Hôm nay cũng là một trong những ngày lễ đáng yêu nhất của lịch Phụng vụ Giáo hội. Đó là ngày chúng ta đặc biệt tưởng nhớ đến hết mọi tín hữu đã qua đời – những người đã chuyển từ đời tạm này sang đời sống mai hậu. Chúng ta không biết được chính xác mỗi linh hồn phải trải qua thời gian thanh luyện bao lâu. Tuy nhiên, chúng ta biết chắc một điều : luyện ngục là nơi có thật! Hôm nay chúng ta dừng lại ít phút để tưởng nhớ đến tất cả những tín hữu đã qua đời. Chúng ta đặc biệt cầu nguyện cho các bậc tổ tiên của chúng ta, những người thân quen và các bạn hữu đã qua đời. Chúng ta cầu cho những người đã có công dạy dỗ chúng ta những điều tốt đẹp. Chúng ta cầu cho những người đã hy sinh cho chúng ta khi họ còn sống. Chúng ta cầu cho những linh hồn mồ côi, cho những người lúc ở đời tạm này đã giữ những chức vụ quan trọng. Chúng ta tưởng nhớ đến những linh hồn thánh thiện trong luyện ngục và chúng ta nhận biết rằng các vị sẽ được cứu thoát. Giờ đây các vị đang chờ đợi, đang chịu thanh tẩy cho tới khi được ở bên Thiên Chúa, diện đối diện.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những linh hồn trong luyện ngục và hãy rút ngắn hành trình đến với Thiên Chúa của các ngài. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời, và xin ban ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Xin cho họ được an nghỉ trong bình an. Amen
Ngày này, chúng ta kính nhớ tất cả những người nam, người nữ và các trẻ nhỏ, những người đã theo sát Chúa Kitô cách trung thành và anh dũng trong suốt cuộc sống mình và đang được hưởng kiến Người trên thiên đàng. Một số vị thánh có ngày kính riêng. Giáo hội biểu dương gương chứng nhân của các ngài về đời sống anh dũng, tươi vui vì Chúa Giêsu. Nhưng không đủ các ngày trong năm để kính nhớ vô số các thánh đã sống làm chứng ta cho Chúa trong cuộc đời tạm này. Có những vị thánh đã sống thân mật với Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời mình. Những vị khác chỉ gặp thấy Người trên hành trình sống. Một số vị đã sống cuộc đời rất tốt lành mà chẳng phải khó khăn gì. Số khác đã phạm những lỗi lầm nghiêm trọng, nhưng đã gặp thấy Chúa Giêsu trên bước đường ăn năn và sám hối chân thành. Các thánh đã sống như thế! Và chúng ta xin các ngài cầu bầu cùng Chúa cho tất cả chúng ta để chúng ta cũng sống cuộc đời thánh thiện và đạt tới Nước Trời là quê hương vĩnh cửu. Chúng ta biểu dương hành trình sống đã đưa các ngài đạt tới hạnh phúc viên mãn bên Thiên Chúa. Chúng ta cũng mừng kính những thành viên trong chính gia đình của mình, những người thân quen, hàng xóm và bạn bè, những người mà chúng ta tin rằng giờ đây đang hưởng kiến tôn nhan Thiên Chúa trên Nước Trời.
Chúng ta hãy hoan hỉ cùng với chư thánh trên Thiên quốc. Chúng ta hãy thưa chuyện với các ngài, cảm ơn các ngài về tấm gương chứng nhân các ngài đã sống. Chúng ta cũng hãy cảm ơn các ngài vì đã giúp đỡ chúng ta vượt qua bao khó khăn và cám dỗ. Hãy nài xin các ngài phù trợ chúng ta trên mỗi hành trình sống của mình.
Vị thánh người Tây Ban Nha này sinh năm 1532. Lên 15 tuổi, Alphongso Rodrigue được gia đình gửi tới học tại Alcala. Khi thân phụ qua đời, Alphongso phải nghỉ học để giúp thân mẫu trông coi tiệm len của gia đình. Ba năm sau, Alphongso lập gia đình. Ngài và cô vợ Maria sinh được hai người con, một trai và một gái. Thế nhưng, giờ phút đau khổ bất chợt xảy tới cho Alphongso. Công việc kinh doanh của ngài thất bại, thân mẫu và người vợ trở nên ốm nặng, và chỉ trong một thời gian ngắn, vợ con cùng cả thân mẫu của Alphongso lần lượt qua đời. Alphongso bắt đầu suy nghĩ về điều Thiên Chúa đã chuẩn bị sẵn cho mình. Ngài luôn là một Kitô hữu ngoan đạo. Nhưng từ lúc đó trở đi, Alphongso Rodrigue cầu nguyện, hãm mình và siêng năng lãnh nhận các Bí tích hơn trước. Alphongso xin gia nhập dòng Tên. Tuy nhiên, bề trên nói rằng ngài phải học trước đã. Vì vậy, Alphongso đã đi học lại. Tại trường, các trẻ nhỏ đã chọc ghẹo ngài. Rồi Alphongso phải đi xin thức ăn, vì ngài đã bố thí cho người nghèo hết thảy tiền bạc. Sau cùng, Alphongso cũng được nhận vào dòng như một thầy trợ sĩ và được trao cho công tác giữ cửa tại một trường đại học của dòng Tên tại Majorca. “Thầy đó không phải là một người bình thường – mà là một thiên thần!” – Bề trên của Alphongso Rodrigue đã nói về ngài nhiều năm sau đó. Các linh mục quen biết Alphongso suốt 40 năm cũng chưa bao giờ nghe ngài nói hay làm điều gì sai trái. Lòng tốt và sự tuân phục của Alphongso ai ai cũng biết. Một lần kia, hết mọi chiếc ghế trong nhà, ngay cả những chiếc trong phòng ngủ, đều được mượn dùng vào việc Chầu Thánh Thể Bốn Mươi Giờ. Rồi do sự nhầm lẫn cách nào đó, chiếc ghế của thầy Alphongso không được trả lại cho mãi tới năm sau. Tuy vậy, thánh Alphongso Rodrigue đã chẳng bao giờ đề cập chuyện này cho bất cứ ai. Alphongso Rodrigue sung sướng chịu thiếu thốn cả đến chiếc ghế cần dùng! Nhiều người đã đến với Alphongso Rodrigue để xin lời khuyên bảo. Thánh nhân đã truyền cảm hứng cho một tu sĩ dòng Tên trẻ tuổi là Phêrô Claver để tu sĩ này sẵn sàng hy sinh sang tận bên châu Mỹ Latinh truyền giáo, (lễ kính thánh Phêrô Claver ngày 09/09). Trong cuộc sống lâu dài tại thế, thánh Alphongso Rodrigue đã phải khắc phục những cám dỗ nặng nề. Ngoài ra, thánh nhân cũng phải chịu cả những đau khổ thể lý. Khi hấp hối, Alphongso Rodrigue đã trải qua nửa giờ đau đớn kinh khủng. Sau đó, ngay trước lúc nhắm mắt, thánh nhân mới được tràn ngập niềm vui và an bình. Alphongso hôn kính Thánh Giá và đưa mắt nhìn các anh em đồng tu cách âu yếm. Và, thánh nhân về trời năm 1617 đang lúc miệng còn kêu Danh Thánh Giêsu.
Thánh Alphongso Rodrigue dạy chúng ta nhiều bài học qua đời sống của ngài. Một bài học rất quan trọng là cách thức Alphongso Rodrigue chấp nhận hết mọi biến cố trong cuộc sống từ bàn tay yêu thương của Thiên Chúa. Thánh nhân không bao giờ đánh mất niềm hy vọng vào Người. Chúng ta hãy nài xin thánh Alphongso Rodrigue dạy chúng ta biết cách sống tín thác như ngài.
Vị chân phước này sinh năm 1669 tại miền Acri, nước Ý. Lúc còn nhỏ, Angelô đã quyết tâm tận hiến cuộc đời của mình cho Thiên Chúa trong bậc sống tu trì. Nhưng thoạt đầu Angelo Acri đã gặp một số trở ngại. Angelô cố gắng xin gia nhập dòng Capuxinô nhưng bị từ chối. Chắc rằng mình có ơn kêu gọi, Angelô lại tới xin lần thứ hai và lại bị khước từ. Angelô Acri không phải là một người dễ dàng bỏ cuộc, ngài đặt niềm tin nơi Thiên Chúa và lại đến dòng Capuxinô để xin nhập tu. Cuối cùng, Angelô Acri được nhận và trở thành tu sĩ Capuxinô lúc 21 tuổi. Dường như đây chính là khuôn mẫu cho cuộc đời của Angelô Acri. Sau khi được thụ phong linh mục, Angelô Acri bắt đầu rao giảng nhưng kết quả chỉ được chút ít hoặc chẳng thành công gì. Hình như Angelô Acri không có ơn gọi thuyết giảng! Thế nhưng một lần nữa, ngài lại đặt tin tưởng vào Chúa chứ không vào mình. Angelô Acri cứ cố gắng. Sau khoảng 10 năm, Angelô được gửi đến Napoli giảng thuyết trong suốt Mùa Chay năm 1711. Và lần đầu tiên, bài giảng của Angelô Acri mang lại thành quả tốt đẹp! Nhiều người đã tới nghe Angelô Acri và bị xúc động mạnh bởi lời giảng của ngài. Phần còn lại của cuộc đời, Angelô Acri tận hiến mình phục vụ cho việc rao giảng tại Calabria và Napoli. Từng đám đông người tới nghe Angelô và hàng ngàn người đã bị thôi thúc phải thay đổi lối sống vì lời giảng giải của ngài. Thiên Chúa không những đã ban cho Angelô Acri ơn thuyết giảng tốt mà còn ban cho ngài nhiều ơn siêu nhiên, kể cả ơn chữa bệnh và nói tiên tri. Vì điều này, nhiều người từ rất xa đã đến nghe Angelô thuyết giảng và xưng thú tội lỗi với ngài. Cha Angelô Acri có thể đọc được tâm hồn của họ và trao cho họ những lời khuyên thật bổ ích. Chân phước Angelô Acri qua đời tại nhà dòng Capuxinô ở Acri, thọ 70 tuổi. Ngài được tôn phong lên bậc chân phước năm 1825.
Đôi lúc chúng ta chịu chấp nhận bỏ cuộc chỉ sau có mỗi một lần cố gắng! Chân phước Angelô Acri có thể giúp chúng ta tránh được sự nản lòng thất vọng. Nếu cầu nguyện với ngài, chúng ta có thể nhận được ơn biết tin tưởng hơn vào Thiên Chúa và bớt tin tưởng vào chính mình. Việc kết hợp giữa lòng tin và khiêm tốn sẽ giúp chúng ta đạt được thành công.
Thánh Narcisso sống vào thế kỷ thứ II và nửa đầu thế kỷ thứ III. Khi được đặt làm giám mục thành Giêrusalem, thánh nhân đã cao tuổi. Narcisso là một giám mục tuyệt vời. Mọi người đều ngưỡng mộ những đức tính quý báu của ngài, chỉ trừ những người chọn lối sống tội lỗi! Có ba kẻ thù của thánh Narcisso đã cáo buộc ngài một tội ác kinh khủng. Người thứ nhất nói : “Tôi sẽ bị ngọn lửa thiêu đốt nếu như Narcisso không phạm tội ấy!” Người thứ hai nói : “Tôi sẽ bị phong hủi nếu Narcisso không phạm tội đó!” Và người thứ ba tiếp lời : “Tôi sẽ bị mù ngay lập tức nếu như Narcisso không phạm tội đó!” Tuy vậy, chẳng có ai tin lời vu không của họ cả! Dân thành Giêrusalem đã chứng kiến đời sống tốt lành của Narcisso. Họ biết thánh nhân là loại người như thế nào! Dù không ai tin vào câu chuyện xấu xa đó, nhưng Narcisso cảm thấy đây là lý do tốt nhất để ngài lui vào sống luôn trong sa mạc. Narcisso đặt trọn niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã suốt đời yêu mến và phụng sự. Sau nhiều năm, Narcisso trở về làm giám mục Giêrusalem trong niềm vui khôn tả của dân thành. Mặc dù trông có vẻ già hơn, nhưng dường như Narcisso lại nhiệt thành hơn bao giờ hết. Thực ra, trong suốt một vài năm, ngài dường như rất khỏe mạnh. Rồi Narcisso trở nên yếu dần, không thể một mình cáng đáng được công việc. Và thánh nhân đã xin Alexandre thành Capadosia, một vị thánh danh tiếng khác, đến trợ giúp ngài. Với lòng yêu mến và nhiệt tâm lớn lao, cả hai đã cùng nhau cai quản giáo phận. Narcisso sống thọ hơn 116 tuổi. Thánh nhân về trời năm 215.
