánh thất Cao đài. Đối với các bệnh nhân thuộc các tôn giáo khác, cha Bôna không hề phân biệt đối xử. Đối với các vị lãnh đạo tôn giáo, cha vẫn một lòng kính trọng và luôn tìm cách gặp gỡ giao lưu. Chính thái độ khiêm tốn và chân thành của ngài đã làm bớt đi các mối nghi kị giữa các tôn giáo. Phải thú nhận rằng trong khoảng thời gian trước năm 1954, thời gian chiến tranh, tương quan giữa các tôn giáo đã bị sứt mẻ vì các lập trường chính trị khác nhau. Điều này vẫn còn mãi trong tâm tư của những người thuộc các tôn giáo và cha Bôna đã góp phần làm nhẹ bớt các thành kiến ấy.
    Về phía Giáo hội, cha Bôna một lòng yêu mến và quý trọng Đức Giám mục và các anh em linh mục như Cha thánh Phanxicô đã từng dạy anh em. Cha tỏ ra vui mừng mỗi lần có các cha tới tĩnh tâm trong tu viện. Còn các anh em linh mục xem ra cũng yêu thương các anh em Hèn mọn khiến cho tương quan triều và dòng trở nên tốt đẹp, cũng như sự cộng tác trở nên dễ dàng và có kết quả hơn. ■
    GP Long Xuyên


    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 02-10-2009 lúc 02:09 PM

  64. Có 10 người cám ơn Damsan vì bài này:


  65. #22
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    LM Giuse Nguyễn Thanh Vân
    ( 1933 - 1973 )

    Mộ LM Giuse Nguyễn thanh Vân
    PHAN THIẾT - Khi đến nhận Giáo xứ, điều đầu tiên tôi để ý, là ngôi mộ của Ngài, nằm dưới chân đài Đức Mẹ. Qua những giáo dân kể lại, tôi cũng muốn viết đôi điều về vị mục tử trẻ trung, thánh thiện và đã hiến mạng sống mình vì đàn chiên.

    Cha Giuse Nguyễn Thanh Vân sinh năm 1933, tại Lưu Thạnh-Bắc Việt. Ngài thụ phong linh mục vào ngày 24 tháng 03 năm 1963. Về nhận quản xứ Gia-an, thuộc Giáo phận Phan thiết. Lúc đó là Giáo xứ Duy Cần đang còn thuộc địa phận Nha Trang( khỏang năm 1967-1968). Trong thời binh lửa, đàn chiên tan tác, nhà thờ, nhà xứ là chỗ dựa tinh thần cho con chiên bổn đạo. Giữa thời cuộc dầu sôi lửa bỏng, cha Vân luôn tìm mọi cách để quy tụ giáo dân, sớm hôm kinh lễ, cầu nguyện cho cuộc chiến mau chấm dứt. Xã Duy cần lúc đó là điểm nóng trong những trận chiến giáp la cà, oanh tạc của không quân, bộ binh… Sống trong cảnh trên bom, dưới đạn, Ngài vẫn luôn chăm nom đời sống tâm linh cho bà con giáo dân. Người ta kể lại rằng: Cha Nguyễn thanh Vân luôn gắn bó với giáo xứ, nhất là trong những lúc thập tử nhất sinh. Cuộc chiến kéo dài, sinh mạng của mỗi người rất mong manh, sống nay, chết mai là chuyện bình thường. Dù trong hòan cảnh éo le như vậy, luôn luôn người ta tìm thấy nơi Ngài một sự tín thác tuyệt đối vào sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa.

    Cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt, nhà thờ, nhà xứ trở nên cứ điểm chiếm đóng của quân đội. Nhận thấy tình thế mỗi lúc một trở nên khó khăn, nhiều giáo dân xin cha chuyển đi nơi khác, vì sợ nguy hiểm cho tính mạng của Ngài, nhưng Ngài một mực từ chối, và nhất quyết sống chết với đàn chiên của mình. Điều dự đóan của mọi người rồi cũng đến, bởi chiến tranh không phải là trò đùa. Ngày 28 tháng 11 năm 1973, một ngày đầy oan nghiệt, bom napan đã thiêu hủy nhà thờ và nhà xứ Duy Cần. Người mục tử Giuse Nguyễn Thanh Vân cũng đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất Giáo xứ thân yêu của mình. Ngài ra đi để lại biết bao là nỗi niềm thương tiếc và kính yêu trong lòng cộng đòan người dân Duy Cần.

    Chiến tranh đã khép lại. Quá khứ cũng đã khép lại. Thế nhưng mãi mãi người dân của Giáo xứ Gia an vẫn không quên được hình ảnh của một vị mục tử đã hiến mạng sống mình cho đàn chiên thân yêu.
    Lm Giacôbê Tạ Chúc
    vietcatholic

  66. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  67. #21
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha ANTOINE PEUZOT
    (1911-2007)
    Vị thừa sai năng thăm viếng
    Sự hiện diện của các cha Thừa sai Ba Lê tại mảnh đất miền Tây Nam Bộ thuộc giáo phận Mỹ Tho ngày nay không nhiều lắm. Nhưng số ít những vị Thừa sai đặt chân đến đây lại ghi dấu ấn không phai trong lòng người dân. Một trong những vị đó là cha Antoine Peuzeu.
    Tiểu sử tóm tắt
    Cha Antoine Peuzeu sinh năm 1911 tại Pháp. Mẹ là người Bỉ, cha là người Pháp. Cha Peuzeu là linh mục thuộc Hội Thừa Sai Ba Lê (La Société des Missions Étrangères de Paris).
    Cha đến họ đạo Cai Lậy từ năm 1958. Cha ở tại Cai Lậy, nhưng làm việc mục vụ trong một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm các họ đạo xung quanh như Ngũ Hiệp, Nhị Quý, Xuân Sơn, Bằng Lăng, Kinh Gãy…
    Với tinh thần truyền giáo hăng say, cha đã có ý xây dựng tại Cai Lậy những cơ sở vật chất cần thiết, để biến nơi này thành trung tâm truyền giáo hướng đến các vùng lân cận mà dân cư đa số là ngoại giáo.
    Công việc mục vụ của cha đang tiến triển tốt đẹp và tạo được tiếng tốt trong vùng, ngay cả với những người lương, thì do tình hình thời cuộc lúc bấy giờ, khoảng tháng 3-1974 cha phải rời Việt Nam trong sự nuối tiếc cũng như nhiều linh mục thừa sai khác tại Việt Nam.
    Sau khi trở về Pháp, cha sống và làm việc mục vụ tại vùng Marseilles. Cha qua đời ngày 5.2.2007, tại Marseilles.
    Khi được tin cha qua đời, giáo xứ Cai Lậy đã tổ chức thánh lễ tưởng nhớ và cầu nguyện cho cha vào ngày 23.02.2007, với sự hiện diện chủ tế của Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Mỹ Tho, cùng với các linh mục vùng Cai Lậy, Cái Bè, các linh mục trước đây đã từng cộng tác với cha, các Nữ tu đã từng được cha cho đi tu, và rất đông giáo dân ở các họ đạo Ngũ Hiệp, Nhị Quý, Bằng Lăng, Kinh Gãy…
    Đời sống và sứ vụ
    Khắc khổ với bản thân, nhưng rộng lượng với tha nhân, đó là nhân đức nổi trội mà người giáo dân kính phục mỗi khi nhắc đến cha.
    Y phục bình thường của cha là hai chiếc áo dòng thay đổi với đôi dép quay, cái nón lá và cái giỏ đệm. Đi đâu cũng thế ! Chỉ khi đi xuống Toà Giám mục hoặc đi công vụ ở xa, cha mới xỏ đôi giày vào để thể hiện lòng kính trọng.
    Chuyện ăn uống cha càng đơn giản. Cha luôn dặn người giúp việc đi chợ mua những thức ăn sao cho rẻ tiền nhất để đỡ tốn kém. Dành dụm được bao nhiêu, cha đem cho người nghèo. Nhưng dành dụm có là bao, cha lại phải chạy đôn chạy đáo, xin bên này bên kia, xin tiền, gạo, bánh lẫn thuốc men về lo cho học sinh trong trường và lo cho người dân nghèo trong vùng. Cha có học về y khoa khi còn trẻ, nên khi có thuốc men, cha tìm cách phân phát đúng người đúng bệnh.
    Vì công việc bác ái cha làm, nên ngày càng có nhiều người đến với cha. Có những người giáo dân nghĩ rằng cha là người Tây “đơn sơ” quá nên bị nhiều người lạm dụng đến xin tiền cha hoài. Thấy bất bình, những người giáo dân này đến khuyên cha phải cẩn thận, nhưng cha lại nghĩ khác: “Mình có thể cho được thì cứ cho, tính toán làm gì. Nếu họ có lừa dối mình, có lẽ họ cũng có lý do sao đó. Hoá ra cha cũng hiểu lòng người chứ đâu phải “đơn sơ”, nhưng cha đã có chọn lựa rõ ràng cho riêng mình: làm việc bác ái thì cứ làm, làm cách hồn nhiên.
    Khi cần đi lại, cha cũng lên xe đò, xuống ghe xuồng, tuỳ phương tiện công cộng địa phương nơi cha đến làm mục vụ. Nhưng người dân vùng Cai Lậy thường thấy hình ảnh ông cha Tây đi bộ trên khắp những nẻo đường thị trấn hay thôn làng của họ, đi rất nhiều và đi rất nhanh. Có người giáo dân kể rằng khi đồng hành với cha trong các việc mục vụ thăm viếng cứ thỉnh thoảng phải chạy mới theo kịp cha.
    Cha rất chú tâm viếng thăm người dân trong vùng, đặc biệt là thăm những gia đình nghèo khổ. Hễ nghe có ai bệnh nặng hay đang hấp hối, không phân biệt lương giáo, là cha tức tốc đến ngay để viếng thăm và tìm cách giúp đỡ, hoặc khi cần thì nói về Chúa và rửa tội cho họ. Một giáo dân, cảm phục khi chứng kiến cha chân trần lội sình đến cầu nguyện, xức dầu cho bà Phán, một bệnh nhân truyền nhiễm hấp hối sống trong cái nhà tồi tàn với rác rưởi bẩn thỉu sau cơn lụt, đã kể lại : “Tôi là nông dân tay lấm chân bùn, nhưng tôi không dám bước xuống bùn trong nhà bà Phán. Thế mà cha thản nhiên đứng gần một tiếng đồng hồ. Thật cảm phục!” Cũng nhờ năng thăm viếng giúp đỡ mà cha đã đưa được nhiều người, nhiều gia đình về với gia đình Giáo hội.
    Cũng chính tình thương chân thành của cha đối với người dân mà trong thời chiến tranh, nhiều lần cha bị điều tra hạch hỏi, nhưng cuối cùng ông cha Tây được tin tưởng và được tự do đi lại làm mục vụ và thăm viếng người dân cách an toàn.
    Sức khoẻ của cha không tốt lắm: trong người cha có vài vết đạn, một con mắt nhìn không rõ, bụng thì hơi bị nghiêng một bên. Nhưng cha không ngại đi lại, dù khi có tiếng pháo binh hay súng đạn, vì không muốn bỏ việc cử hành thánh lễ cho giáo dân ở các họ đạo trong vùng. Có lần, theo phân công, cha phó đi làm lễ ở họ đạo Ngũ Hiệp, còn cha phải đi làm lễ ở họ Xuân Sơn. Nhưng khi cha đi dâng lễ ở Xuân Sơn về rồi mới biết tin cha phó vẫn chưa đi Ngũ Hiệp vì bị cảm nặng lắm, cha lập tức xách giỏ đệm lên đường đi Ngũ Hiệp dâng lễ thế cho cha phó, dù trời đã gần tối.
    Lòng yêu thương tận tuỵ với người dân, với việc chăm sóc thiêng liêng cho họ là dấu chỉ của tâm hồn đạo đức sâu sắc nơi cha. Người giáo dân thường thấy cha đi lại trong nhà xứ với tràng hạt trên tay lần chuỗi kính Đức Mẹ. Không chỉ cố gắng tích đức cho bản thân, cha còn dạy cho người giáo dân biết thờ phượng Thiên Chúa. Khi cha mới về, người giáo dân Cai Lậy hãy còn tản mác và chưa có ngôi nhà thờ, cha phải làm lễ tại nhà một người giáo dân trong vòng ba năm. Đó cũng là thời gian cha bôn ba tìm kiếm mảnh đất để xây cho dân Chúa một nơi thờ tự. Các họ đạo xung quanh cũng vậy: nhà nguyện, nhà thờ lần lượt được xây nên. Rồi mỗi khi rửa tội cho một tân tòng là cha sắm cho họ cái bàn thờ trong gia đình, và dạy họ thờ Chúa cho phải đạo.
    Một nét tiêu biểu nữa trong sứ vụ của cha là việc quan tâm nuôi dưỡng ơn gọi linh mục, tu sĩ trong đoàn chiên của mình. Không chỉ khuyến khích ơn gọi, cha còn nuôi dưỡng, sắm sửa quần áo, cho học hành, dẫn đi thi, đóng tiền trường cho các em an tâm bước theo ơn gọi. Nhờ đó, giáo dân ngày nay cũng hãnh diện về những con cái của vùng đất Cai Lậy đang dấn thân phục vụ Thiên Chúa và tha nhân trong các dòng tu khác nhau.
    Với cách sống như thế, rõ ràng cha Antoine Peuzeu đã cố gắng hết sức noi theo hình ảnh cuộc đời Chúa Giêsu như thánh Phaolô diễn tả: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.” (2 Cr 8, 9).
    Nhưng con người linh mục ấy cũng không phải không có những khiếm khuyết. Một trong những nhược điểm của cha được bà con giáo dân nhận biết, đó là sự nóng tính. Nhưng cha lại luôn biết khiêm nhường nhìn nhận nhược điểm của mình mà “tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà”, biết biến những nhược điểm đó thành cơ hội rèn nhân đức. Cha thường nói lời xin lỗi chân thành, công khai sau những lần nóng nảy bộc trực, ngay cả với các em giúp lễ: “Con, con tha lỗi cho cha nghe, vì hồi nãy cha nóng quá la con, con tha cha nhe!” Chính vì thế, mỗi khi bà con giáo dân vùng Cai Lậy nhắc đến những lần nóng giận của cha là để cảm mến thái độ phục thiện của cha sau đó.
    Bài học suy tư
    Thánh Luca giúp chúng ta hiểu được tình thương cứu độ của Thiên Chúa qua ngôn từ rất đặc biệt: viếng thăm.
    Để tán dương sự xuất hiện của Đấng Mêsia qua vị tiền hô Gioan Baotixita, Dacaria đã thốt lên: “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israel đã viếng thăm cứu chuộc dân Người” (Lc 1,68), và “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta.” (Lc 1,78). Cũng chính ngôn từ ấy đã được đám đông thán phục thốt lên trước việc Chúa Giêsu làm cho đứa con của bà goá thành Naim sống lại: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài.” (Lc 7,16). Sau cùng, khi tiếc thương Giêrusalem, Chúa Giêsu đã than trách thành rằng: “Ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm. (Lc 19,44).
    Như thế, ơn Cứu Độ mà Đức Kitô mang đến cho nhân loại được Luca trình bày như là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa. Hình ảnh sống động này có thể được dùng để diễn tả sứ vụ của các linh mục: họ là những người mà qua họ và nhờ họ, Thiên Chúa đến viếng thăm cứu chuộc dân Ngài. Như những người phục vụ khiêm hạ, họ biết rằng mình không phải là Đức Kitô, nhưng chính Đức Kitô hành động bằng đôi tay của họ, thực hiện sự hiệp nhất Thánh Thể và sự tăng trưởng của Giáo hội bằng những lời từ môi miệng họ, qua các bí tích.
    Thiên Chúa viếng thăm, đó là ánh sáng của Mặt Trời Công Chính chiếu soi cõi trần u tối qua con người và gương sáng đời sống của các linh mục hôm nay.
    Thiên Chúa viếng thăm, đó là những lời mang niềm hy vọng cho người đời được thốt ra từ môi miệng của linh mục, là sự thánh thiêng toát lên từ các bí tích được cử hành bởi linh mục, là sức mạnh của một đời sống trong Chúa Thánh Thần được thể hiện nơi cuộc đời linh mục.
    Thiên Chúa viếng thăm, đó là vẻ đẹp của đức ái nơi tâm hồn những người mục tử biết không ngừng ra khỏi não trạng chật hẹp, trái tim chật hẹp, quyền lợi chật hẹp, để có thể đi đến viếng thăm, gặp gỡ, động viên, an ủi và đối thoại cứu độ với mọi người.
    ***
    Cuộc đời và sứ vụ của Cha Antoine Peuzeu là một cố gắng liên lỉ thực hiên những cuộc viếng thăm cứu độ cho dân Chúa. Ước gì qua sứ vụ của các linh mục của Ngài hôm nay, Thiên Chúa có thể thực hiện những cuộc viếng thăm và cứu chuộc dân Ngài.
    Lạy Chúa, xin hãy đến viếng thăm các linh mục của Chúa, và xin Chúa dạy cho các linh mục của Chúa biết viếng thăm cứu chuộc dân của Ngài.