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai tin cậy vào Người. Chúng ta thì thường hay lo lắng về những điều người ta nói về chúng ta. Đó là lúc chúng ta hãy cầu xin thánh Narcisso dạy chúng ta bí quyết sống bình an của ngài.
Chân phước Contardo Ferrini sinh năm 1859 tại thành Milan, nước Ý. Thân phụ ngài là một giáo viên dạy môn toán và vật lý, và ông đã truyền lại cho cậu con trai bé nhỏ của ông niềm say mê học tập. Từ thuở bé, Contardo đã có thể nói được nhiều ngoại ngữ, không kể tiếng Ý. Contardo học rất giỏi kể cả khi lên đại học. Niềm đam mê học hành và yêu mến đức tin Công giáo đã khiến các bạn bè của Contardo đặt cho ngài biệt danh là “thánh Luy Gongaza”, (thánh Luy Gongaza là một vị thánh trẻ thuộc dòng Tên rất nổi tiếng về đời sống nhân hậu và quảng đại). Chính Contardo Ferrini là người khởi xướng các câu lạc bộ dành cho các sinh viên đại học nhằm giúp các sinh viên trở nên những Kitô hữu tốt lành. Khi lên 21 tuổi, Contardo Ferrini có cơ hội tiếp tục nghiên cứu ngành luật học tại trường đại học Berlin ở Đức. Đối với Contardo Ferrini, việc rời bỏ quê nhà ở Ý là một chuyện rất khó, nhưng ngài cũng sung sướng vì được gặp gỡ những Kitô hữu đạo hạnh đến học tại nơi đây. Contardo Ferrini viết lại trong một cuốn sách nhỏ những cảm nhận ban đầu khi lãnh nhận Bí tích Hòa Giải nơi xứ lạ quê người. Bí tích này giúp cho Contardo Ferrini hồi hộp nhận ra rằng Giáo hội Công giáo thực sự là duy nhất dù ở bất cứ nơi đâu trên mặt địa cầu. Contardo Ferrini quyết định chỉ sống cho một mình Thiên Chúa. Dù lắm lúc bận rộn vì là một giáo sư luật học danh tiếng, Contardo Ferrini cũng rất tích cực giúp đỡ những người nghèo khó, và ngài cũng hết sức cẩn thận chăm giữ đời sống thiêng liêng của mình. Contardo Ferrini là thành viên của hội dòng Ba Phanxicô, và ngài cũng tham gia với tu hội của thánh VinhSơn Phaolô nữa. Đang khi thưởng ngoạn với môn thể thao ưa chuộng là leo núi, Contardo cũng tưởng nghĩ về Thiên Chúa, về Đấng Sáng Tạo của tất cả vẻ đẹp ngài đang ngắm nhìn. Rồi người ta bắt đầu nhận ra rằng có một điều gì đó khác lạ về giáo sư Ferrini. Lần kia, khi chứng kiến nụ cười thân thiện bình thường của Ferrini thì một người đã kêu lên : “Thật, ông này là một vị thánh!” Contardo Ferrini qua đời ngày 17/10/1902 vì chứng bệnh thương hàn, lúc mới được 43 tuổi. Đến năm 1947, Contardo Ferrini được Đức Thánh cha Piô XII tôn phong lên bậc chân phước.
Đời sống của Giáo hội thật quan trọng vì mỗi thành viên chỉ cần làm trọn phần việc của mình là có thể vào được Nước Trời. Đây không chỉ là công việc của riêng các linh mục và tu sĩ. Chân phước Contardo Ferrini có thể thôi thúc chúng ta nhận lấy vị trí của mình trong Giáo hội và làm trọn tất cả những gì Thiên Chúa mời gọi chúng ta thực hiện.
Cuộc nội chiến của người dân Tây Ban Nha nổ ra hồi năm 1936. Nó được mô tả như một cuộc chiến giữa những người vô thần và những người tin vào Thiên Chúa. Đối tượng đặc biệt của cuộc bách hại là Giáo hội Công giáo. Trong suốt 3 năm, đã có 12 giám mục, 4184 linh mục, 2365 tu sĩ và 300 nữ tu đã anh dũng hy sinh vì đức tin. Ngày hôm nay, là lễ kính 11 trong số những vị tử đạo ấy : 2 giám mục, 1 linh mục triều, 7 anh em dạy tại các trường Công giáo và 1 nữ giáo dân trẻ tuổi. Các giám mục thuộc giáo phận Almeria và Gandix, Tây Ban Nha. Bảy anh em của những trường Công giáo là những giảng viên dạy tại đại học thánh Giuse ở Almeria. Cha Phêrô Castroverde là một học giả danh tiếng và là người sáng lập hiệp hội Têrêsa. Victoria Diez Molina là thành viên của hiệp hội này. Ngài đã tìm thấy kho tàng thiêng liêng theo cách thức cầu nguyện của nhóm này và trong đời Kitô hữu của mình. Victoria là nữ giáo viên dạy học tại một trường thôn quê và là một Kitô hữu hoạt động rất tích cực trong xứ đạo. Tất cả 11 vị tử đạo đã chấp nhận thà hy sinh mạng sống mình vì Chúa Giêsu hơn là chối bỏ đức tin Công giáo. Thầy Aurelio Maria, giám đốc trường đại học thánh Giuse, nói : “Còn hạnh phúc nào hơn khi chúng ta được đổ máu đào vì lý tưởng cao quý của nền giáo dục Kitô giáo. Chúng ta hãy nhân đôi lòng nhiệt thành của mình để trở nên xứng đáng với vinh dự ấy!” Giám mục Medina thuộc giáo phận Gandix nói : “Chúng tôi chẳng làm gì để đáng phải chết cả. Nhưng tôi tha thứ cho các anh để Chúa Giêsu cũng sẽ tha thứ cho chúng tôi. Chớ gì máu của chúng tôi bị đổ ra lần này là lần cuối trên mảnh đất Almeria thân yêu này!” Giám mục Ventaja cai quản giáo phận Almeria có nhiều cơ hội để rời khỏi quê hương, nhưng ngài đã chọn ở lại với đàn chiên, với Giáo hội đau khổ của ngài. Cha Castroverde, sáng lập hiệp hội Têrêsa, viết trong nhật ký : “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con suy nghĩ điều Chúa muốn con nghĩ. Xin cho con ao ước điều Chúa muốn con ước ao. Xin cho con nói năng như Ngài muốn con nói. Xin cho con làm việc như Ngài muốn con làm việc.” Cha đã tử vì đạo ngày 28/07/1936. Victoria Molina bị giam tù ngày 11/08/1936. Ngài và 17 người khác bị đưa tới một hầm mỏ hoang và bị bỏ chết đói. Victoria an ủi những đồng bạn của ngài : “Nào, phần thưởng của chúng ta đang chờ đợi chúng ta!” Những lời cuối cùng của Victoria Molina là : “Vạn vạn tuế Vua Giêsu!” Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong các vị tử đạo này lên bậc chân phước ngày 10/10/1993.
Chúng ta hãy nài xin 11 vị anh hùng tử đạo này dạy chúng ta biết sống can đảm. Chúng ta có thể chọn lời cầu nguyện của chân phước Phêrô Castroverde làm lời cầu nguyện riêng của mình : “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con suy nghĩ điều Chúa muốn con nghĩ. Xin cho con ao ước điều Chúa muốn con ước ao. Xin cho con nói năng như Ngài muốn con nói. Xin cho con làm việc như Ngài muốn con làm việc. Amen”
Thánh Richard là người xứ Wales, sống vào thế kỷ thứ XVI. Richard được nuôi dạy bên Giáo hội Anh giáo và ngài học tại hai trường đại học Oxford và đại học thánh Gioan ở Cambridge. Sau khi hoàn tất việc học, Richard trở lại Wales và mở trường dạy học. Richard kết hôn và sinh được 6 người con. Lúc này Richard đã trở lại với đức tin Công giáo. Hồi ấy nữ hoàng Elisabeth I nước Anh cai trị xứ Wales. Nhiều người ở Wales là tín hữu Công giáo, nhưng nữ hoàng đã ra những đạo luật khắt khe nhằm làm cho Anh giáo trở nên tôn giáo duy nhất trong vương quốc của bà. Các linh mục Công giáo và các tín hữu trung thành với Đức Thánh cha đều bị bắt giam tù. Họ thường bị tra tấn và sát hại. Một ít lâu sau, Richard cũng trở thành người bị săn đuổi. Richard đào ngũ một lần và năm sau lại bị bắt giam. “Anh sẽ được tự do,” – người ta nói với Richard – “nếu anh chịu bỏ đức tin Công giáo.” Richard hoàn toàn từ chối. Rồi ngài bị áp giải tới một nhà thờ Anh giáo. Richard bực mình với bài giảng của vị giảng thuyết và ngài đã khua xiềng xích loảng xoảng để phản đối. Tức giận, các quan chức liền tống giam Richard vào kho lẫm suốt 8 giờ đồng hồ. Nhiều người đã đến nhạo cười và lăng nhục ngài. Thời gian tù đày và các cuộc tra tấn thay nhau diễn ra sau đó. Các tay sai của nữ hoàng muốn Richard cho họ biết danh sách những tín hữu Công giáo, nhưng thánh nhân không tiết lộ điều gì. Tại phiên tòa xử ngài, có nhiều kẻ bị mua chuộc đã vu oan cho Richard, như một người trong bọn họ đã thừa nhận sau này. Các thành viên trong ban hội thẩm quá bất lương đến nỗi họ đã xin quan tòa lên án tử cho Richard. Sau khi bị lên án tử, người vợ và đứa con nhỏ của Richard được dẫn tới trước tòa. Người ta nói với người đàn bà tội nghiệp : “Đừng bắt chước chồng bà!” Bực mình, bà đã can đảm trả lời : “Nếu các người cần thêm máu, các người hãy lấy luôn mạng sống của tôi cùng với mạng sống chồng tôi. Nếu các người cho nhân chứng thêm chút tiền nữa, chắc họ cũng sẽ tìm thêm chứng cớ nào đó để vu oan cho tôi!” Đang lúc Richard chịu tử đạo, ngài đã kêu lên trong nỗi đau thê thảm rằng : “Lạy Chúa, cái gì vậy?” Một trong các quan chức trả lời cách mỉa mai : “Một cuộc xử tử nữ hoàng ạ!” “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con!” – vị tử đạo kêu lên. Những bài thơ đạo đức trác tuyệt Richard viết trong lao tù hiện vẫn còn được lưu giữ. Trong đó, thánh nhân kêu nài những người thôn quê xứ Wales hãy trung thành với đức tin Công giáo. Richard tử đạo năm 1584. Đến năm 1929, Richard Gwyn được Đức Thánh cha Piô XI tôn phong lên bậc chân phước. Năm 1970, Đức Thánh cha Phaolô VI phong thánh cho ngài làm một trong số 40 vị tử đạo của Anh quốc và xứ Wales.
Chúng ta có thể ngưỡng mộ thánh Richard Gwyn về lòng dũng cảm của ngài. Việc sẵn lòng chịu đau khổ vì điều mình tin tưởng thật rất đáng khích lệ. Chúng ta hãy nài xin thánh Richard Gwyn làm cho chúng ta nên mạnh mẽ trong những đau khổ và hiểu lầm như ngài.
Thánh Gioan Capistrano sinh năm 1386 tại nước Ý. Ngài là luật sư và là thống đốc thành phố Perugia. Khi những kẻ thù của thành phố bắt giam ngài trong tù, thánh Gioan đã có dịp suy nghĩ về ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Các kẻ thù của Gioan chưa vội thả ngài, nên Gioan có nhiều thời giờ để nhận thức được điều quan trọng hơn hết chính là ơn cứu độ của linh hồn mình. Vì thế, khi được trả tự do, Gioan Capistrano liền đến xin gia nhập dòng Phanxicô. Lúc ấy Gioan được 30 tuổi. Đối với Gioan, cuộc sống của một linh mục khó nghèo quả thực là một thay đổi lớn. Nhưng thánh nhân đã hy sinh ý riêng của mình vì lòng yêu mến Chúa Giêsu. Và Gioan Capistrano đã cố gắng với hết cả tâm hồn để thực hiện việc này. Sau khi trở thành linh mục, Gioan Capistrano được sai đi giảng đạo. Gioan cùng với cha cựu tập sự của mình, thánh Bênađô Siêna, đã rao giảng về lòng sùng kính Thánh Danh Chúa Giêsu khắp nơi. Gioan Capistrano rao giảng khắp Âu châu suốt 40 năm. Tất cả những ai nghe thánh nhân thuyết giảng đều được ơn biến đổi, yêu mến và phục vụ Chúa Giêsu hơn. Một điển tích nổi bật trong đời sống của vị thánh này đến từ trận chiến Belgret. Quân Thổ đã quyết định chinh phục toàn cõi Âu châu và xóa sạch Giáo hội của Chúa Giêsu. Đức Thánh cha đã gửi thánh Gioan Capistrano đến với tất cả các quốc vương Công giáo ở Âu châu để xin họ cùng liên minh chống lại đội quân Thổ hùng mạnh. Các quân vương đã nghe theo lời của vị linh mục nghèo khó, đi chân đất này. Gioan Capistrano đã hâm nóng lòng yêu mến Thiên Chúa và lòng can đảm của họ bằng những lời giảng thuyết nảy lửa. Dù cho một đội quân Kitô hùng hậu tiến ra nghênh chiến với Mohamed II và quân đội của ông ta, thì dường như đội quân Kitô vẫn thua trận. Quân thù vẫn hùng mạnh hơn gấp nhiều lần! Rồi chính thánh Gioan Capistrano, dù đã 70 tuổi đã chạy trước đội quân Kitô và ủy lạo tinh thần của các chiến sĩ. Giơ cao Tượng Chịu Nạn trong tay, ông già với dáng người mảnh khảnh nhỏ nhắn này hô to : “Chiến thắng! Giêsu! Chiến thắng!” Và các chiến binh Kitô cảm thấy được tràn đầy can đảm hơn bao giờ hết. Họ đã chiến đấu cho tới lúc kẻ thù phải bỏ chạy vì hoảng sợ. Một thời gian ngắn sau đó, thánh Gioan Capistrano qua đời vì cơn bệnh dịch, ngày 23/10/1456. Ngài được phong thánh năm 1690.
Với sự trợ giúp của Thiên Chúa, người ta có thể làm được những công việc vĩ đại. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Capistrano san sẻ cho chúng ta lòng can đảm và nhiệt thành của ngài để thực thi những điều hay lẽ phải.
Giuse Giaccarđô sinh nhày 13/06/1896 tại miền Narzole, nước Ý. Song thân của ngài là những nông dân lao động vất vả. Giuse đã hấp thụ được nhiều thói quen tốt lành nơi cha mẹ của mình. Họ yêu mến đức tin Công giáo và đã truyền lại gia sản ấy cho Giuse. Giuse thường hay cầu nguyện với Chúa Giêsu Thánh Thể và với Đức Mẹ Maria. Ngài có một bức ảnh Đức Mẹ nho nhỏ đặt ở trên kệ sách trong căn phòng của ngài. Giuse giúp lễ cách rất đều đặn. Đó là dịp thuận tiện để Giuse gặp gỡ vị linh mục trẻ hay đến giúp tại nhà thờ thánh Bênađô. Vị linh mục sắp sửa thiết lập một hội dòng mới, là dòng thánh Phaolô. Tên của ngài là cha Alberion. Giuse rất yêu mến cha Alberion. Cha Alberion cũng rất bị ấn tượng bởi Giuse. Ngài hướng dẫn Giuse về đường thiêng liêng. Sau đó, Giuse gia nhập chủng viện ở Alba để học làm linh mục. Năm 1917, Giuse xin vị giám mục của mình cho phép được rời bỏ chủng viện. Giuse mong muốn gia nhập hội dòng mới thành lập của cha Alberion, vừa tròn 3 năm tuổi. Vị giám mục đã miễn cưỡng cho phép Giuse tham gia dòng thánh Phaolô. Giuse tuyên những lời khấn thánh năm 1920. Ngài lấy tên là Timôthêô, theo tên của vị học trò rất mực yêu quý của thánh Phaolô. Sau đó 2 năm, Timôthêô Giaccarđô được thụ phong linh mục, và ngài là linh mục đầu tiên trong hội dòng mới lập của cha Alberion. Ơn gọi đặc biệt của cha Timôthêô Giaccarđô, với tư cách là linh mục của dòng thánh Phaolô, là phục vụ như một tông đồ giảng đạo bằng các phương tiện truyền thông đại chúng. Timôthêô viết lách, biên tập, in ấn và phân phát Lời Chúa. Ngài đảm nhận nhiều công việc quan trọng với lòng can đảm và khiêm tốn. Một số người không hiểu những hoạt động tông đồ của tập thể anh chị em dòng thánh Phaolô. Họ thắc mắc làm sao các linh mục, tu sĩ và nữ tu đều có thể là những người xuất bản? Làm sao họ có thể dùng các phương tiện như dụng cụ để truyền giảng Tin Mừng? Cha Timôthêô Giaccarđô đã giúp họ hiểu rõ ơn gọi tuyệt vời của các anh chị em dòng thánh Phaolô. Cha cũng là bậc thầy vĩ đại của các linh mục và tu sĩ phục vụ trong ơn gọi tông đồ mới này. Timôthêô phục vụ Thiên Chúa tại Bắc Ý và Roma. Ngài là phụ tá rất đắc lực của cha Alberion. Thực ra, cha Alberion gọi chân phước Timôthêô Giaccarđô là “người trung tín nhất trong các người trung tín”. Nhưng Timôthêô không là vị kế nhiệm của đấng sáng lập, như cha Alberion đã kỳ vọng. Cha Timôthêô Giaccarđô bị chứng bệnh tăng bạch cầu rất nặng. Ngài qua đời ngày 24/01/1948. Đến ngày 22/10/1990, cha Timôthêô Giaccarđô được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước.
Đây là lời cầu nguyện chúng ta có thể nài xin chân phước Timôthêô Giaccarđô giúp chúng ta biết thận trọng chọn lựa những phương tiện chúng ta đang sử dụng : “Lạy chân phước Timôthêô Giaccarđô, ước gì những sách vở và tạp chí chúng con đọc, những chương trình chúng con xem, âm nhạc chúng con nghe và trò chơi chúng con chơi, ngày một dẫn chúng con tới gần Chúa Giêsu hơn. Xin cũng giúp chúng con tránh xa những phương tiện nguy hại làm mất lòng Chúa. Amen”
Thánh Hilariôn sống vào thế kỷ thứ IV. Lúc rời bỏ quê nhà Palestine để đến học ở Ai Cập, thánh nhân vẫn chưa gia nhập Giáo hội Công giáo. Tại Ai Cập, Hilariôn học biết đức tin Công giáo, và chẳng bao lâu ngài được chịu phép Thanh Tẩy. Khi ấy, Hilariôn mới chỉ 15 tuổi. Sự kiện Hilariôn trở về với Giáo hội đã bắt đầu một hành trình vinh quang dẫn ngài đến gần Thiên Chúa hơn. Sau đó, thánh nhân lên đường tới thăm viếng thánh Antôn Tu Rừng (lễ kính thánh Antôn ngày 17/01). Như thánh Antôn, Hilariôn cũng muốn sống ở nơi thanh vắng để phụng sự Chúa Giêsu, Đấng đã đến trần gian để yêu thương con người. Hilariôn lưu lại độ 2 tháng với thánh Antôn nhưng ở đây không có đủ bầu khí thinh lặng vì có quá nhiều người tìm đến với thánh Antôn để xin ngài giúp đỡ. Không gặp được thứ bình an mình đang tìm kiếm, Hilariôn quyết định rời bỏ chỗ ấy. Sau khi phân phát hết tài sản cho người nghèo, Hilariôn tìm đến một nơi thanh vắng và sống ở đó như một ẩn sĩ. Thánh Hilariôn cũng phải chiến đấu với nhiều cám dỗ. Đôi lúc dường như những lời cầu xin của ngài chẳng được Thiên Chúa ưng nhận. Tuy vậy, thánh Hilariôn không để cho những cám dỗ này ngăn cản mình cầu nguyện cách chăm chỉ hơn. Sau 20 năm sống trong sa mạc, vị ẩn tu thánh thiện này đã làm một phép lạ đầu tiên. Chẳng bao lâu nhiều người bắt đầu tìm đến túp lều của Hilariôn để xin ngài giúp đỡ. Cũng có nhiều người xin thánh Hilariôn cho phép được lưu lại với ngài để học nơi ngài cách thức cầu nguyện và làm việc đền tội. Với lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân lớn lao, vị thánh đã mời họ ở lại với mình. Nhưng sau cùng, khi được 65 tuổi, thánh Hilariôn bắt đầu du lịch từ nước này sang nước kia để tìm bầu khí thanh bình và tĩnh lặng. Tuy nhiên, danh tiếng về các phép lạ mà thánh Hilariôn đã làm do lòng thương xót đã luôn khiến nhiều đám đông người tìm đến với ngài. Vài năm trước khi về trời, thánh Hilariôn đã tìm được sự thanh vắng mà ngài hằng ao ước, và Hilariôn cảm thấy thực sự được ở yên một mình với Thiên Chúa. Thánh Hilariôn qua đời năm 371, hưởng thọ 80 tuổi.
Khi chúng ta nghĩ rằng tha nhân và những hoàn cảnh sống chi phối việc kết hợp giữa chúng ta với Thiên Chúa, chúng ta hãy cầu nguyện cùng thánh Hilariôn. Thánh nhân sẽ chỉ cho chúng ta cách thức tìm kiếm Chúa Giêsu, dù cho đôi lúc cũng phải quan tâm tới tha nhân và những vấn đề khác.
Angelô Giuse Rôncalli sinh tại miền Bắc nước Ý năm 1881, trong một gia đình nông dân nghèo khổ. Song thân ngài sinh được 13 người con. Rôncalli gia nhập chủng viện ở Roma và bắt đầu chương trình học làm linh mục. Rôncalli học thần học và sau một thời gian ngài đỗ tiến sĩ giáo luật. Trong suốt Đệ I Thế chiến, cha Rôncalli bị bắt tham gia quân đội Ý, và ngài đã phục vụ với tư cách là linh mục tuyên úy trong các tiền tuyến. Sau chiến tranh, cha Rôncalli được cử làm đại diện ngoại giao của Tòa thánh Vatican, và ngài đã viếng thăm Bulgarie, Hy Lạp, và Thổ Nhĩ Kỳ. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, suốt Đệ II Thế chiến, cha Rôncalli đã giúp đỡ những người chạy trốn Đức Quốc xã. Năm 1944, cha được chọn làm đại sứ của Tòa thánh tại Pháp. Vì thực hiện thành công những nhiệm vụ khó khăn, Rôncalli được Đức Thánh cha Piô XII đặt làm Hồng y, và sau đó, làm giáo chủ thành Vênis lúc được 71 tuổi. Dường như vì tuổi cao, đây là chức vụ cuối cùng mà Hồng y Rôncalli được ủy thác. Thế nhưng, 6 năm sau, hết sức ngỡ ngàng, Hồng y Rôncalli được chọn lên ngôi giáo hoàng sau khi Đức Thánh cha Piô XII băng hà vào năm 1958. Và Rôncalli đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Sau đó, Gioan XXIII đã làm cho cả thế giới phải ngạc nhiên qua việc triệu tập một Công đồng chung. Công đồng Vaticano II, một Công đồng đầu tiên sau gần 100 năm, có mục đích canh tân và thích nghi Giáo hội Công giáo. Trong buổi khai mạc Công đồng, Đức Thánh cha Gioan XXIII đã phát biểu với niềm hy vọng và lạc quan về vai trò của Giáo hội trong thế giới văn minh. Với lòng chân thành và sự nồng nhiệt, Đức Thánh cha Gioan XXIII không chỉ đề cập đến những Kitô hữu mà còn vươn tới với tất cả cộng đồng nhân loại. Mọi người thuộc mọi tín ngưỡng từ khắp nơi trên thế giới đều coi Gioan XXIII là hiện thân của chân lý và sự thiện, yêu chuộng hòa bình và hiểu biết sâu xa các dân tộc và các quốc gia. Gioan XXIII canh tân truyền thống qua việc rời bỏ “chốn tù đày của Vatican” để du lịch ra bên ngoài thành phố Roma. Trong các thông điệp “Mẹ và Thầy” và “Hòa bình trên thế giới”, Gioan XXIII nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo vệ nhân quyền và cùng làm việc vì hòa bình. Công đồng chung Vaticano II đã đem lại những thay đổi quan trọng trong Giáo hội, nhưng Đức Thánh cha Gioan XXIII không được nhìn thấy sự bế mạc tốt đẹp của nó. Ngài về trời ngày 06/06/1963. Ngài là một trong các vị giáo hoàng được ái mộ nhất trong các thế kỷ gần đây. Đức Gioan XXIII được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 03/09/2000.