    GP Mỹ Tho

  68. Có 12 người cám ơn Damsan vì bài này:


  69. #20
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Hai anh em Cha
    Phêrô Cao hữu Tạo và
    Phêrô Cao Hữu Hân
    Người giáo dân Vinh và Giáo dân Phan Thiết và nhất là giáo dân thuộc các xứ đạo Lagi không ai không biết danh tiếng của hai vị Linh mục thánh thiện, nổi tiếng ban nhiều ơn lạ, mọi người gọi các Ngài bằng một tên thân mật là « Hai Cha Già ». Đó là hai anh em ruột, Linh Mục Phêrô Cao Hữu Tạo và Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hân.
    I. HAI LINH MỤC ANH EM HỌ CAO
    1. Linh Mục Phêrô Cao Hữu Tạo:

    - Sinh năm 1863, tại Cồn Giữa Quảng Bình.
    - Làm thầy giảng giúp Đức Cha Louis Pineau Trị 3 năm.
    - Làm Linh Mục Văn phòng Tòa Giám Mục Xã Đoài 8 năm.
    - Linh Mục Chánh xứ Trại Lê, Hà Tĩnh 23 năm.
    - Linh Mục Hạt trưởng Xã Đoài 5 năm.
    - Hưu dưỡng: Hưu dưỡng tại giáo xứ Tân Yên (năm 1937), Hưu dưỡng tại Cự Tân (năm 1945), Hưu dưỡng tại Thanh Xuân (năm 1955)

    Có 5 Linh Mục nghĩa tử: 4 gốc Trại Lê Hà Tĩnh, người cuối cùng là cháu gốc Gia Hưng, Quảng Bình:

    1. Linh Mục Nguyễn Lê
    2. Linh Mục Phêrô Trần Đình Báu
    3. Linh Mục Giuse Nguyễn Khôi
    4. Linh Mục Thân Văn Huy
    5. Linh Mục JBT. Cao Vĩnh Phan

    Hồi làm Linh Mục văn phòng cho Đức Cha Trị ngài đã đóng vai trò thư ký trong Vụ án quan trọng điều tra lý lịch của 22 vị Tử đạo ở giáo phận Vinh năm 1909. Đồng thời làm Linh Mục giải tội cho Đức Cha Pineau Trị.

    Hồi hưu dưỡng tại Thanh Dạ, ngài và em là Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hân sẽ nói sau đã lập giáo họ Hiền Môn. Tiếp đó vào Miền nam tại Lagi hai anh em xây dựng giáo họ Thanh Xuân năm 1955 và nay đã được nâng lên hàng giáo xứ lớn trong giáo phận Phan Thiết. Ngài qua đời sáng ngày 20 – 05 – 1961 tại Thanh Xuân Lagi Bình Thuận và có mộ chung hai anh em dưới Tòa Đức Mẹ giáo xứ Thanh Xuân. Nơi đây, hằng ngày đều có người đến xin khấn « Hai Cha Già » và đều được các Ngài bầu cử để lãnh nhận những ơn lành hồn xác. Khi các Ngài còn sống tại Thanh Xuân, giáo dân cũng đã đến nhờ các Ngài cầu nguyện và xin « thuốc Cụ » về uống để chữa bệnh.

    Ngài có tiếng là Linh Mục thánh thiện, đạo đức, đơn sơ, nghèo khó giống như mẫu Linh Mục Joan Vianney bên Pháp.

    2. Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hân (em ruột)


    - Sinh năm 1865 tại Cồn Giữa Quảng Bình.
    - Làm thầy giảng, dạy Tiểu chủng viện Xã Đoài.
    - Làm Linh Mục chánh xứ Trung Nghĩa, chánh xứ Cam Lâm Hà Tĩnh, chánh xứ Tân Yên Nghệ An 1932 – 1945.
    - Hưu dưỡng tại Thanh Dạ Cự Tân. Lập giáo họ Hiền Môn năm 1947
    - Vào Nam hưu dưỡng tại giáo họ Thanh Xuân, Lagi, Bình Thuận năm 1955
    - Ngài chỉ có một linh mục nghĩa tử là cha Phêrô Nguyễn Văn Bường, gốc Mỹ Dụ Nghệ An, chuyên truyền giáo ở Lào và chết tại Lào.
    - Ngài qua đời trưa ngày 7 – 10 – 1965 tại Thanh Xuân, có mộ tại Thanh Xuân
    - Ngài có tiếng thông minh, uyên thâm, hiếu học, giỏi La ngữ, Hán ngữ, Pháp ngữ.
    Cuối cùng đang khi mãi mê học Anh ngữ thì đã tắt thở trên ghế bố lúc tay còn cầm cuốn Thánh Kinh Anh Ngữ.


    Cả hai anh em đồng có một đường lối giáo dục thiết thực và cụ thể. Cha Cao Hữu Tạo như đã nói trên là mẫu gương của lòng sùng kính Đức Mẹ, tôn thờ bí tích Thánh Thể và chịu khó ngồi tòa giải tội bất cứ khi nào, sáng, trưa, chiều, tối. Có khi một đêm chỉ ngủ được vài giờ và thức dậy rất nhanh mỗi khi nghe giáo dân gõ cửa xin xưng tội. Ngài có thể giải tội trường kỳ không cần ăn uống ngủ nghỉ. Đặc biệt trong các ngày lễ lớn: Cấm Phòng, Chầu Lượt, Làm Phúc các giáo họ đến nổi các Linh Mục có mặt đều phải khâm phục về sự kiên nhẫn bền giai khi ngài ngồi tòa.

    Chính vì lý do đó cha Phanxicô Xaviê Lê Trọng Khiêm, cha Nguyễn Tấn, cha Trần Ngọc Thủy, cha Hoàng Phượng, cha Trương Cao Khẩn đã mệnh danh cho Ngài là cha thánh Joan Vianney ở Việt Nam.

    Riêng cha Cao Hữu Hân còn có lòng sùng kính thánh Giuse, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và các thánh Tử Đạo Việt Nam.

    II. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO:

    Điều đáng kể hơn cả của 2 vị Linh Mục nầy là giáo dục và đào tạo vì nó có một ảnh hưởng trường kỳ và rất lớn lao.

    Chỉ nói riêng ở xứ Tân Yên Quỳnh Lưu, ngài đã nuôi một thầy dạy tiếng Pháp. Trước một năm khánh thành nhà thờ Tân Yên, năm 1938 ngài thuê mấy thầy kèn trống từ Phát Diệm vào dạy nhạc và ở cả năm trời để dạy cho các thanh thiếu niên biết cách sử dụng và thành lập hội kèn rất nổi tiếng trong địa phận Vinh hồi đó. Kế đến ngài cũng nhờ một thầy đồ nho dạy cho những ai trong xứ muốn học.

    Ngài khuyến khích cha mẹ, phụ huynh có con em trong tuổi học hành phải cho đi học để biết đọc, biết viết và có cơ hội sẽ nâng cao tầm học vấn. Ngài cũng đã khuyến khích các thanh thiếu niên nam, nữ xin gia nhập đời sống tu trì trong chủng viện hoặc dòng tu nam nữ. Vì thế, ngài đã gửi các em có ý hướng đi học nâng cao tầm hiểu biết tại các trường Hà Nội như trường thánh Tôma hoặc trường các bà Soeur thánh Phaolô ít nhiều năm sau đó về truyền đạt lại cho các em trong giáo xứ.

    Riêng về con cháu ngài nuôi trong nhà ngài dạy dỗ cẩn thận và chu đáo. Ngài cho học lý thuyết ở trường nhưng khi về nhà bắt làm việc thực tế. Ngài dạy con cháu học và đọc thông thạo tiếng Pháp, tiếng La tinh cho ngài nghe mặc dầu chính cháu đọc mà mình chỉ hiểu đôi chút. Thỉnh thoảng ngài cho ngừng lại để giải thích những lời hay ý đẹp của bài đọc. Ngài bắt học nhạc, học kèn, học trống như người ta.

    Một lần ngài thấy kết quả cụ thể, ngài nói lời khuyến khích: “Bác thấy cháu cũng biết làm tuy chưa được bằng người ta vì cháu còn nhỏ. Ước mong của hai bác là thấy cháu cố gắng làm việc và học hành cho tốt. Cháu không làm được 10 như người ta, nhưng nếu cháu chịu khó làm được 1, 2, 3 đầy đủ thế là hai bác toại nguyện rồi. Bù công lao của hai bác đã bỏ công dạy dỗ và nuôi cháu mồ côi cha mẹ.”