Nơi vị giáo hoàng yêu quý này, chúng ta hãy học cách sống hòa hợp với những người khác quan điểm và tín ngưỡng với chúng ta. Việc sống an hòa với những người đồng quan điểm với mình thật là điều dễ dàng! Đức chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII thách đố chúng ta dám sống cởi mở và tôn trọng những người khác quan điểm với mình.
Thánh Gioan Brebeuf trở thành tu sĩ dòng Tên sau một cơn lao phổi dữ dội. Ngài và thánh Gabriel La Lemont là những thành viên thuộc nhóm các tu sĩ dòng Tên can đảm bị những người Irôquơ bắt giữ và giết chết. Cha Antôn Daniel vừa mới cử hành xong thánh lễ cho những tân tòng thuộc làng Huron thì những người Irôquơ tới tấn công ngôi làng. Những người tín hữu Indiens năn nỉ cha bỏ trốn, nhưng cha Daniel đã ở lại để rửa tội cho tất cả những người đang khóc lóc xin cha ban Bí tích Thanh Tẩy cho họ trước khi tất cả đều bị giết. Những người Irôquơ đã thiêu sống cha Daniel trong nguyện đường nhỏ bé của ngài. Thánh Carôlô Garniê, tuy bị bắn bởi phát súng hỏa mai Irôquơ trong một vụ tấn công đột xuất, vẫn cố gắng bò tới giúp một người bạn đang hấp hối. Sau đó, ngài bị chém chết bởi một nhát rìu. Cha Noel Cabanel cảm thấy cuộc sống truyền giáo tại Tân Thế Giới thật khó khăn, nhưng cha đã thề nguyền sẽ ở lại Bắc Mỹ. Cha bị một kẻ phản bội thuộc bộ tộc Huron giết hại. Hai vị tông đồ giáo dân, René Gupin và Gioan Laland, đều bị giết bởi những nhát rìu của người da đỏ. Tất cả các vị anh hùng của Chúa Kitô này đã can đảm hiến dâng mạng sống mình vì những người dân bản địa vùng Bắc Mỹ. Người ta thường gọi các ngài là Các Thánh Tử Đạo tại Bắc Mỹ. Các ngài được Đức Thánh cha Piô XI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1931.
Ngày nay người ta phạm rất nhiều tội nghịch lại với nhân phẩm con người. Chúng ta hãy xin các thánh tử đạo hôm nay chia sẻ cho chúng ta tình yêu thương lớn lao và lòng kính trọng đặc biệt đối với tất cả mọi người. Chúng ta hãy nài xin các ngài ban cho chúng ta quả tim truyền giáo của các ngài.
Vị thánh Giáo hoàng vĩ đại này sống vào nửa đầu thế kỷ thứ III. Hồi trẻ, thánh nhân đã có lần là một nô lệ ở Roma và gặp rắc rối nghiêm trọng. Người chủ của Callisto trao cho ngài công việc trông coi một ngân hàng. Không hiểu sao Callisto lại làm mất hết số tiền của ngân hàng này. Sợ hãi, Callisto đã bỏ chạy xa khỏi thành Roma. Nhưng ngài đã bị bắt lại sau khi nhảy xuống biển tìm đường tẩu thoát. Người ta phạt Callisto bằng cách trói ngài lại và bắt phải làm việc cực nhọc trong một nhà máy xay. Callisto được tha miễn hình phạt này chỉ vì các chủ nợ của ngài hy vọng họ có thể lấy lại được số tiền của họ. Nhưng Callisto lại bị bắt lần nữa, lần này liên quan tới một vụ đánh nhau. Ngài bị đày tới khu hầm mỏ Sardinia. Khi hoàng đế ban lệnh phóng thích tất cả các Kitô hữu bị đày tới hầm mỏ này, Callisto cũng được trả tự do. Và từ lúc đó, mọi sự bắt đầu trở nên xuôi thuận đối với Callisto. Đức thánh Giáo hoàng Zefrino nghe biết và đã tin cậy người nô lệ vừa được phóng thích này. Ngài đặt Callisto trông coi khu nghĩa trang Công giáo ở Roma. Ngày nay, nghĩa trang này lấy theo tên thánh Callisto. Nhiều vị giáo hoàng đã được chôn cất tại đây. Callisto đã tỏ ra là người đáng tin cậy đối với Đức Giáo hoàng. Thánh Zefrino không những đã xức dầu thánh hiến Callisto trong chức linh mục mà còn chọn Callisto làm bạn hữu và làm cố vấn cho mình. Sau đó, chính thánh Callisto cũng được chọn làm giáo hoàng. Một số người đã than phiền vì thánh nhân đã yêu thương các tội nhân cách quá đáng. Tuy nhiên, vị giáo hoàng thánh thiện này dạy rằng nếu cả những kẻ sát nhân mà thực lòng hoán cải, thì họ có thể được phép chịu Mình Thánh Chúa sau khi đã làm việc đền tội. Vị giáo hoàng vĩ đại này luôn luôn bảo vệ những giáo huấn của Chúa Giêsu. Callisto I tử đạo năm 222. Thánh nhân bị sát hại trong một cuộc nổi dậy.
Vì thánh Callisto I đã quá nhận thức được sự tha thứ của Thiên Chúa trong đời sống tư riêng của mình, nên thánh nhân rất sẵn lòng tha thứ cho người khác. Chúng ta có tha thứ cho người khác với cùng một mức độ mà chúng ta mong muốn Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta không?
Vua thánh Edward là một trong các vị quân vương cai trị nước Anh được thần dân quý chuộng nhất. Thánh nhân sống vào thế kỷ thứ XI. Vì các kẻ thù địch trong đất nước, Edward đã phải trẩy đến sống tại vùng Normandi bên Pháp từ khi lên 10 cho tới lúc được 40 tuổi. Tuy vậy, khi trở về Anh quốc làm vua, mọi người đã rất vui sướng chào đón Edward. Thánh Edward đã cai trị đất nước cách rất tốt đẹp và hầu như ngài luôn luôn giữ được nền hòa bình. Lý do là vì thánh nhân đã luôn tin cậy nơi Chúa và tỏ ra cương quyết trong những khi cần thiết. Vua Edward tham dự thánh lễ mỗi ngày. Ngài là một quân vương tốt lành, hiền hậu, chẳng bao giờ nói những lời cứng cỏi. Đối với những người nghèo khổ và các khách ngoại kiều, thánh Edward luôn đối xử với tấm lòng nhân ái đặc biệt. Edward cũng giúp đỡ các tu sĩ mỗi khi có thể. Chính vì lòng yêu mến Giáo hội và đối xử công bằng với mọi người mà thánh Edward trở nên rất nổi danh đối với người Anh. Họ vẫn chào đón Edward mỗi khi ngài cưỡi ngựa ra khỏi lâu đài. Mặc dù làm vua với đầy đủ quyền hành, nhưng thánh Edward vẫn tỏ ra trung thực trong lời nói đối với Thiên Chúa và cả đối với thần dân của ngài. Trong lúc còn sống ở Normandi, thánh nhân đã dâng một lời khấn với Thiên Chúa. Edward khấn rằng nếu gia đình được bình an, ngài sẽ hành hương tới viếng mộ thánh Phêrô ở Roma. Sau khi lên ngôi vua, Edward muốn thực hiện lời khấn của mình, nhưng các quý tộc biết rằng nếu Edward rời khỏi đất nước, thần dân sẽ nổi loạn và không ai có thể giữ nổi hòa bình. Vì vậy, mặc dù họ rất trân quý tấm lòng trung thành của Edward, họ vẫn không muốn để ngài ra đi. Thế rồi toàn bộ sự việc được trình lên Đức thánh Giáo hoàng Lêô IX, và Đức Thánh cha đã quyết định nhà vua nên ở lại đất nước. Thay vào đó, nhà vua hãy bố thí cho người nghèo số tiền mà ngài định dùng để chi tiêu và trang trải trong chuyến hành hương. Đức Thánh cha cũng xin Edward xây cất một tu viện để tôn kính thánh Phêrô ở Wesminter. Vâng lời, vua Edward đã thi hành ngay quyết định của Đức Giáo hoàng. Edward qua đời năm 1066 và được an táng ngay tại tu viện hoành tráng mà ngài đã xây cất. Đến năm 1161, Đức Thánh cha Alexandre III đã tôn phong Edward lên bậc hiển thánh.
Thánh vương Edward, bằng vào đời sống của mình, đã khuyên dạy những ai có tiền của và quyền hành hãy nên sử dụng chúng một cách có trách nhiệm và vì lợi ích của người khác. Chúng ta hãy nài xin vua thánh Edward chúc lành cho các nhà lãnh đạo trên thế giới, cho họ biết sống như ngài, để tất cả mọi người được sống một cuộc đời an bình và vui sướng.
Thánh Sêraphim Môngtêgranêrô sinh năm 1540 tại Ý. Khi còn là một cậu bé, Sêraphim phải đi chăn cừu thuê để kiếm sống. Song thân Sêraphim qua đời lúc ngài vẫn còn nhỏ, và Sêraphim được một người anh trai nhận về nuôi nấng. Nhưng anh này rất ư hà khắc với Sêraphim và thường hay xử tệ với ngài. Suốt thời thơ ấu và những năm vị thành niên, Sêraphim Môngtêgranêrô hằng tin cậy vào Thiên Chúa và dùng rất nhiều thời giờ để cầu nguyện. Thậm chí dù không có sự hiện diện của song thân yêu quý, Sêraphim cũng vẫn nhận biết Thiên Chúa là người Cha rất mực yêu thương hằng quan tâm chăm lo cho mình. Khi lên 16 tuổi, Sêraphim Môngtêgranêrô cảm thấy Thiên Chúa mời gọi mình sống cuộc đời thánh thiện. Ngài quyết định xin gia nhập dòng Phanxicô Capuxinô với tư cách là một trợ sĩ. Cuối cùng, Sêraphim nhận thấy nơi đây thật là một gia đình mà trong đó các tu sĩ sống quý mến nhau. Chẳng bao lâu, Sêraphim trở nên nổi danh vì sự khôn ngoan và vì đời sống thánh thiện. Người người từ khắp nơi lần lượt kéo đến xin thánh nhân hướng dẫn những vấn đề thiêng liêng. Sêraphim Môngtêgranêrô đặc biệt tận tụy giúp đỡ những người nghèo khổ. Ngài lãnh nhận sức mạnh và ân sủng để tiếp cận với tha nhân nơi Chúa Giêsu Thánh Thể. Thánh Sêraphim Môngtêgranêrô về trời ngày 12/10/1604. Ngài được tôn phong hiển thánh năm 1767.
Dù cho thánh Sêraphim Môngtêgranêrô không được tận hưởng thời thơ ấu hạnh phúc trong một gia đình đầm ấm, thánh nhân cũng vẫn nhận biết mình được Thiên Chúa yêu thương, và Thiên Chúa là Cha của hết thảy mọi người. Chính tình yêu mà Sêraphim Môngtêgranêrô từng trải nghiệm này đã giúp thánh nhân có thể yêu mến tha nhân. Nếu chúng ta tin nhận rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, chúng ta cũng sẽ mong muốn trao chuyển tình yêu thương ấy cho những người khác với tấm lòng cảm thông và quảng đại.
Vị thánh này thỉnh thoảng được gọi là thánh Canis, sống vào thế kỷ thứ VI. Kennet sinh ở Ai Len và rất được nổi danh cả ở Ai Len lẫn Scôtlen. Thân phụ của Kennet là một nghệ sĩ, tức là một ca sĩ chơi nhạc balat chuyên nghiệp. Lúc còn trẻ, Kennet tới xứ Wales để học làm linh mục. Thánh Cađốc là giáo sư dạy ngài. Sau khi thụ phong linh mục, Kennet tới thăm Roma. Rồi ngài trở về Ai Len và vào trường thánh Finnianô để học thêm. Thánh Kennet làm bạn với 3 vị thánh Ai Len khác, đó là thánh Kiêran, thánh Comgall và thánh Côlumba. Sau khi thuyết giảng khắp xứ Ai Len, thánh Kennet cùng với thánh Côlumba tới Scôtlen để truyền giáo cho vua Brude. Khi ông hoàng này giận dữ nắm lấy thanh gươm để giết hai nhà truyền giáo, thì người ta nói rằng thánh Kennet đã làm dấu Thánh Giá và một phép lạ đã xảy ra : cánh tay của nhà vua lập tức bị tê liệt, và hai vị thánh được cứu thoát. Thánh Kennet và thánh Côlumba luôn là những người bạn chí thân của nhau. Lần kia, Côlumba đang vượt thuyền cùng với vài người bạn trong khi Kennet thì ở một nơi rất xa, tại tu viện của mình ở Ai Len. Đột nhiên Kennet linh cảm thấy Côlumba đang gặp nạn ngoài biển. Ngài liền lập tức rời khỏi bàn ăn và chạy vào nhà thờ cầu nguyện cho người bạn rất mực quý mến của mình. Ngoài biển cả, Côlumba trấn an các bạn hữu đang hoảng sợ rằng : “Anh em đừng sợ! Thiên Chúa sẽ nhận lời cầu xin của Kennet. Giờ đây người đang vội chạy vào nguyện đường để cầu xin cho chúng ta!” Và y như Côlumba nói, hết thảy mọi người đã được cứu thoát. Thánh Kennet thiết lập nhiều tu viện và đã hoán cải nhiều người vô thần. Thánh nhân nổi danh vì lòng nhiệt thành rao giảng Tin Mừng. Hơn nữa, thánh Kennet còn nổi danh vì đã thực hành đường trọn lành theo giáo huấn của Chúa Giêsu.
Thánh Kennet biết giải quyết những hoàn cảnh khó khăn một cách tuyệt hảo. Chính đức tin hòa đồng đã làm cho thánh nhân có nhiều bạn bè và nhiều trợ tá trong việc rao giảng Tin Mừng. Chúng ta hãy nài xin thánh Kennet chỉ cho chúng ta cách thức trở nên một người bạn vui vẻ và dễ mến như ngài.
Thánh Phanxicô Borgia sinh năm 1510 gần thành phố Valencia, nước Ý. Người chú của Phanxicô, là Tổng Giám mục thành Saragossa, đã trực tiếp giáo dục ngài. Phanxicô Borgia cảm thấy có ơn gọi sống bậc tu trì, nhưng ngài nhanh chóng bị lôi cuốn vào cơn lốc những cuộc hẹn hò xảy ra nơi cung đình của vua Carôlô V. Vào năm 1529, Phanxicô Borgia kết hôn với Eleanor Castro. Đôi vợ chồng trẻ sống rất hạnh phúc và họ có với nhau tất cả 8 người con. Năm 1539, Isabella, người vợ yêu quý của nhà vua, qua đời sau một thời gian ngắn bị bệnh. Trong ngày lễ an táng hoàng hậu, khi nhìn thấy thân xác thối rữa của Isabella, thánh Phanxicô Borgia đã giật mình. Ngài nhận thấy sao cuộc đời trôi qua nhanh quá, và thánh nhân bắt đầu suy tưởng về đời sống vĩnh cửu trên thiên đàng. Phanxicô Borgia trở thành cố vấn cho nhà vua, và sau đó làm phó vương Catalonia. Khi thân phụ qua đời năm 1543, Phanxicô lên nhận nhiệm vụ của cha là công tước xứ Gandia và là trưởng tộc họ Borgia. Năm 1546, người vợ yêu quý của Phanxicô Borgia qua đời sau 17 năm sống hạnh phúc bên nhau. Phanxicô buồn khổ cùng cực vì sự mất mát, chỉ biết tìm an ủi trong lời cầu nguyện và các Bí tích. Năm 36 tuổi, Phanxicô Borgia quyết định xin gia nhập dòng Tên. Ngài để lại gia tài cho người con trai. Và năm 1550, Phanxicô được thụ phong linh mục. Cha Phanxicô Borgia du lịch vòng quanh Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, thuyết giảng cho từng đám đông người đến nghe ngài. Chính vị sáng lập dòng Tên, thánh Inhaxiô Loyola, đã trao cho Phanxicô Borgia chức vị lớn lao trong dòng. Năm 1565, Phanxicô Borgia trở thành bề trên tổng quyền dòng Tên. Suốt 7 năm sau đó, Phanxicô Borgia thiết lập nhiều cơ sở mới cho dòng và khuyến khích các anh em trong dòng hãy tập trung vào việc truyền giáo tại các nước hải ngoại, gồm cả Hoa Kỳ. Sau chuyến kinh lý mục vụ khắp đất nước Tây Ban Nha vào năm 1572, Phanxicô Borgia mệt mỏi trở về Roma. Phanxicô Borgia qua đời hai ngày sau đó, nhằm ngày 30/09. Vì luôn luôn hăng say làm việc để giúp cho dòng phát triển và lan rộng sang các quốc gia khác, thánh Phanxicô Borgia thỉnh thoảng được người ta gọi là vị sáng lập thứ hai của dòng Tên. Ngài được tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1671.
Ngay từ độ tuổi thanh niên, thánh Phanxicô Borgia đã được người khác tín nhiệm và ủy thác cho những địa vị cao trọng. Thánh nhân đã thực hiện rất tốt công việc của mình vì ngài là người luôn sống đức tin và cầu nguyện. Chúng ta hãy bắt chước vị thánh này qua việc chu toàn thật tốt những gì được giao phó cho chúng ta thực hiện hàng ngày cũng như luôn hướng về đời sống mai hậu trên thiên đàng.
Thánh Gioan Lêônarđi sinh vào khoảng năm 1540. Sau khi học xong, thánh nhân trở thành dược sĩ và phục vụ tại thành phố Lucca, nước Ý. Lên 25 tuổi, Gioan cảm thấy có ơn kêu gọi làm linh mục. Ngài bắt đầu việc học, và năm 1572, Gioan được thụ phong. Gioan dùng thời gian dạy đức tin cho các trẻ nhỏ và huấn luyện các giáo lý viên. Công việc năng động của Gioan cũng khiến ngài tìm đến các bệnh viện và các trại giam. Nhiều thanh niên ở thành Lucca cũng xin gia nhập với cha Gioan và giúp ngài thi hành công việc lý thú này. Rồi nhóm anh em này về sau đã họp thành một dòng mới trong Giáo hội, gọi là dòng Giáo Sĩ Mẹ Thiên Chúa. Dòng chính thức được Đức Thánh cha Clêmentê VIII chuẩn nhận năm 1595. Cha Lêônarđi được trao cho trông coi một giáo xứ ở thành phố Lucca. Anh em dòng ngài đã cùng góp sức chăm lo những nhu cầu tinh thần cho bổn đạo. Rồi cha Lêônarđi chuyển tới Roma, nơi người bạn tốt lành của cha là thánh Philipphê Nêri đang sống. Thánh Philipphê là cha linh hướng của Lêônarđi. Đôi lúc công việc của cha Lêônarđi phải gặp khó khăn vì những rối loạn tinh thần và chính trị ở Âu châu. Nhưng thánh Philipphê tin tưởng vào công việc mà cha Lêônarđi cũng như các anh em linh mục tốt lành dòng ngài đang làm. Chính thánh Philipphê Nêri đã tặng cho cha Lêônarđi và anh em dòng cha căn nhà của ngài ở Roma. Căn nhà mang tên là “Nhà thánh William Bác Ái”, đó là căn nhà mà thánh Philipphê Nêri rất yêu thích. Và Gioan Lêônarđi đã vui mừng trông coi căn nhà. Thánh Gioan Lêônarđi về trời ngày 09/10/1609 vì căn bệnh dịch tả. Thánh nhân bị lây nhiễm đang khi chăm sóc cho những người đau ốm. Năm 1938, Gioan Lêônarđi được Đức Thánh cha Piô XI tôn phong hiển thánh.
Vị thánh này dạy chúng ta nhận thức rằng con người cần được chăm sóc về phần tinh thần cũng như thể xác. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Lêônarđi nhắc nhớ chúng ta để ý tới những nhu cầu của tâm linh cũng như những nhu cầu thuộc thể xác chúng ta.
Cụ Simêon thánh thiện sống vào thế kỷ thứ I. Trong sách Phúc Âm theo thánh Luca, nơi chương 2, chúng ta đọc thấy khi Mẹ Maria và thánh Giuse đem Chúa Hài Nhi Giêsu vào đền thánh Giêrusalem, các ngài gặp thấy cụ Simêon. Thiên Chúa đã hứa với cụ già thánh thiện này rằng trước khi về trời, cụ sẽ được chiêm ngưỡng Đấng Mêsia, Đấng Cứu Độ trần gian. Nhưng Simêon không được biết khi nào thì sự việc xảy ra. Được Thánh Thần thúc đẩy, cụ Simêon vào đền thờ Giêrusalem đang lúc Mẹ Maria và thánh Giuse dâng Chúa Hài Nhi Giêsu trong đền thánh. Simêon nhìn vào đôi mắt của Chúa Hài Nhi và cảm thấy một niềm vui dâng lên trong lòng. Mắt cụ ngời sáng. Simêon bồng ẵm Chúa Hài Nhi trên tay rồi dâng lên và nguyện rằng : “Giờ đây, lạy Chúa, xin để con được ra đi trong bình an. Chính mắt con đã trông thấy Đấng Cứu Độ trần gian mà Chúa đã dành sẵn cho dân Chúa.” (Lc 2, 29-31) Mẹ Maria và thánh Giuse đưa mắt nhìn nhau. Các ngài im lặng đến kinh ngạc. Sau đó, cụ Simêon hướng về phía Mẹ Maria. Đôi mắt cụ trở nên u buồn và cụ khẽ nói với Đức Mẹ : “Phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà!” (Lc 2, 35) Lúc ấy, Mẹ Maria không hiểu lời cụ Simêon nói mang ý nghĩa gì. Mẹ chỉ nài xin Thiên Chúa ban cho được thêm can đảm. Cụ già Simêon thánh thiện đã nhận được ân sủng Thiên Chúa hứa ban. Cụ vẫn vui mừng cảm tạ Thiên Chúa ngay cả khi Thánh Gia đã trở về quê nhà.
Chúng ta hãy bắt chước gương thánh Simêon luôn luôn tín thác vào Thiên Chúa. Bằng cách chăm chỉ đọc Kinh Thánh và mở lòng ra cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống của mình, chúng ta sẽ có thể nên thánh. Như thánh Simêon, chúng ta hãy vững tin rằng hết thảy mọi lời Thiên Chúa đã hứa sẽ được thực hiện vào thời điểm Người muốn.
Chính thánh ĐaMinh, sống vào cuối thế kỷ thứ XII đầu thế kỷ thứ XIII, đã khuyến khích mọi người đọc kinh Mân Côi. Thánh nhân hết sức đau buồn vì sự lan tràn của một lạc thuyết rất nguy hại là lạc thuyết Anbigen. Cùng với các thành viên của dòng Thuyết Giáo do ngài thành lập, hay còn gọi là dòng ĐaMinh, thánh ĐaMinh đã nỗ lực hết sức để truyền bá chân lý và ngăn chặn lạc thuyết nguy hiểm này. Thánh nhân đã nài xin Đức Trinh Nữ Maria giúp đỡ, và người ta nói rằng Đức Mẹ đã dạy cho thánh nhân rao giảng về lòng sùng kính kinh Mân Côi rất thánh. Thánh ĐaMinh vâng lời Đức Mẹ, và ngài đã rất thành công trong việc ngăn chặn lạc thuyết. Kinh Mân Côi Rất Thánh là một việc sùng kính đơn giản, ai ai cũng có thể thực hành, người già cũng như trẻ nhỏ, thông thái cũng như kém trí. Người ta có thể đọc kinh Mân Côi bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào họ muốn. Trong lúc lặp lại 1 kinh Lạy Cha, 10 kinh Kính Mừng và 1 kinh Sáng Danh, chúng ta suy tưởng về những mầu nhiệm cao trọng trong đời sống của Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Bằng cách này, chúng ta càng ngày càng sống thân mật hơn với Chúa Giêsu và Mẹ Chí Thánh của Người. Chúng ta học bắt chước gương sống thánh thiện của hai Đấng. Mẹ Maria rất hài lòng khi chúng ta năng đọc kinh Mân Côi cách sốt sắng. Đức Mẹ đã từng nói điều này với thánh nữ Bênađetta khi Đức Mẹ hiện ra với thánh nữ tại Lộ Đức (Lourdes – Pháp). Đức Mẹ cũng dạy cho 3 trẻ Fatima nhận biết năng lực của kinh Mân Côi. Đức Mẹ dạy rằng kinh Mân Côi gồm chứa các ơn giúp người ta sống cuộc đời mật thiết với Thiên Chúa. Một vị giáo hoàng dòng ĐaMinh, thánh Piô V, đã thiết lập ngày lễ này, lễ kính Đức Mẹ Mân Côi. Ngày lễ nhắc nhớ chúng ta bày tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ vì đã giúp cho chiến thắng quân Thổ tại vịnh Lêpan ngày 07/10/1571.
Chúng ta hãy tập cho mình có thói quen đọc kinh Mân Côi hàng ngày. Nếu mang theo một tràng chuỗi Mân Côi trong túi áo, chúng ta rất dễ tìm thời giờ mỗi ngày để đọc lời kinh quý đẹp này.