    Lời khuyến khích ấy đã tác động cực mạnh giúp cho người cháu suốt đời tích cực học tập, viết lách, nghiên cứu… Đã có một vài thành quả trông thấy như viết về lịch sử, về kinh thánh, thơ vè để làm tài liệu giáo dục vì có hướng chuyên về giáo dục và đào tạo như hai bác.

    Ngoài ra phải thêm rằng cha Cao Hữu Hân là một con người hiếu học, thức thời, đọc sách báo và nói về kinh tế, xã hội, chính trị. Nhiều lần ngài bày cho cách nghiên cứu về quặng mỏ sắt, than, đồng, chì… Và rất thích về địa lý, về phong thủy. Một lần ngài gọi Trung Quốc là một con cọp đang ngủ chưa thức dậy, còn cổ hủ, chưa tiến bộ, nên trong cuộc chiến tranh Trung Nhật 1939 – 1945 Trung Quốc thua Nhật và Mỹ, Pháp, Anh nhưng rồi đây khi nó thức dậy thì nó là một địch thủ đáng gờm của thế giới.

    Lời tiên tri ấy được nói vào năm 1939 qua 70 năm sau đến bây giờ năm 2009 Trung Quốc là một cường quốc thứ hai về kinh tế thế giới. Đó là chưa nói về văn hóa, quân sự, bom hạt nhân, thám hiểm không gian và quyết không đội trời chung với những ai coi thường họ.

    III. NHÌN QUẢ BIẾT CÂY:

    Trong Phúc Âm Chúa nói: “Nhìn quả biết cây, cây tốt sinh trái tốt, cây xấu không thể sinh trái tốt” (…) Nhờ lời dạy có cơ sở bền vững như vậy, mà người cháu đã viết:

    Về lịch sử:
    - Lịch sử giáo phận Vinh 600 trang cỡ lớn in tại California năm 1996.
    - Đi Tìm Xứ Đạo Đầu Tiên Nghệ An giáo phận Vinh căn cứ theo Bản Phúc Trình của Linh Mục truyền giáo dòng Tên Manoel Férreyra viết năm 1676, 300 trang.
    - Lịch sử giáo hạt Bình Chính 1999 500 trang
    - Tiểu sử Linh Mục Phêrô Phêrô Cao Hữu Tạo… 2004, 300 trang…v.v

    Về kinh thánh, truyền giáo, giáo dục:
    - Năm 2000 Đọc và Học Kinh Thánh qua các bản dịch tiếng Việt 250 trang.
    - Trường ca dân Chúa 1650 câu, thơ lục bát năm 1970.
    - Đến với anh em lương dân năm 2005.
    - Hái Bông Hồng…năm 2005
    - Nhiều bài góp ý về Bản Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ 2007.
    Đặc biệt Năm 1970 viết cuốn “Tết đốt 200 Tỷ Bạc” theo tỉ giá hồi đó, với mục đích đề nghị cấm đốt mọi thứ pháo dịp Tết Nguyên Đán gây nên bao tang tóc cho cá nhân xã hội … Được “giải thưởng khuyết khích” của chính phủ thời ấy… Rồi không biết tình cờ hay hữu ý, mà 25 năm sau 1995 Trung Quốc ra lệnh cấm đốt pháo, và Việt Nam sau một năm 1996, cũng công bố lệnh cấm đốt pháo luôn… Hy hữu là chỗ đó!?

    Năm 1992, Tết Nhâm Thân, viết Bản Thỉnh Nguyện gửi trực tiếp cho Thủ Tướng Võ Văn Kiệt và cả trăm bản sao gửi cho các Tòa Đại Sứ ngoại quốc tại Hà Nội, Các Ban Bộ Trung Ương Tỉnh Huyện Xã và các cơ quan tôn giáo trong nước, ngoài nước kêu gọi khẩn cấp kiến thiết lại con đường xe hơi Phan Thiết – Mũi Né do bà Lục Thị Đậu xây dựng từ năm 1922 để cứu sống cho 45 ngàn dân địa phương lâu nay bị bỏ rơi…

    Kết quả hy hữu mới khác là năm 1994, Nhà Nước đời thủ tướng Võ Văn Kiệt đã cho làm lại, tiếp đó nhiều Chương Trình Đầu Tư Nước Ngoài ồ ạt đến tăng cường biến Mũi Né – Rạng trở nên chẳng những một trung tâm du lịch hấp dẫn của Bình Thuận và còn cho toàn quốc không kém gì Nha Trang, Vũng Tàu. Thực tế hôm nay đang chứng minh cho lời yêu cầu đó.

    KẾT LUẬN:

    Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đền ơn đáp nghĩa.

    Mấy dòng thô sơ trên được viết ra cho những mục tiêu ấy. Đặc biệt để làm thành một bài tạ ơn đối với sự quan phòng nhiệm mầu của Thiên Chúa, cùng là một lời tri ân chân thành đối với các đấng tiền bối để gương lại cho các thế hệ khắp nơi. Bởi vì nhiều người cao tuổi ở các vùng Tân Yên, Thanh Dã, Hiền Môn, Quỳnh Lưu Nghệ An mà nhất là những giáo dân ở ba giáo xứ lớn Phan Thiết như Vinh Phú, Vinh Tân, Thanh Xuân… vẫn còn nhớ và giữ nhiều kỷ niệm quí. Riêng mấy Linh Mục thế hệ trẻ gốc các xứ đạo nói trên cũng nhớ nhiều về Ngài như Linh Mục Nguyễn Hùng Oánh Sài Gòn, Linh Mục Nguyễn Hữu Nhường, Linh Mục Hồ Sĩ Hữu và Linh Mục Nguyễn Xuân Thảo, dòng Phanxicô Sài Gòn.

    Đối với Linh Mục Nguyễn Xuân Thảo, Linh Mục Nguyễn Văn Minh và ông anh cả là Nguyễn Trung Hiếu ở Mỹ, tất cả là ba anh em tiến sĩ du học Mỹ trong một gia đình mà thân phụ là đệ tử ruột của Linh Mục Cao Hữu Hân đào tạo từ năm 1938 tại Tân Yên, Quỳnh Lưu Nghệ An.

    Tháng 8/2009 (Nhớ như vậy, kể như vậy, ghi như vậy nhưng khi làm việc đúng với điệu kiện bảo đảm giá trị thực của người thật, việc thật. Cám ơn)
    LM Nguyễn Hữu Nhường
    vietcatholic


    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 23-09-2009 lúc 08:07 PM

  70. Có 12 người cám ơn Damsan vì bài này:


  71. #19
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha PHILIPPHÊ PHAN VĂN TUYỀN


    (1913 – 1947)







    Linh mục Philipphê Phan Văn Tuyền sinh năm 1913 tại Cái Mơn (Bến Tre) trong một gia đình đạo đức thuộc dòng dõi Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815–1853). Song thân là ông Matthêu Phan Văn Trị và bà Anna Nguyễn Thị Quốc. Ông bà sinh được 8 người con: 4 trai 4 gái mà Philipphê Tuyền là con thứ ba.
    Philipphê Phan Văn Tuyền lớn lên theo học tại trường họ Cái Mơn, dưới thời cha sở Isidoro Dumortier Đượm. Là một thiếu nhi minh mẫn, tính tình hiền hậu, đạo đức nên được cha sở Isidoro Dumortier chú ý và tuyển chọn. Khi cha Isidoro được tấn phong làm Giám mục Sàigòn, lúc đó Phan Văn Tuyền được 13 tuổi, được Đức Tân giám mục gọi vào Chủng viện Thánh Giuse Sàigòn. Thực là một vinh hạnh. Sau 14 năm tu học ở Tiểu và Đại Chủng viện Sàigòn, thầy Philipphê Tuyền được thụ phong linh mục vào mùa thu năm Canh Thìn (21-09-1940) tại Sài Gòn. Sau đó, ngài trở về giáo phận Vĩnh Long phục vụ vì ngài là linh mục thuộc giáo phận này, một giáo phận được thành lập năm 1938 với Giám mục tiên khởi là Đức cha Phêrô Martinô Ngô Đình Thục,
    Cha Philipphê Tuyền được chỉ định làm cha phó họ Giồng Miễu (Thạnh Phú) từ năm 1940 đến năm 1944. Tại nơi đây, ngài luôn hoạt tông đồ một cách hăng say và đắc lực.
    Năm 1944, cha được Đức Cha gọi về coi họ Giồng Giá thuộc quận Ba Tri, đang khi tình hình chiến cuộc ở đó rất căng thẳng. Giồng Giá khi ấy là vùng hoạt động của Việt Minh, thỉnh thoảng bị lính Tây đến bắn phá, dân chúng bị thiệt hại nặng nên thường sống trong lo âu và sợ hãi. Năm 1946, khi cuộc chiến ngày càng leo thang, cha Philipphê Tuyền xin phép về gia đình nghỉ tạm thời gian.
    Sau thời gian gần 5 tháng, cha vâng lời Đức Giám mục giáo phận trở về Giồng Giá để lo cho giáo dân đi xưng tội rước lễ mùa Phục Sinh năm 1947. Lợi dụng tình thế đó, một số kẻ ghét đạo cố ý phao tin thất thiệt, vu cáo cha nào là theo Tây, nào là giữ chức vụ kín Tây giao cho v.v… Một vài người hoạt động trong vùng đó sẵn lòng oán ghét đạo Công giáo nay được dịp vu khống cho vị linh mục vô tội này. Ngay khi về nhiệm sở, phòng công an mời cha về Đình Bảo Hòa, gần họ Giồng Giá trình giấy tờ, vì có đủ giấy tờ hợp lệ nên không có lý do nào để cầm giữ cha.
    Một đêm tối trời tháng 7 năm 1947, một nhóm người bất hảo tới rình rập nhà cha sở Giồng Giá, họ kêu cửa và bảo: “Tây tới, cha mở cửa, con dắt cha đi trốn”. Bọn chúng kêu nhiều lần mà cha không mở cửa vì cha nghe tiếng lạ. Đến khi bọn chúng giả giọng ông Sáu Chim người quen của cha (vì nhà ông ở gần nhà cha sở), cha nghe tiếng thì an tâm ra mở cửa. Cửa vừa mở, bọn chúng xông tới bắt cha và ông từ Tiện dẫn đi.
    Khoảng nửa đêm, nguời ta tạo một trận báo động giả với tiếng còi và tiếng hô to: “Tây tới, Tây tới”. Dân chúng sợ hãi chạy trốn. Đến sáng ngày, giáo dân không nghe nhà thờ đổ chuông như thường lệ nên ai nấy đều tưởng lầm rằng cha bị Tây bắt. Những kẻ bách hại cha đưa cha tới họ Gảnh cách Giồng Giá 7 cây số, vào lúc đêm khuya tăm tối. Họ chọn chỗ đó làm chốn pháp trường nên đã đào hầm sẵn để chôn sống cha.
    Đến đó, cha biết mình phải bị giết nên cha xin dừng lại 5, 10 phút để dọn mình. Cha quì gối xuống đọc kinh thầm thỉ kêu xin Chúa, phó thác mạng sống mình trong tay Chúa. Bọn chúng nghe cha đọc kinh thì quát mắng to: “Giờ phút này mà còn kêu Tây nữa”. Khi cha đọc kinh xong, bọn chúng xúm lại đập cha bằng cây dầu vuông. Đau quá, cha kêu Chúa liên lỉ nhưng chúng vẫn đập cho đến khi không còn nghe tiếng cha rên nữa thì chúng đạp cha xuống một cái hầm đào rất cạn rồi lấp đất lại sơ sài, đoạn bỏ chạy trốn hết.
    Vài hôm sau, ông biện Kiềm tại họ Gảnh ra canh tác nơi mảnh đất của ông gần chổ họ đã giết cha. Ông nhìn thấy một cảnh tượng hãi hùng: một mô đất lấp sơ sài còn lộ ra 2 gót giầy. Rất đau lòng. Ông liền nhanh nhẹn lấp lại kỹ lưỡng, rồi kín đáo báo cho ông Bảy Trình (em cha Benoit Thắng) biết. Hai ông lén lút đánh dấu nơi ấy.
    Thường đêm, những người biết và thương mến cha đều hướng về ngôi mộ cha để cầu nguyện. Vào một đêm năm 1950, có một số người thấy ánh sáng chiếu ra từ ngôi mộ cha. Và còn lạ hơn, có đêm cha về kêu những người ấy và nói: “Sao chúng con không đem cha về Nhà thờ, để cha ở đây cô quạnh một mình”.
    Họ liền đến kể lại cho cha Phêrô Chính (cha sở họ Giồng Giá) tất cả những gì họ đã nghe thấy. Cha sở nghe các việc về cha Philipphê Tuyền nên ngài đến trình với Đức cha Ngô Đình Thục. Cũng nên biết, sau khi cha Philipphê Tuyền bị giết thì Nhà thờ Họ Giồng Giá cũng bị phá hủy tan hoang. Đức cha đã yêu cầu cha Phêrô Chính lo tu sửa nhà thờ lại và tìm cách đem hài cốt cha Philipphê Tuyền về an táng nơi Cung thánh Nhà thờ Giồng Giá.
    Người ta chỉ còn biết là đã chôn cha Philipphê ở khu vực đó chứ không ai nhớ rõ chỗ nào đúng là mộ huyệt của cha, vì tinh thế rất căng thẳng, không ai dám lui tới và nơi ấy đã trở nên hoang vắng, cỏ mọc um tùm.
    Cha sở Phêrô Chính phải tổ chức công việc chu đáo: ngày 19-01-1951, ngài chọn và giao công việc cho bốn người trong số những người đã trông thấy ánh sáng tỏ rực từ mộ cha Philipphê Tuyền lúc ban đêm gồm: ông biện Kiềm và một ông biện khác vác cuốc giả vờ đi đào chuột và hai người phụ nữ bưng rổ giả đi xúc cá.
    Khi họ tới Gò Trộm là nơi chôn cha nơi mà họ đã thấy ánh sáng đó, cùng nhau họ quì xuống đọc kinh cầu nguyện và thầm thĩ với cha: “Cha ơi! Nếu chỗ này là nơi cha an nghỉ thì xin cha cho chúng con biết để chúng con đem cha về”. Sau khi cầu nguyện xong, họ đứng lên, ông biện Kiềm lấy cuốc xốc lên một cái thì quả thật, gặp được xương cha. Họ quá đỗi mừng, tìm tới nữa thì gặp cái sọ đầu của cha. Họ nhanh chóng thu lượm đầy đủ không thiếu sót xương nào. Hai bà vội vã bỏ xương vào rổ, bưng thẳng về nhà thờ Gảnh, giao cho Dì Tư Thê và Dì Sáu Trong thuộc Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn đang công tác tại đó. Còn hai ông biện lo lấp đất lại kỹ lưỡng rồi về sau.
    Hai Dì chùi rửa hài cốt sạch sẽ, rồi lấy khăn trắng trải trên bàn, sắp xương ra và đốt ngọn nến. Các Dì và một ít người cùng nhau canh thức suốt đêm cầu nguyện cho cha.
    Qua ngày 20-01-1951, Dì Phước tại họ Gảnh cùng với một nhóm các em đi dự lễ ở nhà thờ Giồng Giá. Thừa cơ đi dự lễ, các dì gói bộ xương kín đáo, cái sọ để riêng, xương để riêng, rồi bỏ vào 1 bọc lá do các bà chầm sẵn, cho mấy em thiếu nữ gánh đem xuống nhà thờ Giồng Giá giao cho cha sở. Tại đó, cha sở đóng sẵn một cái quách. Cha tiếp nhận hài cốt rồi tổ chức nghi lễ tẩm liệm tại nhà xứ, đoạn chuyển linh cữu đặt giữa nhà thờ cho giáo dân đến kính viếng, cầu nguyện suốt 3 ngày.
    Đến ngày 24-01-1951, Cha Benoit Thắng và 13 Cha ở các họ đạo gần xa mạo hiểm đến dự lễ cải táng cha Philipphê Tuyền. Lúc 6 giờ sáng, qưới chức và con chiên trong họ đầu vấn khăn tang, khiêng hài cốt cha Tuyền đi kiệu vòng quanh nhà thờ. Kiệu xong, khiêng hài cốt cha vào nhà thờ. Cha Benoit Thắng cử hành lễ an táng để cầu nguyện cho cha và cử hành nghi thức an táng rồi đặt hài cốt cha tại Cung thánh Nhà thờ Giồng Giá. Buổi lễ diễn ra trong bầu khí vô cùng cảm động. Trong buổi lễ cải táng này, có bà mẹ cha Tuyền đến dự lễ để tiễn đưa con bà.
    Giồng Giá đến nay vẫn còn mộ vị linh mục này. Cha Philipphê mới được 34 tuổi đời, 7 năm linh mục nhưng đã được Thiên Chúa thương trao ban hồng ân tử đạo. Cha là vị linh mục thứ 26 sinh quán tại Cái Mơn, sau Thánh Philipphê Phan Văn Minh tử đạo.