Chân phước Êulali Đurôsơ sinh năm 1811 tại Québec, Canada. Ngài là con thứ 10 trong gia đình có 11 người con. Khi lên 18, thân mẫu Êulali qua đời, và người anh trai của Êulali, là linh mục coi xứ, đã mời em gái Êulali tới giáo xứ của anh. Êulali trở thành một tông đồ giáo dân. Êulali trông nom việc nhà cho anh của ngài.. Sau đó, Êulali thiết lập một hội tôn giáo tại giáo xứ trước tiên ở Canada. 13 năm trong đời sống phục vụ Giáo hội và xứ đạo cũng chính là thời gian chuẩn bị để Êulali Đurôsơ thi hành một sứ mệnh đặc biệt cho Thiên Chúa. Năm 1843, khi Êulali Đurôsơ 32 tuổi, Đức Giám mục giáo phận Montrieux xin Êulali khởi sự một sứ vụ đặc biệt, đó là thiết lập một hội dòng gọi là dòng Chị Em Tôn Sùng Hai Thánh Danh Giêsu Maria. Công việc đặc biệt của họ là giáo dục các trẻ em cùng khổ và bị bỏ rơi. Êulali trở thành Mẹ bề trên Maria Rosa. Cũng có nhiều chị em khác cùng đến tham gia với người phụ nữ có tâm hồn quảng đại này. Họ cũng tin tưởng vào tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ em vì lòng yêu mến Chúa Giêsu. Mẹ Maria Rosa Đurôsơ chỉ sống được 6 năm sau khi thiết lập hội dòng. Tuy vậy, từ thiên đàng, Mẹ vẫn giúp đỡ các nữ tu của Mẹ vì hội dòng tiếp tục phát triển và mở mang nhiều tu viện mới. Hội dòng cũng bắt đầu truyền giáo sang nước Mỹ. Họ tới Oregon vào năm 1859. Ngày nay, các nữ tu dòng Chị Em Tôn Sùng Hai Thánh Danh Giêsu Maria đã có mặt trên khắp thế giới. Mẹ Maria Rosa Đurôsơ được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước ngày 23/05/1982.
Chúng ta cảm ơn chân phước Maria Rosa Đurôsơ vì đã đóng góp những hy sinh cho công việc giáo dục trẻ em. Khi bị cám dỗ lười biếng học hành, chúng ta hãy nài xin chân phước Maria Rosa Đurôsơ ban cho chúng ta năng lực để cố gắng hết sức mình.
Khi vị thánh nữ này cất tiếng khóc chào đời tại Ba Lan ngày 25/08/1905, thì song thân thánh nữ đã đặt tên cho ngài là Helen. Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế, Helen đã thực hiện một sứ vụ quan trọng là dạy cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Chúa Giêsu. Ngay từ lúc lên 7, Helen đã muốn sống cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa như một nữ tu. Khi được 25 tuổi, Helen vào tu trong dòng Chị Em Con Đức Mẹ Thương Xót, và nhận tên là sơ Maria Faustina. Công việc của sơ Maria Faustina thật giản dị. Sơ nấu ăn, làm vườn và giữ cửa cho tu viện. Chỉ có sự tốt bụng, trầm lặng và hồi tâm là đáng lưu ý. Và ít có người biết được những chiều sâu đích thực về đời sống tâm linh của sơ Faustina. Thiên Chúa đã chúc lành cho sơ Maria Faustina bằng nhiều ân sủng đặc biệt, kể cả ơn thị kiến, ơn tiên tri và ơn được nhận năm Dấu Thánh cách vô hình. Trong một thị kiến mà sơ Maria Faustina nhận được, Chúa Giêsu đã hiện ra trong y phục màu trắng. Người giơ cao một tay để chúc lành và tay kia thì chạm vào Thánh Tâm Người. Có hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một màu đỏ và một màu xanh nhạt. Tia sáng đỏ tượng trưng cho Máu Cứu Chuộc của Chúa Kitô, còn tia xanh nhạt biểu trưng nước thanh tẩy trong Bí tích Rửa Tội. Chúa Giêsu nói : “Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ : Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” Chúa Giêsu đã nói với sơ Maria Faustina rằng Chúa nhật sau lễ Chúa Phục Sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót. Sơ Maria Faustina đã viết nhật ký, chép lại mọi điều Chúa Giêsu muốn cho thế giới nhận biết về Lòng Thương Xót của Người. Trong đó, Maria Faustina đã viết những lời cầu nguyện thật dễ thương, biểu lộ mối tương quan rất mực thân thiết đối với Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu nói với Maria Faustina rằng thánh nữ chính là thư ký nhỏ của Người. Chính công việc đặc biệt của thánh nữ Maria Faustina đã khích lệ nhiều người tin tưởng vào Lòng Thương Xót vô hạn lượng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu hứa ban ơn tha thứ và ân sủng dư tràn cho bất cứ ai tôn sùng lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Tận hiến cho Lòng Thương Xót Chúa bao gồm tin tưởng vào lòng nhân hậu Chúa, yêu thương tha nhân, năng lãnh nhận Bí tích Hòa Giải để luôn ở trong tình trạng có ân sủng và rước lễ ngày Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa. Chỉ sau vài năm sống trong bậc tu trì, sơ Maria Faustina Kowalska đã về trời ngày 05/10/1938 vì bệnh lao phổi, lúc vừa tròn 33 tuổi.
Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Maria Faustina Kowalska : “Cha mong muốn con hãy luôn bày tỏ lòng thương xót ra khắp mọi nơi. Con không thể tự biện minh gì về điều này!” Phương thế tốt nhất để chứng tỏ chúng ta tin cậy vào Lòng Thương Xót của Chúa Giêsu là biết tỏ bày lòng thương xót và luôn tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Chúng ta có sẵn lòng cùng nhau thực hiện như vậy không?
Bartôlô Longô sinh ngày 11/02/1841 tại vùng Nam Ý. Ngài được các cha dòng Piarist giáo dục rất kỹ lưỡng. Về sau, Bartôlô học luật, nhưng trường đại học mà Bartôlô theo học đã không mấy tôn trọng Giáo hội hay những giá trị của Tin Mừng. Niềm tin của Bartôlô bắt đầu suy giảm, và ngài trở nên quan tâm tới những nghi lễ do ma quỷ bày ra. May thay, Bartôlô vẫn còn làm bạn với một vị giáo sư, là một Kitô hữu sùng đạo và là một người sống nội tâm sâu xa. Cùng với một linh mục dòng thánh ĐaMinh, vị giáo sư này đã đưa Bartôlô về lại với lối thực hành đức tin Công giáo. Bartôlô Longô đạt được văn bằng luật học và trở thành luật sư phục vụ tại quê hương ngài. Sau đó, Bartôlô bắt đầu sống cuộc đời thánh thiện, cầu nguyện và làm nhiều việc tốt. Bartôlô đặc biệt cầu nguyện bằng kinh Mân Côi. Rồi Bartôlô đi sang Napoli để giúp đỡ những người nghèo khổ sống trong các khu ổ chuột của thành phố. Ngài làm gia sư cho các con trẻ của một quả phụ giàu sang. Bartôlô cùng đồng hành với bà mỗi khi bà đi thăm các dinh cơ của bà, và Bartôlô trực tiếp thấy được sự nghèo khó và ngu dốt của các đám thợ làm công cho bà. Bartôlô Longô biết Thiên Chúa đang mời gọi mình đem đức tin và niềm hy vọng đến cho những người này. Ngài suy nghĩ và nảy ra quyết định rằng cách tốt nhất để giới thiệu đức tin cho những người ấy, những người không biết đọc biết viết, là dạy họ cầu nguyện với kinh Mân Côi. Bằng cách suy niệm những mầu nhiệm của kinh Mân Côi, họ sẽ học biết về cuộc sống, về sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu, cũng như vai trò quan trọng của Đức Mẹ Maria trong việc đưa dẫn các Kitô hữu đến với Con của Mẹ. Chẳng bao lâu, người ta tập trung tại một nhà thờ nhỏ ở Pompeii để cùng nhau đọc kinh Mân Côi trước một bức ảnh Đức Mẹ, bức ảnh mà Bartôlô Longô đã tìm thấy tại một chợ trời bán đồ cũ. Rồi ngôi nhà thờ được nới rộng thêm, và Bartôlô Longô bắt đầu kiếm tiền để xây cất một ngôi thánh đường lộng lẫy dâng kính Đức Mẹ Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Bartôlô cũng cho xuất bản một tạp chí, gọi là Nguyệt san kinh Mân Côi và tân Pompeii, đăng những bài giải thích đức tin Công giáo. Để sống sứ điệp Tin Mừng cách triệt để chứ không chỉ loan báo bằng ngòi bút, Bartôlô Longô đã cho xây một viện mồ côi và một nhà dành cho các em có cha có mẹ đang bị cầm tù. Bartôlô Longô thường bị những người không đồng quan điểm hiểu lầm và chế nhạo. Lúc về già, ngài phải chịu những cơn bạo bệnh, nhưng Bartôlô vẫn tin tưởng vào quyền phép của kinh Mân Côi và cố gắng hoàn thành thật tốt những gì Thiên Chúa mong muốn nơi ngài. Bartôlô Longô đã trải qua những năm cuối đời trong kinh nguyện liên lỉ. Ngày 05/10/1926, người tín hữu thánh thiện này đã về trời, hưởng thọ 85 tuổi, với tràng chuỗi Mân Côi còn dính chặt trong tay. Năm 1980, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Bartôlô Longô lên bậc chân phước.
Kinh Mân Côi chỉ là một lời nguyện đơn giản. Tuy nhiên, kinh Mân Côi giúp chúng ta được tiếp xúc với những mầu nhiệm thâm sâu nhất của đức tin. Mỗi ngày chúng ta hãy cố gắng cầu nguyện với ít nhất một chục kinh Mân Côi, nhờ đó chúng ta có thể thường xuyên suy ngẫm về cuộc đời, giáo huấn, sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Kinh Mân Côi chính là một hình thức tôn kính đặc biệt đối với Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ của mỗi người chúng ta.
Ngày này, chúng ta mừng lễ tôn kính các sứ giả của Thiên Chúa, những đấng bảo vệ mỗi người và từng người chúng ta. Chúng ta đọc thấy các vị ở trong Kinh Thánh. Các thiên thần có nhiệm vụ phân phát các sứ điệp đặc biệt của Thiên Chúa, bảo vệ con người khỏi những nguy hại và cứu thoát con người. Trong Kinh Thánh Tân Ước, nơi chương thứ 12 sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta đọc thấy cách thức một thiên thần đã cởi xiềng cho thánh Phêrô và cứu thánh nhân thoát khỏi cảnh tù đày. Suốt nhiều thế kỷ, Giáo hội dạy rằng cuộc sống con người từ khi sinh ra cho tới lúc qua đời đều được các thiên thần canh giữ cẩn thận. Bức họa về thiên thần bản mệnh mà chúng ta thường được xem thấy đã mô tả một thiên thần đang bảo vệ hai em nhỏ khi các em băng qua một cây cầu hẹp. Thực ra, thiên thần là thiêng liêng và không có thân xác như loài người. Đó là lý do chúng ta không trông thấy được thiên thần bản mệnh của chúng ta, các đấng không bao giờ lìa xa chúng ta! Năm 1608, Đức Thánh cha Phaolô V đã thêm ngày lễ này vào lịch mừng kính các thánh. Thật là rất đáng khích lệ khi biết rằng mỗi người trong chúng ta đều có một thiên thần bản mệnh đang gìn giữ chúng ta. Ngài chính là món quà mà Thiên Chúa yêu thương đã ban tặng cho chúng ta.
Trong ngày lễ này, chúng ta hãy năng đọc lời nguyện tắt này : “Lạy Thiên thần của Thiên Chúa, ngài là đấng bảo trợ yêu quý của con, tình yêu Chúa đã trao phó con cho ngài. Xin ngài hãy ở bên con hôm nay để soi sáng và canh giữ, để cai trị và hướng dẫn con. Amen”
Ngày lễ này dành để tôn kính một nam giáo dân gốc người Philippin. Thánh Laurenso Ruiz và 15 người bạn tử vì đạo để minh chứng đức tin tại Nagasaki, Nhật Bản vào năm 1637. Sinh tại thành phố Manila, Laurenso lập gia đình và có 3 người con. Ngài gia nhập với một nhóm người gồm 9 linh mục thuộc dòng ĐaMinh, 2 tu sĩ và 4 giáo dân tình nguyện tới Nhật Bản rao giảng Tin Mừng. Tất cả cùng liên kết với dòng ĐaMinh và tất cả cùng thà hy sinh mạng sống hơn là chối bỏ niềm tin vào Chúa Giêsu. Các ngài là những người nam, người nữ có quốc tịch khác nhau : Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Philippin. Các ngài quả thật là hình ảnh nhắc nhớ chúng ta : Giáo hội của Chúa Kitô đã lan rộng ra khắp hoàn cầu! Các thánh tử đạo này đã chịu đau khổ nhiều trước lúc qua đời, nhưng các ngài vẫn một lòng giữ vững đức tin Công giáo. Người ta ghi nhận rằng thánh Laurenso Ruiz đã nói với các vị quan tòa xử ngài rằng : “Nếu tôi có 1000 mạng sống để dâng cho Đức Kitô, thì tôi sẽ vui mừng dâng từng mạng sống của tôi cho Người!” Ngày 18/10/1987, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong nhóm các anh hùng này lên bậc hiển thánh.
Chúng ta hãy nài xin thánh Laurenso Ruiz và các bạn tử đạo thôi thúc các Kitô hữu hôm nay biết trở nên những môn đệ nhiệt thành và quảng đại của Chúa Giêsu. Càng học biết về đức tin bao nhiêu, chúng ta càng yêu mến và chia sẻ với tha nhân bấy nhiêu.
(Ngày hôm nay, Giáo hội cũng mừng lễ kính thánh Venxétlao.)
(Chép từ “Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ Mỗi Ngày” của Susan Helen Wallace, FSP)
Hai vị thánh tử đạo này là anh em song sinh, quê ở Syria, mất vào đầu thế kỷ thứ IV. Cả hai đều là những sinh viên khoa học nổi danh và là những y sĩ xuất sắc. Cosma và Đamianô nhìn thấy trong mỗi bệnh nhân là hình ảnh của một người anh em trong Chúa Kitô. Vì lý do này, các ngài đã chiếu tỏa một đức bác ái thật lớn lao đối với tất cả mọi người và cư xử với các bệnh nhân cách rất chu đáo. Tuy vậy, dù chăm sóc bệnh nhân hết sức nhiệt tình, nhưng cả Cosma và Đamianô không bao giờ lấy của ai một đồng tiền công! Vì thế, người ta đã đặt cho hai ngài một danh xưng bằng tiếng Hy Lạp là “những người nghèo khó”. Mỗi khi có dịp, cả hai vị thánh đều kể cho các bệnh nhân của mình nghe biết về Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Và vì yêu mến cặp bác sĩ song sinh này, họ đã rất sẵn lòng lắng nghe hai ngài. Cosma và Đamianô thường mang lại sức khỏe cả phần xác lẫn phần hồn cho những người đến xin các ngài giúp đỡ. Vào năm 303, khi cuộc bách hại các Kitô hữu của Điôclêsianô xảy ra tại thành phố nơi các ngài sinh sống, thì hai ngài đã lập tức bị bắt. Cả hai vị thánh đã không che giấu lòng yêu mến tha thiết đối với đức tin Công giáo. Chẳng có gì khiến hai ngài có thể chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Hai ngài đã sống cho Đức Kitô và đã làm cho rất nhiều người tin vào Đức Kitô. Cả hai cùng bị lên án tử một trật với ba người anh em khác. Những vị thánh tử đạo này được nêu danh trong Kinh Nguyện Thánh Thể Thứ Nhất.
Như thánh Cosma và thánh Đamianô, chúng ta hãy trở nên những dấu chỉ của niềm tin Công giáo cho những người chúng ta gặp gỡ hàng ngày. Bằng việc nhìn thấy Chúa Kitô trong tha nhân và cư xử với hết thảy mọi người cách công bằng và tử tế, chúng ta sẽ là một mẫu gương về lòng yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta.
Vị thánh người Nga nổi danh này sống vào thế kỷ thứ XIV. Ngài được đặt tên là Batôlômêô khi chịu phép Thanh Tẩy. Thánh nhân không được thông minh như hai người anh trai của mình, nhưng ngài cũng biết đọc và biết viết. Điều này làm cho Batôlômêô rất hạnh phúc vì ngài rất ao ước được đọc Kinh Thánh. Song thân của Batôlômêô là những quý tộc. Lúc Batôlômêô còn nhỏ, gia đình đã phải chạy trốn quân thù. Họ phải lao động như những nông dân nghèo. Sau khi song thân qua đời, Batôlômêô và một người anh trai tên Stêphanô đã trẩy vào trong núi sống như những ẩn sĩ. Hai anh em chặt cây và dựng một nhà thờ nhỏ. Nhà thờ được dâng kính cho Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi người anh trai tới Matxcơva để xin gia nhập vào một đan viện, Batôlômêô vẫn tiếp tục sống một mình. Ngài mặc tu phục của đan sĩ và lấy tên là Sêgiô. Sêgiô lúc này là một thanh niên cao to vạm vỡ. Ngài có sức chịu được những cơn gió bão hung tợn và buốt lạnh của khu rừng nơi ngài sinh sống. Sêgiô sung sướng cầu nguyện cùng Thiên Chúa và yêu mến Người với tất cả tâm hồn. Sẹgiô nói rằng lửa đốt và ánh sáng là những bạn đồng hành của ngài, và thậm chí Sêgiô còn làm bạn cả với những chú gấu! Sau đó ít lâu, có những thanh niên cùng đến chia sẻ đời sống thánh thiện của thánh Sêgiô. Họ nài xin thánh nhân làm tu viện trưởng của họ và ngài đã đồng ý. Sêgiô được thụ phong linh mục và đã điều khiển tu viện cách rất khôn khéo. Lần kia, khi một số tu sĩ cùng với người anh trai của ngài, Stêphanô, lúc này đã trở về, có chuyện bất đồng với Sêgiô, Sêgiô đã lặng lẽ bỏ đi để giữ bầu khí an hòa. 4 năm sau, người ta xin Sêgiô trở về. Vừa thấy ngài, các tu sĩ rất vui mừng và họ chào đón ngài cách rất nhiệt tình. Các nhà cầm quyền trị nước cũng thường hay đến xin thánh Sêgiô khuyên bảo. Thánh nhân nổi tiếng đến nỗi người ta đã mời ngài làm giám mục một giáo phận lớn nhất bên Nga. Nhưng thánh Sêgiô khiêm tốn từ chối. Lần kia, hoàng tử xứ Matxcơva phân vân không biết có nên đem quân chinh phạt giặc Tatar đang đàn áp dân Nga hay không. Thánh Sêgiô nói : “Hoàng tử đừng sợ! Hãy dùng niềm tin mà tiến lên chống lại kẻ thù. Thiên Chúa sẽ ở với hoàng tử!” Và sau đó dân Nga đã toàn thắng. Thánh Sêgiô về trời năm 1392.
Không phải do học hành thông giỏi mà thánh Sêgiô đã được nhiều người tin tưởng và yêu mến. Chính niềm tin vào Thiên Chúa và ước muốn giúp đỡ tha nhân đã khiến thánh Sêgiô có được vinh dự này. Khi có ai bất đồng ý kiến với chúng ta hay muốn tranh cãi với chúng ta, chúng ta hãy nhớ lại chính thánh Sêgiô cũng đã trải qua những hoàn cảnh giống y như vậy. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta luôn sống an bình.
Theo truyền thuyết, thánh nữ Thekla (Têcla) là một nữ quý tộc ngoại giáo rất trẻ đẹp, sống vào thế kỷ thứ I. Ngài là người thành Iconio, Thổ Nhĩ Kỳ. Thánh nữ Thekla đọc rất nhiều sách triết học, tuy vậy những sách này chẳng thỏa mãn được khát vọng tìm hiểu về Đấng Sáng Tạo của thánh nữ. Khi thánh Phaolô tông đồ đến rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu tại Iconio, lời cầu xin muốn biết một Thiên Chúa chân thật của thánh nữ Thekla đã được khấng nhận. Nơi thánh Phaolô, Thekla cũng học biết được rằng một phụ nữ trẻ có thể sống độc thân và có thể trở nên hiền thê của Chúa Giêsu. Và thế là Thekla chẳng ham ước gì hơn là tận hiến toàn thân để phụng sự duy một Thiên Chúa. Song thân ngoại giáo của Thekla đã cố gắng hết sức để làm cho Thekla từ bỏ đức tin Công giáo nhưng không được. Vị hôn phu của Thekla, là Thamyris cũng nài xin Thekla đừng hủy bỏ việc đính hôn của hai người. Tuy nhiên, Thekla đã quyết định! Thánh nữ muốn trở nên hiền thê của Chúa Kitô chứ không phải của Thamyris. Cuối cùng,Thamyris đã tố cáo Thekla với những nhà cầm quyền. Khi Thekla vẫn cương quyết không chịu chối bỏ đức tin vào Chúa Giêsu, họ liền ra lệnh thiêu sống ngài. Người phụ nữ trẻ đẹp này đã anh dũng chuẩn bị đón nhận cái chết. Tuy nhiên, người ta kể rằng khi lửa vừa được đốt cháy thì một cơn bão từ trời đã kéo tới dập tắt đi. Sau đó, Thekla bị đem cho sư tử ăn thịt. Tuy vậy, lại một lần nữa, Thiên Chúa đã cứu mạng sống của Thekla. Thay vì chồm lên cắn xé Thekla, những con mãnh thú chỉ nhẹ nhàng tiến tới phủ phục bên cạnh Thekla và liếm chân Thekla y như những chú mèo con nuôi trong nhà vậy. Sau cùng, hoảng sợ, quan tòa đã cho Thekla được tự do. Thekla tìm đến một cái hang và thánh nữ đã sống phần đời còn lại tại đây. Thekla cầu nguyện và nói về Chúa Giêsu cho những người tới thăm hỏi ngài.
Nếu chúng ta muốn đào sâu thêm niềm tin và lòng yêu mến đối với Chúa Giêsu, chúng ta hãy nài xin Người giúp chúng ta biết sống mỗi ngày một quảng đại hơn. Bằng việc đặt Thiên Chúa lên trên và yêu mến Người trên hết mọi sự, chúng ta mới có thể thực sự yêu mến tha nhân trong cuộc sống của mình.
Phanxicô Forgiône sinh ngày 25/05/1887 gần thành Napoli nước Ý. Song thân ngài rất nghèo khó và rất vất vả. Từ thơ ấu, Phanxicô Forgiône đã có một lòng yêu thích cầu nguyện sâu xa và một lòng khát khao nên thánh mãnh liệt. Khi Phanxicô Forgiône lên 10, có một linh mục dòng Phanxicô Capuxinô tới Piêtrelcina. Phanxicô bị ấn tượng bởi lòng đơn sơ và khiêm nhường của ngài. Và Phanxicô quyết tâm rằng một ngày kia cũng sẽ là một linh mục dòng Capuxinô. Để giúp cho ước mơ của con thành sự thật, thân phụ của Phanxicô đã trẩy sang nước Mỹ tìm việc làm và kiếm tiền cho Phanxicô ăn học. Vào ngày 06/01/1903, Phanxicô Forgiône gia nhập dòng Capuxinô ở Morcon. Phanxicô nhận tên là Piô. Vào năm 1910, Piô được thụ phong linh mục. Vì sức khỏe yếu kém, các bề trên tưởng sẽ là tốt hơn nếu để Piô sống một thời gian tại quê nhà. Chính thời gian này cha Piô nhận được một ơn đặc biệt. Để nên giống Chúa Giêsu Tử Nạn Thập Giá hơn, Piô bắt đầu cảm thấy những dấu đinh của Chúa ẩn trong tay, chân và vết thương của lưỡi đòng trong cạnh sườn mình. Sau một thời gian, các vết thương này xuất hiện thường xuyên hơn, nhưng vẫn vô hình. Vào ngày 20/09/1918, năm Dấu Thánh này tỏ lộ ra bên ngoài và kéo dài suốt 50 năm sau cho tới lúc cha Piô qua đời. Sau 7 năm sống ở Piêtrelcina, cha Piô được gởi đến đan viện Capuxinô ở Foggia. Cha cảm thấy rất hạnh phúc vì sau cùng cha cũng được ở với các anh em tu sĩ Phanxicô. Và cộng đoàn cũng vui mừng vì có sự hiện diện của cha, bởi Piô luôn vui tính và hóm hỉnh. Cha Piô bắt đầu ban Bí tích Hòa Giải và chẳng bao lâu từng nhóm đông người đã kéo đến xin cha lời khuyên bảo. Vào tháng 07/1916, các bề trên của cha Piô gửi cha tới San Jovanni Rotondo, một ngôi làng hẻo lánh để cha được hưởng chút yên tĩnh. Ở đây, sức khỏe của Piô được bình phục, và Piô cũng được Thiên Chúa ban cho những ơn lạ. Piô đọc được tâm hồn của người khác, thậm chí cha có thể giúp họ xưng tội bằng cách nhắc họ nhớ lại những chi tiết mà cha nghe được từ nơi Thiên Chúa. Cha Piô cũng có ơn “lưỡng tại” (tức khả năng hiện diện ở hai nơi khác nhau trong cùng một lúc), và năm Dấu Thánh của cha tỏa ra mùi thơm của hoa hồng và hoa tím. Các bề trên của cha Piô đã hỏi cha những đặc ân này là có thực hay không, vì nếu như đó là trò chơi khăm thì Piô sẽ bị cấm dâng lễ công khai và cấm giải tội. Đây quả là một thánh giá nặng đối với Piô, nhưng cha Piô đã chấp nhận nó như một dịp để được nên giống Chúa Giêsu. Một thời gian sau, cha Piô lại được phép cử hành các Bí tích. Và một lần nữa, rất đông người lại chen chúc nhau trong nhà thờ để xem cha Piô dâng thánh lễ cũng như xếp hàng để được xưng tội với ngài. Thông thường, mỗi ngày cha Piô giải tội cho trên 100 hối nhân. Cha Piô Piêtrelcina đã dùng hầu hết cuộc đời cuộc đời linh mục của ngài để ban Bí tích Hòa Giải và khuyên bảo cùng động viên vô số bổn đạo đến từ khắp các nơi trên thế giới. Cha đã phục vụ như vậy cho tới khi về trời ngày 21/09/1968. Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn cha Piô Piêtrelcina lên bậc hiển thánh năm 2002.