    (Tổng hợp các lời kể và tài liệu về cha Philipphê Phan Văn Tuyền)



    GP Vĩnh Long

  72. Có 10 người cám ơn Damsan vì bài này:


  73. #18
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha GIOAKIM ĐẶNG ĐỨC TUẤN

    (1806-1874)
    Tinh hoa công giáo ái quốc

    1. Gia cảnh

    Quê tôi Bình Định,
    Làng chánh Qui Hoà,
    Giữ đạo truyền gia,
    Mẹ cha đã mất,
    Không lập gia thất,
    Có một mình tôi,
    Anh em chết rồi,
    không còn ai cả” 1
    Làng Qui Hoà theo lời cha Gioakim Đặng Đức Tuấn khai với quan huyện Mộ Đức như trên, ngày nay là thôn Qui Thuận, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nơi chôn nhau cắt rốn của cha vào năm 1806. Xét về phương diện tôn giáo, Qui Hoà hay Qui Thuận đã từng là trung tâm sinh hoạt tôn tôn giáo của địa sở Gia Hựu, một địa sở kỳ cựu, sầm uất của giáo phận Qui Nhơn. Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn là một trong ba người con của ông Đặng Đức Lành, một ẩn sĩ làm Câu địa sở Gia Hựu. Gioakim Đặng Đức Tuấn có người anh là Đặng Đức Hoá và người em là Đặng Đức Bình.
    Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống đức tin và văn hoá, Đặng Đức Tuấn đã tỏ ra thông minh, nhanh trí, mỗi đêm có thể học thuộc năm mươi trang sách nho. Năm Ất Dậu (1825), Đặng Đức Tuấn dự khoa thi Hương tại Thừa Thiên,2 Ngay từ trường nhất (kinh nghĩa) và trường nhì (chiếu, biểu, luật, dụ), Đặng Đức Tuấn đã đậu thủ khoa nhưng vào trường ba (thơ, phú, văn sách) Đặng Đức Tuấn không may vô duyên với khoa bảng vì chép đề thi sai sót một chữ mà phải chịu lạc đề. Phải chăng cái lạc đề vô duyên ấy như dấu giáng âm để chuyển cung điệu mà Thiên Chúa đã ghi sẵn vào dòng nhạc cuộc đời Đặng Đức Tuấn?
    Trong khi không đậu bảng vàng, không được thăng quan tiến chức, Đặng Đức Tuấn ở nhà làm giáo làng và sinh sống bình dị như bao người trong làng xóm, thì ở Chủng viện Penang, Mã Lai, các chủng sinh Việt Nam đang cần thầy giáo Hán Văn. Ngoài những môn học theo qui trình đào tạo linh mục của Hội Thánh, các chủng sinh Việt Nam cần phải có thêm kiến thức Hán văn để có thể đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu học tập ở Chủng viện và truyền giáo tại nước nhà. Thầy giáo Tuấn chưa biết, chưa nghĩ đến nhu cầu ấy của Hội Thánh nhưng Thiên Chúa đã biết, đã nghĩ đến thầy.

    2. Khúc quanh cuộc đời
    Nhân chuyến viếng thăm địa sở Gia Hựu, Đức cha Stêphanô Cuénot Thể ngỏ ý với các chức việc về việc Chủng viện Penang đang cần thầy giáo Hán Văn. Các chức liền giới thiệu giáo làng Đặng Đức Tuấn con ông câu Lành cho Đức cha.
    Sau khi được yết kiến Đức cha Stêphanô Cuénot Thể và được biết nhu cầu của Hội Thánh Việt Nam, giáo làng Đặng Đức Tuấn vâng lời nhận lệnh Đức cha và được Đức cha Cuénot đưa vào Gia định, chờ tàu đi Penang. Lúc bấy giờ vào khoảng đầu thời Vua Thiệu Trị (1841-1847).
    Đến Penang, thầy Đặng Đức Tuấn được tiếp cận với văn hóa Đông Tây. Vốn tư chất đạo đức, thông minh và bản tính hiếu học, ngoài giờ giảng dạy Hán văn tại Chủng viện Penang, thầy Đặng Đức Tuấn còn chú tâm nghiên cứu học hỏi Pháp ngữ và cả tiếng La tinh là ngôn ngữ căn bản của Hội Thánh. Sau ba năm chuyên tâm học hỏi, thầy Đặng Đức Tuấn đã đạt được trình độ hiểu biết về tiếng La tinh và Pháp ngữ một cách khả quan. Sự tận tụy chu toàn bổn phận của một người thầy, của một Kitô hữu và sự hiếu học cũng như đời sống nhân bản của một thanh niên Việt Nam chín chắn, chững chạc đã lọt vào tầm ngắm của người có trách nhiệm đào tạo linh mục cho cánh đồng truyền giáo Việt Nam.


    3. Quyết chọn làm linh mục
    Một hôm cha Giám đốc Đại chủng viện Penang gặp ông thầy dạy Hán văn đang nghiên cứu văn phạm La ngữ, ngài hỏi: “Con có muốn học để làm linh mục không?” Thầy Đặng Đức Tuấn tỏ ý muốn làm linh mục của mình, song e ngại đã lớn tuổi. Cha Giám đốc hứa can thiệp với Đức cha Cuénot Thể để chuẩn nhận thầy vào chủng sinh của giáo phận. Sau thời gian cha Giám đốc liên lạc thỉnh ý Đức cha Cuénot Thể và được Đức cha chấp thuận, Chủng viện Penang có thêm một chủng sinh tu muộn già dặn, tinh thông văn tự Đông Tây “vừa học vừa làm”, vừa làm thầy giáo Hán văn, vừa học các môn học của Hội Thánh. Sau bảy năm dùi mài những môn học ở Chủng viện, thầy Ðặng Ðức Tuấn đã được thụ phong phó tế.
    Sau khi lãnh chức phó tế ở Đại chủng viện Penang, thầy Tuấn trở về Việt Nam. Sau một thời gian phục vụ giáo phận, thầy Tuấn được Đức cha Cuénot Thể truyền chức linh mục tại Toà Giám mục Gò Thị 3 và được bổ nhiệm làm việc tại Tư Ngãi (Quảng Ngãi).


    4. Lâm nạn phụng quốc hành
    Trong thời gian cha Gioakim Đặng Đức Tuấn làm việc tại Quảng Ngãi, tình hình chính trị trong nước rất bất ổn. Tàu chiến Pháp gây chiến ở Đà Nẵng, rồi Gia Định. Triều đình Huế nghi kỵ người Công giáo. Vua Tự Đức liên tiếp ra các sắc dụ cấm đạo vào những năm 1859, 1860, khắc nghiệt nhất là sắc dụ phân sáp năm 1860 được thực hiện triệt để vào năm 1861. Nhà thờ bị phá hủy, nhà cửa ruộng vườn các tín hữu bị tịch thu, các tín hữu bị bắt phân tán vào các làng mạc. Trước tình thế khắc nghiệt ấy, cha Ðặng Đức Tuấn phải rời nhiệm sở Quảng Ngãi, trở về Bình Định, rồi lại từ Bình Định trở ra Quảng Ngãi để vừa lẩn tránh vừa tìm cách thăm nom an ủi bổn đạo. Đó là sự tính toán và nỗ lực của con người, còn Thiên Chúa có cách ứng xử của Ngài.
    Đầu năm 1862, hôm cha Tuấn tạm trú tại nhà Hương Côn ở Nga Mân 4, Tú Quới đến chơi, hai bên hàn huyên tương đắc. Tú Quới ngưỡng mộ tài đức và văn học của cha Đặng Đức Tuấn, nhưng đoán biết cha Tuấn là công giáo, nên sợ quan quyền hay biết, không dám ém nhẹm, mà tự mình bắt thì không đành nên kêu làng tới xét hỏi. Làng đòi đóng gông, nhưng Tú Quới bảo lãnh đưa về nhà mình cơm nước. Sáng hôm sau, làng giải giao cha Đặng Đức Tuấn lên huyện Mộ Đức 5 .
    Trong thời gian bôn tẩu, nhìn vào thế cuộc, tâm hồn đau xót vì Hội Thánh bị lâm nạn, Nam kỳ bị Pháp xâm chiếm, cha Đặng Đức Tuấn soạn thảo hai bản điều trần: Hoành Mao Hiến Bình Tây sách và Minh Đạo Bình Tây sách, để chờ có dịp dâng lên triều đình.
    Trong lúc bị áp giải, cha Đặng Đức Tuấn vẫn giữ hai bản Điều trần này trong gói hành lý cùng với bảo vật tùy thân là tượng Đức Mẹ. Vì sợ quan quân tịch thu xúc phạm đến Đức Mẹ, cha Tuấn đành phải gởi tượng Đức Mẹ vào một bộng cây da bên lề đường.
    Sau khi lấy khẩu cung, quan huyện biết tác giả hai bản điều trần là đạo trưởng, cha Đặng Đức Tuấn được chuyển lên tỉnh. Tại tỉnh, cha Tuấn viết tờ khai bằng bài vè bốn chữ, 88 câu (Tư Thừa Khai) 6. Tại tỉnh, cha Đặng Đức Tuấn bị đưa ra công đường tra tấn. Lúc bấy giờ có quan Khâm sai từ kinh đô vào ghé lại tỉnh đường. Quan Khâm sai xem qua bản điều trần thấy có vấn đề quan trọng, quan Khâm sai truyền giam cha Tuấn rồi gởi hồ sơ nội vụ về triều đình. Cha Đặng Đức Tuấn được triệu về kinh đô Huế và được Thượng thư bộ binh Lâm Duy Hiệp cùng Hiệp biện Phan Thanh Giản tra vấn về đạo Công giáo và về giặc Tây đánh phá Việt Nam. Cha Đặng Đức Tuấn thuyết phục hai đại quan bằng tình lý trong sáng vói chánh ngôn, chánh lý chặt chẽ. Nhân dịp này, Cha Tuấn viết thêm hai bản điều trần xin tha cho giáo dân và hiến kế làm cho dân giàu quân mạnh. Phan Thanh Giản dâng lên cho vua. Vua Tự Đức khen thưởng và nới lỏng lệnh cấm đạo. Vào khoảng tháng 3-1862, cha Đặng Đức Tuấn viết thêm hai bản điều trần nữa, bản thứ năm và thứ sáu về vấn đề cấm đạo và vấn đề kế sách giảng hòa với Pháp. Cha Đặng Đức Tuấn được vua Tự Đức cử tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương nghị với Pháp.
    Cuộc thương nghị khai diễn vào ngày mồng một tháng Năm, năm Nhâm Tuất, tức ngày 6 tháng 6 năm 1862. Pháp đòi ta bồi chiến phí năm triệu đồng và cắt giao trọn sáu tỉnh Nam kỳ. Thấy điều kiện giảng hoà quá nặng, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp hỏi ý kiến cha Đặng Đức Tuấn. Cha Đặng Đức Tuấn không che dấu mà còn phát huy tư cách linh mục của mình cùng với cương vị là một nhân viên thông ngôn của sứ bộ, cha Đặng Đức Tuấn bày tỏ lập trường cương quyết giữ vững chủ quyền và sự nguyên vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc:
    Phan, Lâm đòi Tuấn hỏi han:
    Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?
    Tuấn rằng: “Ông lớn lượng cao,
    Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.
    Ý tôi thời vậy đã đành,
    Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương” 7.
    Sau khi hòa ước được ký kết, vua Tự Đức ra Chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp, giáo dân bị phân sáp được trở về quê cũ và được trả lại điền thổ. Đây là chính sách chung của triều đình, trong đó có phần đóng góp công lao khá quan trọng bằng những lời điều trần của cha Đặng Đức Tuấn.

    5. Cho đến hết hơi cho đến trọn đời linh mục
    Ngày 24 tháng 5 năm 1862, cha Đặng Đức Tuấn được lệnh triều đình cho về quê. Trên đường về, cha Tuấn ghé lại gốc cây da xem lại tượng Đức Mẹ cha đã cất giấu lúc bị áp giải từ Nga Mân lên huyện Mộ Đức như cha đã tường thuật:
    Bôn ba về tới huyện trung,
    Qua than Bàu Gốc thăm vùng cây da.
    Lại xem tượng ảnh Đức Bà,
    Hình còn y cựu, bộng đà nhỏ nhoi.
    Lấy dao khoét rộng ra coi,
    Để vào trong áo ngậm ngùi hân hoan.
    Đội ơn Đức Mẹ muôn ngàn,
    Giữ gìn con dại bình an trở về.
    Tạc ghi ơn Chúa nhớ hoài Mẹ ta.” 8
    Khi cha Tuấn về Bình Định thì Đức cha Cuénot Thể đã bị chết rũ tù, cha Charles Herrengt, Bề trên địa phận, đang ở Xóm Chiếu, Sài Gòn. Cha Tuấn được bề trên bổ nhiệm về xứ đạo Tân Lộc, Quảng Ngãi rồi sau đó vào Mương Lỡ (Hòa Mục), Bình Định. Năm 1865, Đức cha Eugène Charbonnier bổ nhiệm cha Gioakim Đặng Đức Tuấn làm cha sở Nước Nhỉ, một xứ đạo bên bờ đầm Trà Ổ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Lúc bấy giờ xứ Nước Nhỉ không có nhiều giáo dân, năm 1850 Nước Nhỉ có 132 giáo dân và họ Suối Lâm 78 giáo dân. Ngoài việc truyền giáo và chăm sóc mục vụ cho giáo dân, Cha đã dành thời gian viết nhiều tác phẩm bằng thi ca, đặc biệt hun đúc giáo dân Nước Nhỉ có lòng sùng kính Đức Mẹ rất sốt sắng. Trong thời gian cha Tuấn ở Nước Nhỉ, vua Tự Đức triệu mời cha về kinh đô Huế hai lần để tham vấn về việc nước.
    Ngày 24 tháng 7 năm 1874, Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn trút hơi thở cuối cùng tại nhà thờ Nước Nhỉ, ấp Chánh Khoan, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Một kẻ sĩ, một kho tàng văn hóa, một tình thương dân tộc, một cuộc đời linh mục đặc biệt sùng kính Đức Mẹ và kết hợp nhuần nhuyễn nhân, trí, dũng Á Đông với triết lý và thần học Kitô giáo để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào, cho đất nước đã kết thúc, nhưng gương sáng và việc lành của cha còn đó. Cha được an táng tại khuôn viên nhà thờ Nước Nhỉ. Thương nhớ cha, giáo dân lập một bàn thờ Đức Mẹ bên mộ cha. Sau giờ kinh tối thứ bảy hằng tuần, giáo dân quây quần bên mộ cha và bàn thờ Đức Mẹ để cha con cùng đọc kinh kính Đức Mẹ như thể lúc cha còn sống bên đoàn chiên vậy. Thói quen này được giáo dân Nước Nhỉ gọi là chầu lầu, được giữ mãi cho đến khi di cư (1966). Năm 1905, nhà thờ Nước Nhỉ được cha Jean Marie Guéno dời đến vị trí mới. Mộ cha Đặng Đức Tuấn được cải táng về Lăng Tử Đạo Nước Nhỉ, vị trí hiện nay.


    6. Những tác phẩm của cha
    Gioakim Đặng Đức Tuấn:

    Giáo sư Lam Giang và linh mục Giuse Võ Ngọc Nhã đã sưu tập các di cảo của cha Gioakim Đặng Đức Tuấn:
    1/ Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca: Lược thuật lịch sử loan báo Tin Mừng tại Việt Nam từ thời hậu Lê cho đến chỉ dụ phân sáp của vua Tự Đức.
    2/ Lâm Nạn Phụng Quốc Hành: Thuật lại những sự kiện từ khi bị bắt ở Nga Mân đến lúc vua Tự Đức ra chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp.
    Hai thi phẩm trường thiên nầy cho thấy khả năng kết hợp tài tình của cha Đặng Đức Tuấn giữa các thể thơ lục bát, song thất lục bát và thất ngôn đường luật. Đồng thời cho thấy nghệ thuật trình bày hấp dẫn của cha. Nơi “Việt Nam Giáo sử Diễn Ca”, cha dùng thuận tự pháp trình bày các sự kiện lịch sử theo thứ tự thời gian. Nơi “Lâm Nạn Phụng Quốc Hành”, cha dùng nghịch tự pháp thuật lại các sự kiện không theo thứ tự thời gian nhưng đột ngột lấy những sự kiện làm điểm nhấn rồi qua đó trình bày đầu đuôi ngọn nguồn. Nơi “Việt Nam Giáo sử Diễn Ca”, cha kết thúc nơi cái chết của Đức cha Cuénot Thể, cái chết gây xót xa trong lòng người thì nơi “Lâm Nạn Phụng Quốc Hành”, cha kết thúc nơi chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp của vua Tự Đức, một kết thúc gây cảm giác phấn khởi. Hết bỉ cực đến thái lai, từ tử nạn đến phục sinh là qui luật của sự sống mà cha Đặng Đức Tuấn đã ngấm ngầm diễn tả nơi hai thi phẩm trường thiên nầy.
    3/ Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách
    4/ Minh Đạo Bình Tây Sách
    Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách và Minh Đạo Bình Tây Sách là hai bản điều trần được viết trước khi bị bắt. Bốn bản khác được viết khi cha bị giữ ở triều đình hiện nay chưa được tìm thấy, chỉ biết được có bốn bản này qua tường thuật của cha trong “Lâm Nạn Phụng Quốc Hành”.
    5/ Nguyên Đạo: Bản văn ngắn gửi cho bộ Binh trình bày nguồn gốc Kitô giáo.
    6/ Văn Tế Đức Cha Thể: Thể hiện tâm tình với Đức cha Cuénot.
    7/ Minh Dân Vệ Đạo Khúc: Trình bày chân lý Kitô giáo nhằm đáp lại bài “Hoán mê khúc” của quan Án sát Ngụy Khắc Đản đã hiểu sai về Kitô giáo.
    8/ Kim Thạch Giải Sầu Ca: An ủi giáo dân trung thành với đức tin Kitô giáo.
    9/ Cách Ngôn Liên Bích: Chỉ dẫn giáo dân xử thế lập thân, sống đạo bằng những những câu cách ngôn có nội dung từ Tin Mừng và tục ngữ ca dao.
    10/ Văn Tế Các Đẳng: Thương nhớ những người quá cố.
    11/ Minh Tâm Linh Số: Bài thơ chữ Hán thể thất ngôn, chữ đầu của câu thơ là một chữ số nói về một chân lý đức tin.
    12/ Thống Hối Đề Ngâm: Gồm 76 câu thơ lục bát nói lên sự cần thiết và lý do thống hối lỗi lầm.
    13/ Cải Quá Tự Tân Luận: Trường thơ lục bát khuyên giáo dân chừa bỏ Bảy mối tội đầu.

    ---------------------------
    1 Gs. Lam Giang & Lm. Võ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn Tinh hoa Công Giáo ái quốc, 1970, Trang 134.
    2 Theo ‘Châu Bản Triều Nguyễn, triều Minh Mạng, năm thứ 7, tập XX, trang 129’ và ‘Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục, bản dịch Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Thị Lâm, nxb Tổng hợp Tp. HCM, 1993’: Năm 1813 Vua Gia Long cho mở cuộc thi hương ở Bình Định cho các sĩ tử trong vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà. Từ năm 1821, các sỉ tử từ đèo Cả trở ra phải thi ở Thừa Thiên cho đến năm 1850, triều đình cho lập trường thi ở Bình Định.
    3 - Trong lời khai của cha Tuấn năm 1861 “Khi về nước Nam, tôi ra Tư Ngãi, ở đây ngũ tải, giảng đạo Chúa Trời…”. Như vậy trước khi bị bắt, cha Tuấn đã làm việc tại Tư Ngãi (Quảng Ngãi ) được 5 năm. Như thế cha Tuấn thụ phong linh mục vào năm 1856; đi Penang năm 1846.
    - Mémorial Mission de Qui Nhơn, No.62, 19 Mars 1910, p. 13. trong danh sách các cha được Đức cha Thể truyền chức linh mục từ năm 1850, có ghi cha Khâm quê Gia Hựu, chết ở Nước Nhỉ. Cha Tuấn được giáo dân và các thân hào gọi là cha Khâm vì ngài được triều đình cử đi cùng với hai vị đại quan Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương thuyết với Pháp về việc nước.
    4 Ngày nay là thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Thôn Nga Mân hiện nay là trung tâm của xã Phổ Cường, có đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1 đi ngang qua. Về địa bàn tôn giáo, Nga Mân thuộc địa sở Trà Câu. Ngày nay thuộc giáo xứ Vĩnh Phú, Quảng Ngãi.
    5 Lúc cha Tuấn bị bắt, Nga Mân thuộc châu Đức Phổ, huyện Mộ Đức. Huyện Đức Phổ được thành lập năm 1899.
    6 Gs. Lam Giang & Lm. Võ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn Tinh hoa Công Giáo ái quốc, 1970, Trang 134-137.
    7 Sđd. Lâm nạn phụng quốc hành, phần III, câu 73-78.
    8 Sđd. Trang 164.
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 03-09-2009 lúc 09:18 PM

  74. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  75. #17
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Vinh Sơn




    PHẠM VĂN DỤ

    (1922 – 1998)



    Giám mục Chính Tòa tiên khởi giáo phận Lạng Sơn





    Giáo phận Lạng Sơn đã được các linh mục Dòng Ða Minh đến truyền giáo từ năm 1908. Năm 1913, Lạng Sơn thành Phủ Doãn Tông Tòa, và năm 1960 trở thành Giáo phận Chính tòa với vị giám mục đầu tiên người Việt Nam là Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ.

    Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, trong một gia đình sùng đạo tại Phát Diệm, huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình. Ngày mùng 5 tháng 3 năm 1960, cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa, coi sóc giáo phận Lạng Sơn. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Ðức cha Phạm Văn Dụ lại được bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép Ðức cha được tấn phong Giám mục. Mãi đến ngày mùng 1 tháng 5 năm 1979, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ mới được tấn phong Giám Mục, do Ðức cha Phạm Ðình Tụng, giám mục Bắc Ninh. Sau đây là sơ lược tiểu sử và hành trình ơn gọi của ngài.
    Những năm tháng ẩn dật (1960-1990)
    Theo lý tưởng chung của các gia đình công giáo đạo hạnh thời đó, mấy anh em của Vinh Sơn đều muốn đi tu cả. Phạm Văn Thuyết là anh cả vào học chủng viện nhưng không bền đỗ. Anh thứ hai là Phạm Văn Lượng đi tu dòng Đaminh được gởi sang học tại Hồng Kông và đã khấn dòng nhưng cũng không lên tới chức linh mục. Phạm Thị Nhiệm là em gái út đi tu dòng nữ Đa minh tại Waterloo bên Bỉ.
    Lúc còn nhỏ, Vinh Sơn theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939 Vinh Sơn xin vào Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị. Sau đó thì được gởi đi Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Thầy Dụ đã chịu chức linh mục năm 1948 do tay Đức cha Hedde. Sau khi ngài chịu chức, Đức cha có ý định gởi ngài xuống làm phụ tá cha Jeffro lúc đó đang làm bề trên nhà dòng Đa Minh. Nhưng vì địa phận chuẩn bị mở lại Tiểu chủng viện, cha Dụ được gởi lên làm cha phó tại Đồng Đăng để cha Haag rảnh rang về Lạng Sơn tu sửa khu Văn Miếu làm Tiểu chủng viện.
    Sau khi Đức cha Jacq, cha Guibert và cha Nerdeux là những vị truyền giáo cuối cùng đã bị trục xuất khỏi địa phận Lạng Sơn, cha Dụ được Tòa Thánh đặt lên chức Tổng quản địa phận. Khi được tin ấy, chính quyền Việt Nam đề nghị cha Dụ lên Thất Khê coi xứ thay cha Guibert.
    Tại Thất Khê, ngày 5 tháng 3 năm 1960 cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục, hiệu tòa Boseta. Thế rồi, ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Đức cha Dụ được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Dù vậy, Đức cha vẫn không được đi đâu để chịu lễ tấn phong Giám mục. Ngay trong dịp Đức cha Hedde qua đời tại Lạng Sơn ngày 4 tháng 5 năm 1960, Đức cha Dụ cũng không có mặt trong đám tang. Với Đức cha Dụ, theo nguyên tắc, Lạng Sơn đã thành địa phận Chính tòa, sau khi được các cha Đaminh Pháp tỉnh Lyon gầy dựng vun tưới trong vòng 50 năm. Lúc này, ngoài Đức cha Dụ ra, chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Đức ở Lộc Bình.
    Từ khi lên Thất Khê 1960, Đức cha Dụ sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Khi quân Trung Hoa tràn sang Việt Nam năm 1979, Đức cha Dụ đã cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Thừa dịp này, Đức cha Phạm Đình Tụng, giám mục Bắc Ninh đã làm lễ tấn phong cho Đức cha Dụ trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám Mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 5 năm 1979. Sau lễ tấn phong, Đức cha đã trở về Thất Khê, không có sự thay đổi gì.
    Ngày 2 tháng 4 năm 1979, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ từ Long Xuyên báo tin ra ngoại quốc như sau:
    “Đức Cha Dụ biên thư cho tôi từ Bắc Ninh ngày 15 tháng 3 năm 1979 và Đức cha Tụng ngày 19 tháng 3, Ngài cho biết là Đức cha Dụ sau mười ngày tản cư qua rừng, đã tới Bắc Ninh ngày 28 tháng 2 để bắt đầu Mùa Chay. Tại đây có thầy Quỳnh và 100 giáo hữu Lạng Sơn cũng tản cư về. Còn cha Khái đã về Bùi Chu, cha Đức không tin gì, thầy Thảo có lẽ bị pháo kích chết tại Đồng Đăng. Đàng khác, quân Tầu phá sụp gác chuông Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn; khu nhà các bà Notre Dame des Missions (Văn Miếu) ở Cửa Nam cũng bị phá. Nhà xứ Thất Khê chỗ thì mất mái, chỗ đổ tường. Còn Cao Bằng chưa rõ tin gì… Những ngày hai Đức cha ở cùng nhau vui vẻ êm đẹp lắm, và như vậy tinh thần Đức Cha Dụ lên khá cao, để trở về tái thiết giáo phận từ con số không. Ngài xin chúng tôi giúp đỡ, chúng tôi sẽ cố.”
    Ngày 30 tháng 12 năm 1986 Đức cha Vinh Sơn viết ra ngoại quốc: “Tháng 7 vừa qua chúng tôi bị một cơn lụt kinh khủng, đến nóc nhà thờ Thất Khê. Không bị ai chết, nhưng về đồ đạc của cải thì giục xuống bùn cả. Ngẫm nghĩ mà thấy ứng nghiệm biết bao lời của các cụ xưa đã bảo: nạn vô đơn chí.”
    Từ năm 1987 thì Đức cha có vẻ tự do hơn về tin tức. Ngày 25 tháng 8 năm 1987 ngài viết: “Tôi ngồi đây gần 30 năm rồi, có được tự do đi đến đâu đâu! Hội đồng Giám mục thế giới đến nơi, dĩ nhiên tôi chả hy vọng chút nào được đi. Tôi thông công bằng lời cầu nguyện vậy…”
    Năm 1987, chị dòng Phạm Thị Nhiệm, người em gái của Đức cha ở Âu châu có được về thăm ngài trong những ngày từ 15 đến 21 tháng 11. Chị viết:
    “Nhìn thấy cái bàn giấy của anh sao mà buồn thế; có mấy quyển sách nó xấu xí; con hỏi tại sao thì anh nói bị ướt vì năm vừa rồi bị lụt. Bàn ghế cũng chả ra sao cả. Rồi cái màn cửa để chia từ phòng giấy qua phòng ngủ lại là một miếng bao tải, trông thảm ơi là thảm. Sau khi con hỏi những sách em gởi về ở đâu. Ngài nói, “Có người họ cần hơn, anh để cho người ta”.
    Chị chia sẻ tiếp: “Con thấy anh con sống rất là đơn sơ, không có vội vã và rất là bình tĩnh, con thì lo sợ, xong thấy anh con cứ rửng rưng. Con có cảm tưởng như có người anh “độc ẩn sĩ” và mục đích của anh là sống theo tinh thần Phúc âm.”
    Ngày 11 tháng 2 năm 1989 Đức cha viết: “Năm nay tôi được lên dâng lễ Noel mãi trên Cao Bằng. Lễ nửa đêm sau vài chục năm im lặng, không khí cảm động khác thường. Đứng trên bàn thờ, tôi phải im lặng đến hơn 15 phút, vì họ chen chúc nhau đông quá, tưởng như nhà thờ sắp bể.”
    Những năm tháng hy vọng (từ 1991 đến 2-9-1998)
    Năm 1990, Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Toà giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.
    Trong tạp chí “Các Giáo Hội Á Châu” (Pháp ngữ) cũng đề cập đến Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ. Theo nguồn tin của tạp chí này số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho hay, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận Đức cha Vinh Sơn là Giám mục Lạng Sơn Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 1990. Dầu vậy Đức cha Vinh Sơn vẫn không thu xếp kịp để cùng đi với 21 Giám mục Việt Nam sang triều yết Đức Thánh Cha vào những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1990.
    Sau khi được thừa nhận làm Giám mục, Đức cha bắt đầu được tự do đi lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1991 Đức cha đã viết sang Pháp cho cha Phạm Phúc Khánh như sau:
    “Chắc cha đã cầu nguyện nhiều nên nay tôi được viết mấy chữ này cho cha từ thành phố Hồ Chí Minh. Phải, cha có thể tưởng tượng được không? Tôi đã được giấy vào đây 25 ngày để thăm Đức cha Ngữ. Vừa rồi chính quyền Lạng Sơn đã gọi và bảo cho tôi hay là nhà nước đã công nhận tôi là giám mục của Lạng Sơn. Sau 31 năm chờ đợi, tôi cũng đã già rồi, chả còn sức để đi đây đó trong địa phận để làm ích cho giáo dân. Cha già Quỳnh đã hơn 80 tuổi rồi, nhưng ngài vẫn còn hăng hái lắm. Kỳ đi vắng này tôi giao cả địa phận cho ngài. Tôi được nhà nước công nhận, nhưng vẫn còn phải ở Thất Khê, chưa được về Lạng Sơn. Sự thực cũng khó nghĩ vì bây giờ về Lạng Sơn thì không biết rúc vào đâu. Cha về mau mà xây dựng lại địa phận. Được công nhận là Giám mục, tôi nói đến vấn đề Ad limina, nhưng Ban Tôn giáo trung ương nói: từ từ”.
    Ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đức cha Dụ đã đáp máy bay sang Rôma để triều yết Đức Thánh Cha và nhân tiện chữa bệnh luôn. Ngài nghỉ tại nhà quản lý Phát Diệm ít ngày rồi đi chữa bệnh tại Clinique Regina Mundi, Roma.
    Theo báo “Dân Chúa”, số 110 tháng 12 năm 1991 thì lúc 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1991, Đức cha Dụ đã dâng Thánh Lễ với Đức Thánh Cha trong nhà nguyện riêng tại Vatican. Cùng dâng Thánh Lễ còn còn có 6 linh mục Việt Nam đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã mời Đức cha Dụ dùng bữa sáng với ngài. Đức Thánh Cha đã tặng Giám Mục Lạng Sơn một chén lễ quý giá.
    Sau khi Đức cha chữa bệnh ít lâu tại Rôma, các bác sĩ cho biết bệnh tình của ngài không thể chữa khỏi hẳn được. Ngày 22 tháng 11, ngài được phép sang Bỉ thăm người em gái đồng thời đi hành hương Lộ Đức và Lisieux. Đến lúc cần phải đi Lyon cùng với Đức cha Jacq để gặp cha quản lý tỉnh Dòng Đaminh thì ngài mệt không đi được. Ngày 7 tháng 12 Đức cha đã trở về Việt Nam. Kể từ đó ngài dọn về ở Tòa Giám Mục Lạng Sơn.
    Bước sang năm 1993 thì đời sống của Đức cha bắt đầu trở nên bình thường. Tuần Thánh năm đó, giáo dân các nơi trong khu vực kéo đến mừng lễ Phục Sinh rất sầm uất và long trọng. Mừng lễ Phục sinh ở Lạng Sơn xong, Đức cha đi các nơi: Thất Khê, Cao Bằng, Bố Từ, Tà Lùng. Đi đến đâu, ngài cũng phải một mình làm mọi việc: giải tội, rửa tội, cho chịu lễ lần đầu, xức dầu bệnh nhân, giải quyết các đôi vợ chồng rối ren. Năm ấy địa phận chỉ còn có Đức cha, khi ấy đã 71 tuổi và cha già Quỳnh 87 tuổi hoạt động trong cả miền.
    Năm 1993, khởi công xây Toà giám mục. Dự định sẽ xây tiếp nhà thờ chính toà nhưng chưa thành. Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng. Năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khoẻ của Đức cha ngày một giảm sút. Ngày 9-3-1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Đức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ Hội Thánh Chúa trong lặng lẽ ngang qua chức vụ giám mục của mình.

    [Tóm tắt theo: Lm Phạm Phúc Khánh, Lược Sử Địa Phận Lạng Sơn, Cannes, 1994]

    GP Lạng Sơn
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 28-08-2009 lúc 08:34 AM

  76. Có 13 người cám ơn Damsan vì bài này:


  77. #16
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha GIUSE LÂM QUANG TRỌNG


    (1914 – 1986)

    Cha chính Giuse Lâm Quang Trọng sinh năm 1914 tại Tân Phường, một giáo xứ thuộc Giáo phận Bùi Chu.
    Lớn lên, chú bé Lâm quang Trọng tự nguyện dâng mình cho Chúa nơi Cha già cố Đaminh Phạm Quang Giản lúc đó đang coi xứ Giáo Lạc. Sau một cuộc thi khảo, chú Lâm Quang Trọng được nhận vào Tiểu chủng viện, Trong thời gian ở đó, Lâm Quang Trọng luôn luôn tỏ ra là một chủng sinh chuyên chăm, đạo đức, vui tươi, gương mẫu.
    Học hết Tiểu Chủng viện, thầy Lâm Quang Trọng được gia nhập Đại chủng viện thánh Albertô tại Nam Định, do các cha dòng Đa Minh giảng dạy. Tại đây, thầy học khá xuất sắc. Vì vậy sau ba năm học triết, thầy được Đức cha Hồ Ngọc Cẩn tuyển chọn cho đi du học tại Đại chủng viện Penang, Mã Lai, do các cha thừa sai người Pháp điều khiển. Nơi đây, thầy được chen vai sát cánh và làm quen với các đại chủng sinh từ khắp vùng Đông Nam Á tới thụ huấn. Cũng nơi đây, cái nhìn của thầy bắt đầu hướng về một chân trời mới xa hơn và rộng hơn.
    Sau bốn năm học thần học tại Đại chủng viện Penang, thầy Lâm Quang Trọng trở về Việt Nam. Lúc đó thầy lãnh chức phó tế. Một tương lai tươi sáng đang chờ đón thầy.
    Sáu tháng sau, ngày 20-12-1941, khi mọi chuẩn bị đã hoàn tất, thầy Lâm Quang Trong được thụ phong linh mục, do Đức cha Hồ Ngọc Cẩn truyền chức tại nhà thờ các Thánh Tử đạo tại Quần Phương.
    Sau khi lãnh nhận chức linh mục, cha Lâm Quang Trọng được Đức giám mục trao phó cho hai chức vụ quan trọng: làm giáo sư Đại chủng viện Quần Phương, và Tổng tuyên úy thanh niên địa phận.
    27 tuổi đời, với dáng người cao và nhanh nhẹn, với trí thông minh sắc sảo và nền học thức trổi vượt, cha Lâm Quang Trọng đã thi hành hai chức vụ đó một cách hoàn hảo. Nhiều người trong địa phận lúc đó nhìn về cha với lòng ngưỡng mộ.
    Tại Đại chủng viện Quần Phương, cha dạy môn Luân lý Thần học. Cha được các thầy đại chủng sinh rất tin tưởng và quí mến.
    Đến năm 1946, vì tình hình an ninh không được bảo đảm, ngài rời bỏ trường Thần học Quần Phương, để đến Hà Nội, và sống ở đó một cách âm thầm lặng lẽ.
    Trong những ngày sống lặng lẽ này, cha bắt đầu viết sách. Cuốn sách đầu tay của cha là cuốn: “Mẹ đầy ơn phúc” được xuất bản năm 1950. Sau đó, cha lần lượt cho ra đời những cuốn: “Cuộc đời Chúa Cứu Thế” (1954), “Ánh sáng Phúc Âm” (1955), “Tìm về Thượng Đế” (1956), “Vô thần hay hữu thần” (1956), “Tôn giáo với loài người” (1957), “Vườn hoa muôn sắc” (1975).
    Các sách do cha sáng tác có thể xếp thành hai lọai: tu đức và minh giáo. Lời văn của cha sáng sủa, sống động và điêu luyện; tư tưởng của cha rất mạch lạc; lập luận của cha rất vững chắc.
    Đến năm 1952, tình hình an ninh tại Bùi Chu trở nên tồi tệ. Đại chủng viện Bùi Chu được di chuyển lên Hà Nội. Cha Lâm Quang Trọng lại về Đại chủng viện giảng dạy.
    Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước. Đại chủng viện Bùi chu được di chuyển vào Sài Gòn. Cha Lâm Quang Trọng lại tiếp tục dạy Thần học Luân Lý tại Đại chủng viện Bùi Chu.
    Năm 1957 sức khỏe của cha sút kém. Cha rời Trường Thần học để đi nghỉ dưỡng bệnh.
    Sau 6 tháng nghỉ dưỡng sức, cha Lâm Quang Trọng được Đức Giám Mục Sài Gòn bổ nhiệm đi coi sóc họ đạo Xuân Lộc, một họ nhánh của giáo xứ Suối Tre với khoảng 500 giáo hữu. Họ đạo Xuân Lộc lúc đó nhỏ bé, tiêu điều, xơ xác, không có nhà xứ, nhà thờ thì nhỏ hẹp với cột gỗ. Hai bên hông nhà thờ đồng bào sống chen chúc, xô bồ, thường hay gây huyên náo và gây lộn cãi nhau ầm ĩ.
    Nhưng rồi với ý chí cương quyết và nhẫn nại, với lòng can trường hiếm có và tài xoay sở tháo vát, cha bắt đầu xây dựng giáo xứ.
    Việc đầu tiên của cha là tậu một ngôi nhà xứ, để lấy chỗ sinh hoạt và làm việc.
    Tiếp đó, cha đi tìm đất, lập cư xá Thánh Mẫu để di chuyển những gia đình sống bên hông nhà thờ tới nơi ở mới. Khi khu vực nhà thờ đã được giải tỏa, cha bắt đầu xây cất Trường tiểu học Thánh Gioan.
    Trong thời kì đó, tỉnh Long Khánh được thành lập. Đồng bào tuôn về sinh sống tại thị xã rất đông. Số giáo dân tăng lên mau chóng. Nhà thờ cũ trở nên quá chật hẹp. Cha dồn hết năng lực để xây nhà thờ mới. Sau ba năm xây cất, ngôi nhà thờ mới được hoàn thành, một ngôi nhà thờ rộng rãi, kiên cố, đồ sộ với ngọn tháp vút cao. Chính ngôi nhà thờ này là nơi qui tụ cho một giáo phận mới, giáo phận Xuân Lộc. Và nhà thờ này đã trở thành nhà thờ Chính tòa của giáo phận mới.
    Việc xây cất nhà thờ đã hoàn tất. cha lại nghĩ tới công cuộc xã hội. Cha xây cất cô nhi viện Bêlem và trao cho các nữ tu Na-gia-rét nhiệm vụ điều hành cô nhi viện mới.
    Để nâng cao văn hóa, cha Lâm Quang Trọng cũng đứng ra xây cất trường Trung học Hòa Bình, một cơ sở giáo dục đồ sộ, lớn lao vào bậc nhất tỉnh Long Khánh.
    Qua những công việc có tính cách tôn giáo, xã hội và văn hóa lớn lao như trên, uy tín của cha lên rất cao. Chính quyền đã trao tặng cha huy chương Mỹ Bội Tinh để tưởng thưởng cha. Đức giám mục giáo phận cũng đặt cha làm Cha Chính Địa Phận, đứng đầu các linh mục trong giáo phận.
    Khi mọi việc đang diễn tiến tốt đẹp, thì biến cố 1975 xảy đến. Tất cả đều thay đổi. Tự cảm thấy mình không còn đủ sức khỏe để thích nghi với hoàn cảnh mới, cha Chính Trọng lặng lẽ đi về thành phố để tĩnh dưỡng trong những ngày xế chiều. Tuy xa cách, nhưng lòng trí ngài vẫn luôn hướng về Xuân Lộc, nơi cha đã đổ ra biết bao mồ hôi nước mắt, đã đầu tư biết bao công sức, đã chịu đựng biết bao sóng gió, đã không ngừng phấn đấu để xây dựng và vun trồng.
    Nguyện vọng tha thiết nhất của cha là được sống, chết và an nghỉ tại Xuân Lộc. Tâm hồn cha mòn mỏi trong nỗi niềm thương nhớ Xuân Lộc. Sức khỏe cha yếu dần. Vào lúc 6 giờ chiều ngày 27 tháng 7 năm 1986, trái tim cha đã ngừng đập, hưởng thọ 72 tuổi. Cha ra đi trong nỗi niềm tiếc thương vô hạn của đoàn chiên. Thi hài cha đã được đưa về an táng tại Xuân Lộc đúng theo nguyện vọng của cha.
    Trong Thánh lễ an táng được tổ chức tại nhà thờ Chính Tòa Xuân Lộc, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Lãng, giám mục giáo phận đã công nhận Cha Chính Giuse Lâm Quang Trọng là một linh mục lỗi lạc. Ngài là đại ân nhân của giáo xứ Chính tòa Xuân Lộc, và đồng thời cũng là đại ân nhân của giáo phận Xuân Lộc vậy.
    GP Xuân Lộc

  78. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  79. #15
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Antôn PHÙNG QUANG MẠNH

    (PHÙNG SANH)

    (1922 – 2004)






    A. Từ một người ngoại đạo


    Cha Antôn Phùng Quang Mạnh chào đời ngày 12 tháng 9 năm 1922 trong một gia đình ngoại giáo tại thành phố Mỹ Tho. Cha của ngài là ông Phùng Hiệp, một bang trưởng Quảng Đông giàu có với nhiều hiệu buôn lớn và phố xá tại thành phố kỳ cựu này. Mẹ của ngài là bà Hà Thị Mai, một phụ nữ Nam Bộ hiền hậu. Cha của ngài quyết định sau này, khi lớn lên, ngài sẽ tiếp tục công việc kinh doanh rất phát đạt của ông. Nhưng ý Chúa lại định thể khác…


    B. Trở nên con cái Chúa
    Ngày 22-12-1928, cha Phêrô Nguyễn Văn Tiên, cha sở Mỹ Tho lúc bấy giờ, đã ban bí tích Thánh Tẩy cho toàn thể gia đình của ngài. Bắt đầu cuộc hành trình đức tin, Chúa gởi đến cho gia đình ngài biết bao thử thách gian truân: Ông Cố Phùng Hiệp bị bà con bên nội và bạn bè đồng hương chỉ trích dữ dội và quyết liệt tẩy chay vì họ cho rằng Ông Cố đã bỏ tổ tiên ông bà khi theo đạo Chúa; rồi cũng trong năm đó, Bà Cố lâm trọng bệnh và qua đời khi mới 32 tuổi; 4 năm sau, 1932, tất cả các hiệu buôn đều bị phá sản, phố xá bị tịch thu và trong lúc gia tài khánh kiệt, Ông Cố lại qua đời vào năm 1934. Thế là 7 anh chị em trở nên côi cút, bơ vơ, từ chỗ giàu sang rơi xuống cảnh bần cùng, thiếu thốn trăm bề, vô vàn khổ sở. Nhưng trong cảnh khốn cùng đó, Chúa đã gởi đến cho 7 trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ một người mẹ khác thật tuyệt vời: đó là dì Ba, em gái của Bà Cố Mađalêna. Chính dì Ba là người tận tình nuôi dưỡng và nghiêm khắc dạy dỗ các cháu của mình nên những người Kitô hữu tốt, giúp các cháu giữ vững niềm tin trong cơn thử thách, và cũng chính dì Ba đã vun trồng ơn gọi linh mục cho các cháu trai của mình, nhờ đó 3 trong số 4 cháu trai đã trở thành linh mục của Chúa, đó là cha Antôn Phùng Quang Mạnh (giáo phận Sài Gòn), cha Antôn Phùng Thành (giáo phận Phú Cường), cha Giuse Phùng Cảnh (giáo phận Đà Lạt).

    C. Trở thành linh mục của Chúa
    Cha Antôn Mạnh chịu chức linh mục ngày 21-9-1947 tại nhà thờ Chính toà Sài Gòn cùng với 6 anh em khác, trong số đó có Đức Cố Tổng Giám mục Philípphê Nguyễn Kim Điền. Hành trình phục vụ của ngài kéo dài 57 năm: từ nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê (nhà thờ Cha Tam) ở Chợ Lớn, đến nhà thờ Bình Đại ở miền Duyên Hải tỉnh Bến Tre, hoặc lên Vườn Xoài hay qua Gia Định, ngài luôn để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng giáo dân, cách riêng ở Gia Định, nơi ngài đã gắn bó suốt 43 năm, từ ngày 24-6-1961 cho đến khi ngài được Chúa gọi về vào sáng sớm ngày 16-1-2004. Mọi người đều nhận thấy nơi ngài:
    1. Một cha sở đặc biệt có tinh thần Giáo Hội: Ngài luôn đặt lợi ích Giáo Hội lên trên lợi ích cá nhân, rất có lòng chung với công việc của giáo phận: từ việc xây dựng Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục ở Chí Hoà cho đến công trình xây dựng Nhà Khách và Văn Phòng Toà Tổng Giám Mục. Mỗi khi Toà Tổng Giám Mục có việc cần nhờ, ngài nhanh chóng điều động giáo dân đến giúp đỡ, chẳng hạn như cuộc đón tiếp Đức Hồng Y Etchegaray (năm 1989), lễ an táng Đức Cố Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình (5-7-1995), việc rước Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn về nhận giáo phận ngày 2-4-1998; ngoài ra, Chủng Viện là nơi được ngài quan tâm giúp đỡ nhiều nhất.
    2. Một cha sở thật lòng yêu thương anh em linh mục, cách riêng các cha phó của mình: Trong 43 năm làm cha sở Gia Định, cha Antôn có rất nhiều cha phó. Có những cha làm phó cho ngài trên 20 năm, như cha Giuse Nguyễn Hữu Triết (1972-1993), cha Inhaxiô Hồ Văn Xuân (1975-2004). Ngài luôn nâng đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để các cha phó phát huy tài năng. Ngài cũng hết lòng quý mến anh em linh mục cũng như tu sĩ, sẵn sàng giúp đỡ các anh em linh mục nghèo khổ ở các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, thậm chí có lần ngài đã vét hết tiền riêng của ngài để chuộc mạng cho một anh em linh mục. Ngài luôn cảm thông và chia sẻ mọi buồn phiền với những anh em linh mục đang gặp đau khổ. Vì thế, nhiều linh mục đã xem ngài như một người cha thiêng liêng hoặc một người anh tinh thần …
    3. Một cha sở hết lòng yêu thương giáo dân: Đối với những ai nghèo khổ bất hạnh, ngài âm thầm giúp đỡ và tìm dịp thăm viếng ủi an; mở phòng khám bệnh và phát thuốc miễn phí vào mỗi chiều Chúa nhật cho hàng trăm bệnh nhân nghèo túng; mở trường Trung Tiểu học Thánh Mẫu để nâng cao trình độ văn hoá của giáo dân; mở trường giúp các trẻ em chậm phát triển tâm thần hội nhập với cuộc sống bình thường; đối với nạn nhân chiến tranh, ngài tạo cho họ công ăn việc làm …
    4. Một cha sở đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng ngôi nhà đức tin cho cộng đoàn Dân Chúa qua các lớp Thần học giáo dân, các lớp Thánh Kinh chuyên biệt, các cuộc cử hành bí tích sốt sắng, cách riêng cổ võ việc hát cộng đồng trong thánh lễ giúp thánh lễ trở nên sống động hơn.
    5. Một cha sở sống giản dị, khó nghèo: Tất cả những gì ngài có là dành để phát triển và mở mang họ Gia Định, xây dựng 3 Nhà Nguyện cho 3 họ lẻ: Thánh Giuse 1964, Thánh Mẫu (Đồng Ông Cộ) 1970 và Đức Mẹ Lên Trời (Trần Kế Xương) 1973; trong khi bản thân ngài sống rất giản dị, nghèo khó. Ba ngày trước khi qua đời, lúc đang hấp hối trên giường bệnh, ngài vẫn quan tâm đến việc sửa chữa nhà thờ Gia Định. Rồi khi chết, ngài trối lại tất cả tiền bạc của cải cho họ Gia Định, chỉ xin trả lại cho gia đình ngài pho tượng Đức Mẹ mà Ông Bà Cố của ngài đã chuộc khi mới trở lại đạo vào năm 1928, và ngài đã mang pho tượng quý báu này theo ngài suốt 57 năm cuộc đời linh mục …
    TGP Sài Gòn
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 14-08-2009 lúc 02:13 PM

  80. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  81. #14
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,696 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Kiều
    (1903-1971)


    1903: Sinh tại xứ Quan Lãng, giáo phận Vinh, thuộc tỉnh Nghệ An
    1916: Vào tiểu chủng viện Xã Đoài, giáo phận Vinh
    1924: Thầy giảng giúp xứ Đồng Tháp, Thành Trài và Thanh Bích
    1930: Học trường lý đoán (đại chủng viện) Xã Đoài
    21/12/1935: Thụ phong linh mục tại Xã Đoài
    1936: Phó xứ Thọ Hoàng, giáo phận Vinh
    1937: Chánh xứ Yên Phúc, giáo phận Vinh
    1941: Chánh xứ Bột Đà, giáo phận Vinh
    1942: Chánh xứ Làng Truông, giáo phận Vinh
    1952: Quản hạt Ngàn Sâu, giáo phận Vinh
    1955: Di cư vào miền Nam
    1955: Chánh xứ Vinh Hà, Bình Giã, nay thuộc giáo phận Bà Rịa
    1955-1971: Chánh Xứ Vinh Hà – Bình Giã
    28/4/1971: Qua đời tại bệnh viện Sùng Chính, Sài Gòn
    02/5/1971: An táng tại khuôn viên thánh đường xứ Vinh Hà, Bình Giã, nay thuộc giáo phận Bà Rịa.

    Trong Năm Linh mục, Hội đồng Giám mục Việt Nam gợi ý cho chúng ta đi tìm những mẫu gương sống cho đời linh mục, không phải từ những vị thánh chói ngời nhân đức, nhưng từ những mục tử giản đơn, bình dị, đã từng hiện diện giữa đoàn chiên nơi các giáo phận. Nhìn vào cách sống của những người đi trước, chúng ta không đòi hỏi một mẫu hình tuyệt hảo trong mọi lãnh vực, nhưng chỉ mong bắt gặp những đường nét khắc họa lại khuôn mặt của Vị Mục Tử nhân lành, những điển hình minh họa cho nếp sống của đời tận hiến vì Nước Trời.

    Từ cuộc đời cha Phêrô Nguyễn Văn Kiều, một trong những vị tiền bối của linh mục đoàn giáo phận Bà Rịa, chúng ta xin được ngắm nhìn mẫu gương của người môn đệ thân tín đồng thời cũng là một mục tử đầy yêu thương.

    “Ở lại trong tình yêu của Thầy”

    Hình ảnh cha xứ lặng lẽ cầu nguyện trong nhà thờ ngoài những giờ phụng vụ hằng ngày, đã là một ấn tượng khó phai nơi những người ở bên cạnh cha Phêrô. Khi kể về nếp sống thường ngày của cha, người dân Vinh Hà luôn phải sử dụng điệp khúc “cha lại ra nhà thờ…” Những giờ kinh Nhật tụng, những tràng kinh Mân côi kính Đức Mẹ, những giây phút cầu nguyện riêng, và cả đến việc đọc sách thiêng liêng, cha đều thực hiện trước Thánh Thể. Ngôi Nhà Chầu đã như là điểm hẹn thân quen, nơi mà cả sáng trưa chiều, mỗi khi có được thời gian, cha lại tìm đến. Nếu nhà xứ là nơi cha tiêu hao chính bản thân mình khi phục vụ đoàn chiên, thì nhà thờ là nơi cha tìm lại sức mạnh thiêng liêng từ Thánh Tâm của Đấng Mục Tử nhân lành. Chắc hẳn lòng yêu mến Thánh Thể đã làm nền cho các nhân đức cũng như nếp sống thanh tịnh, vâng phục và khó nghèo rất nổi bật nơi cha Phêrô. Đó còn là động lực cho các thực hành đạo đức cá nhân như hy sinh hãm mình, kể cả ăn chay đánh tội, cùng với thái độ cung kính và sốt sắng khi chầu Thánh Thể, nhất là khi cử hành Thánh lễ, đến độ cha đã nhiều lần bật khóc khi đọc lời Truyền phép.

    Lòng mến Chúa của cha Phêrô còn như được củng cố nhờ vào tâm tình yêu kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Với tràng chuỗi luôn mang trong người, cha thầm thĩ những lời kinh Mân côi gần như liên lỉ suốt ngày để dâng kính Mẹ.

    Nếu những tâm tình và cách thể hiện lòng đạo đức chỉ là cá biệt của riêng cha Phêrô, thì lòng yêu mến Thánh Thể của người đi trước vẫn có thể trở thành mẫu gương cho chúng ta hôm nay. Chắc chắn ai cũng thâm tín về sức mạnh của tình yêu Thánh Thể, ai cũng muốn đáp trả tiếng gọi của tình yêu Thánh Tâm, nhưng việc thường xuyên đến cầu nguyện trước Nhà Chầu ngoài những giờ phụng vụ phải chăng đã không còn là thực hành, có khi cả không là ý định, nơi nhiều linh mục của thế hệ chúng ta? Việc viếng Thánh Thể phải chăng đã lâu lắm rồi, thậm chí là chưa bao giờ, được đặt vào trong thời khóa biểu hằng ngày? Không vào nhà thờ sớm, dù chỉ năm mười phút trước giờ dâng lễ, rời phòng áo ngay khi vừa thay xong lễ phục. Thời gian có mặt tại nhà thờ chỉ vỏn vẹn vừa đủ cho việc cử hành các bí tích, phải chăng đã đủ để thể hiện lòng yêu mến?

    Nhìn vào gương cha Phêrô, chúng ta chỉ mong có thêm những giây phút cầu nguyện trước Thánh Thể, tạo lại những gặp gỡ thân tình, dù biết rằng đây chỉ là một thể hiện bên ngoài, để có thể cảm nghiệm được tâm tình của người môn đệ muốn “ở lại trong tình yêu của Thầy”, để cầu nguyện cho mình và cho đoàn chiên, đồng thời để kín múc nguồn sức cho đời tông đồ.

    “Như Thầy yêu thương”

    Nếu phải kể về cha Phêrô, những giáo dân trong các xứ mà cha đã coi sóc sẽ nhắc ngay đến cách cha yêu thương mọi người. Cuộc đời cha qua đi, nhưng vẫn còn lưu lại mãi những ký ức về một cha xứ hiền lành, ân cần, tận tụy và nhiệt thành chăm sóc đoàn chiên. Cha tận tâm phục vụ những người chung quanh cả phần hồn lẫn phần xác.

    Đối với mọi người, lòng yêu thương được thể hiện ngay trong cách cha vui vẻ tiếp đón những ai đến xin cha giúp đỡ, dù là để xin thuốc chữa bệnh hay để xin xưng tội, xức dầu bệnh nhân. Cha tìm đủ cách để giúp đỡ những người túng nghèo hoặc đau bệnh, từ việc phát thuốc miễn phí, đến việc đích thân băng rửa vết thương ghẻ lở, từ việc gửi tiền hoặc quà bánh, đến việc đi tới tận nhà thăm viếng, ủi an. Cha chân thành thương mến mọi người, không phân biệt lương giáo, già trẻ, giàu nghèo. Ngay cả sau khi cha đã qua đời, cho đến hôm nay, hằng ngày vẫn có nhiều người tìm đến cha, với ước mong gặp được niềm an ủi, hoặc xin cha bầu cử cho trước Nhan Chúa, ngày giỗ cha hằng năm (28/4), nhiều người đến thánh đường xứ Vinh Hà tham dự thánh lễ và viếng mộ phần của cha để tỏ lòng yêu mến và tri ân.

    Đối với đoàn chiên xứ đạo, tấm lòng mục tử của cha Phêrô Nguyễn Văn Kiếu đã biến cha nên người phục vụ không biết mệt mỏi. Có thể nói, cha không còn nghĩ đến bản thân khi phải lo cho các linh hồn. Đặc biệt trong việc trao ban bí tích hoà giải, cha Phêrô không hề giới hạn giờ giấc, thậm chí có lần cha đang dùng bữa, có người đến xin xưng tội, cha lập tức bỏ ngang bữa cơm, mặc áo dòng đi ra nhà thờ giải tội, sau đó mới trở vào ăn tiếp. Vào các dịp lễ trọng, bởi thương giáo dân hơn cả bản thân, cha dành lấy phần mệt về mình để nhiều người đỡ mệt, nên cha sẵn sàng đạp xe đến tận các nhà nguyện giáo họ để giải tội. Theo cha, “giải tội cho kẻ có tội là nhiệm vụ hàng đầu của linh mục. Cần đem tình thương cho họ đi tìm Chúa để được bình an trong tâm hồn, nên mình phải hy sinh giấc ngủ, giờ ăn hoặc các công việc phần xác khác”.

    Dĩ nhiên, cách hành xử của cha Phêrô có thể phần nào quá đặc biệt, nếu không nói là quá đáng, nhưng chính sự “quá đáng” này của đức ái mục tử lại trở nên lời chất vấn cho chúng ta bây giờ. Nếu những mục tử như lòng Chúa mong muốn, hôm qua cũng như hôm nay, không chỉ dẫn chiên đi bằng đôi tay và khối óc, mà còn phải bằng cả trái tim của mình, thì có đúng chăng khi chúng ta đặt giới hạn cho đức ái, và sợ những “quá đáng” của tình yêu ? Có đúng chăng khi chúng ta đặt ưu tiên cho thời giờ và sức khoẻ bản thân, chỉ làm việc trong những giờ “hành chánh”, để rồi chưa dám như Chúa “yêu thương những kẻ thuộc về mình, và yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1)?

    Đi tìm một mẫu gương, có lẽ chúng ta không muốn chỉ thấy được trong đó bóng hình của người đã đi trước, nhưng đúng hơn, chúng ta muốn nhận ra chính mình trong hiện tại. Một thoáng nhìn vào cuộc đời cha Phêrô, thật ra chỉ là để có cơ hội nhìn kỹ hơn vào chính mình, và cuối cùng, dù có nhìn vào ai, mắt chúng ta chắc chắn sẽ không bao giờ rời khỏi Đức Kitô Mục Tử, mẫu hình tuyệt hảo và ngàn đời sống động cho những kẻ Người đã gọi làm môn đệ và đã chọn làm tông đồ.
    GP Bà Rịa
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-07-2009 lúc 09:18 AM


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 1/2 12 cuốicuối

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com