Chúng ta có tin rằng trong Bí tích Hòa Giải, chúng ta được gặp chính Chúa Giêsu, Đấng biết rõ chúng ta hơn chúng ta, và yêu mến chúng ta hơn chúng ta có thể yêu mến mình không? Chúng ta hãy nài xin cha thánh Piô Piêtrelcina ban ơn soi sáng để chúng ta có thể nhận thấy những chuyện xảy ra trong đời sống của mình chính là những phương thế giúp chúng ta theo sát Chúa Giêsu hơn. Như thế, chúng ta sẽ lãnh nhận Bí tích Hòa Giải cách hiệu quả hơn.
Thánh Tôma Villanôva sinh năm 1488 tại nước Tây Ban Nha. Thánh nhân được cha mẹ yêu quý dạy cho biết phải có tấm lòng bác ái đối với những người nghèo khổ. Tôma Villanôva học hành rất giỏi và ngài đã trở thành giáo sư dạy bộ môn triết sau khi tốt nghiệp ra trường. Rồi Tôma Villanôva gia nhập dòng thánh Augustino. Sau khi thụ phong linh mục, ngài được trao phó cho nhiều chức vụ quan trọng. Cuối cùng, Tôma Villanôva được đặt làm Tổng Giám mục giáo phận thành Valencia. Các anh em linh mục thuyết phục Tôma hãy đổi bộ tu phục cũ kỹ, đã vá víu nhiều chỗ, để mặc những bộ áo đàng hoàng hơn. Tuy nhiên, thánh Tôma Villanôva nói với họ rằng những bộ áo cũ chẳng liên quan gì tới nhiệm vụ của ngài cả. Thánh nhân rất quan tâm đến những nhu cầu tinh thần của đàn chiên được trao phó cho ngài. Mỗi ngày, Tôma Villanôva cũng nuôi ăn hàng trăm người nghèo. Khi nhận được một số tiền lớn để mua những phương tiện trang bị cho căn nhà ngài ở, thánh Tôma Villanôva lại đem số tiền ấy biếu cho một bệnh viện. Ngài nói : “Một tu sĩ nghèo khó như tôi mà lại cần có đồ đạc gì?” Thật vậy, Tôma Villanôva được mọi người sống ở thời đại ngài gọi là “cha của những người nghèo khổ”. Thánh Tôma Villanôva đối xử rất dịu dàng với các tội nhân, trong lúc mà hầu hết mọi người không làm được chuyện này. Lần kia, khi thánh nhân đang cố gắng khuyến khích một người đàn ông thay đổi những ý hướng bất chính, ông liền tức giận lăng mạ ngài và lao ra khỏi phòng. “Đó là lỗi tại tôi,” – Đức Tổng giám mục khiêm tốn nói – “tại tôi hơi cứng cỏi!” Ngài không bao giờ cho phép ai nói xấu người vắng mặt. “Có lẽ họ có ý tốt khi làm chuyện đó!” – thánh nhân nói – “Tôi tin là như thế!” Trước khi qua đời, thánh Tôma Villanôva đã bố thí cho người nghèo mọi thứ ngài có. Thậm chí thánh nhân đã cho chuyển chiếc giường ngủ của ngài vào nhà tù để cho các tù nhân sử dụng. Thánh Tôma Villanôva về trời năm 1555. Ngài được Đức Thánh cha Alexandre VII tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1658.
Chúng ta hãy ghi nhớ những lời của thánh Tôma Villanôva khi muốn sống quảng đại hơn. Thánh nhân thường nói : “Nếu bạn muốn Thiên Chúa ưng nhận những lời cầu xin của bạn, bạn hãy giúp đỡ những người nghèo khổ túng cực.”
Thánh Anrê Kim Têgon là linh mục và thánh Phaolô Chong Hasang là một tín hữu Công giáo. Hai vị tử đạo này đại diện cho nhiều Kitô hữu đã hy sinh mạng sống vì đức tin tại Hàn quốc. Các ngài được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh năm 1984, nhân chuyến viếng thăm đất nước này. Kitô giáo được những giáo dân đem vào Hàn quốc hồi thế kỷ thứ XVII. Các tín hữu đã âm thầm nuôi dưỡng và tăng triển đức tin của họ dựa trên Lời Chúa. Các linh mục thừa sai trẩy tàu từ Pháp sang Hàn và giới thiệu cho dân Hàn hiểu biết về đời sống Bí tích của Hội Thánh. Thỉnh thoảng, suốt dọc thế kỷ thứ XIX, đức tin Kitô giáo bị chính phủ Hàn bách hại. Từ năm 1839 đến năm 1867, đã có tổng cộng 103 tín hữu Hàn bị giết hại. Cũng có 10 thành viên của Hiệp hội Thừa Sai Paris nước ngoài chịu tử vì đạo : gồm 3 giám mục và 7 linh mục. Điều này đã nâng tổng số các thánh tử đạo lên 113 vị. Thánh Anrê Kim Têgon và thánh Phaolô Chong Hasang là đại diện cho các Kitô hữu Hàn đã can đảm hy sinh mạng sống mình vì tình yêu Chúa Kitô. Thánh Anrê Kim Têgon, linh mục đầu tiên của Hàn quốc, đã tử vì đạo ngày 16/09/1846, chỉ một năm sau khi được thụ phong. Thân phụ của Anrê đã tử đạo năm 1821. Thánh Phaolô Chong Hasang là một giáo lý viên rất anh dũng. Thánh nhân chịu tử đạo ngày 22/09/1846. Giáo hội vẫn tiếp tục phát triển nhanh chóng tại Hàn quốc. Món quà đức tin được tiếp nhận và được tô bồi nhờ công lao của các thánh tử đạo, những người đã hy sinh làm đá lát tường.
Mỗi vị tử đạo là một bài giảng âm thầm. Khi chúng ta suy ngắm cái chết của một vị tử đạo nào đó, chúng ta học được một sứ điệp. Chúng ta hãy nài xin các thánh tử đạo Hàn quốc giúp chúng ta cũng yêu mến Chúa Giêsu và Giáo hội cách tha thiết như vậy.
Thánh Januariô sinh vào thế kỷ thứ IV tại nước Ý. Quê hương của ngài là Benevento hoặc có thể là Napoli. Januariô làm giám mục giáo phận Benevento khi xảy ra cuộc bách hại của Điôclêsianô. Thánh Januariô được dân chúng gọi là “San Gennaro”, có nghĩa là “thánh Gennaro”. Theo truyền thuyết, San Gennaro biết được một số thầy phó tế bị giam tù vì đức tin. Đức Giám mục là một người hiền lành và có lòng trắc ẩn. Ngài thực lòng quan tâm đến bổn đạo và ngài đã đi tới nhà tù để thăm viếng họ. Người cai tù báo tin cho ông thống đốc, và ông này đã sai quân lính của mình tới tìm San Gennaro. Đức Giám mục đã bị bắt cùng với một thầy phó tế và một diễn giả. Họ bị giam cùng với các tù nhân khác. Thế rồi, San Gennaro và 6 người khác đã chịu tử đạo. Cái chết của họ xảy ra gần thành phố Napoli vào khoảng năm 305. Dân thành Napoli đã dành cho Gennaro một lòng yêu mến và tôn kính đặc biệt. Thực ra, ngài được xem như thánh bổn mạng của họ. Dân thành Napoli còn tưởng nhớ San Gennaro vì một lý do đặc biệt khác : Máu tử đạo của thánh nhân đã được cất giữ hàng mấy thế kỷ trước trong một chiếc lọ nhỏ. Máu đã hóa nên sẫm và khô. Nhưng tại một vài thời điểm nào đó trong năm, máu lại hóa lỏng. Nó trở nên đỏ, đôi lúc đỏ tươi. Thỉnh thoảng máu cũng sủi bọt. Hiện tượng đặc biệt chứa trong lọ máu được tôn kính cách công khai vào thứ Bảy đầu tháng Năm, và ngày 19/09 (lễ kính thánh SanGennaro), và kéo dài suốt 8 ngày (tính từ sau lễ kính thánh nhân), đôi lúc cũng được kính vào ngày 12/12. Lọ máu hóa lỏng này được nhìn nhận và được tôn kính từ thế kỷ thứ XIII.
Chúng ta hãy nài xin thánh Januariô ban cho chúng ta một trái tim biết yêu thương và biết rung cảm để nhờ đó chúng ta có thể đem niềm vui và an ủi đến cho những người sống chung quanh mình.
Thánh Giuse Cupertinô sinh ngày 17/06/1630 tại một ngôi làng nhỏ bên nước Ý. Gia đình Giuse rất nghèo và thời thơ ấu của Giuse rất bất hạnh. Thân mẫu của Giuse Cupertinô coi ngài là một mối phiền lòng và bà đã xử đãi với Giuse rất ư ác nghiệt. Chẳng mấy chốc, Giuse trở nên trì độn và đãng trí. Giuse lang thang hết chỗ này tới chỗ nọ mà như thể chẳng đi đâu cả. Và Giuse cũng dễ nóng giận nên không được người khác quý chuộng. Rồi Giuse Cupertinô gắng sức học nghề đóng giày nhưng không thành công. Ngài đã xin vào tu dòng Phanxicô nhưng bị từ chối. Tiếp đến, Giuse gia nhập dòng Capuxinô, nhưng 8 tháng sau, Giuse Cupertinô được khuyên nên về lại gia đình. Giuse dường như chẳng thể làm được việc gì cho đàng hoàng cả! Giuse đánh rơi nhiều chồng chén đĩa và sau đó lại quên hết mọi sự. Thân mẫu Giuse Cupertinô không hài lòng khi để cậu trai 18 tuổi của bà ở lại nhà. Sau cùng, bà cũng thuyết phục được Giuse nhận làm người giúp việc cho một tu viện của dòng Phanxicô. Giuse nhận tu phục của dòng và được chỉ định trông coi đàn ngựa. Khoảng thời gian này, Giuse Cupertinô bắt đầu thay đổi. Giuse sống khiêm tốn và hiền lành hơn. Ngài làm việc cẩn thận hơn và thu lượm được nhiều kết quả. Giuse Cupertinô cũng bắt đầu làm nhiều việc hãm mình. Rồi người ta quyết định cho Giuse được làm thành viên chính thức của hội dòng, và Giuse bắt đầu học làm linh mục. Mặc dù rất chăm chỉ nhưng Giuse vẫn chỉ có chút ít thời giờ để học hành. Giuse tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa, và cuối cùng, Giuse Cupertinô được thụ phong linh mục. Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ qua cha Giuse. Hơn 70 lần người ta thấy cha Giuse được nâng lên cao khỏi mặt đất đang lúc ngài cử hành thánh lễ hay cầu nguyện. Giuse bị treo lơ lửng sát gần trần nhà giống như một ngôi sao treo ở đầu cành cây Noel. Giuse thường hay xuất thần và hoàn toàn kết hợp đang lúc trò chuyện với Thiên Chúa. Giuse sống thật thánh thiện! Mọi thứ Giuse Cupertinô xem thấy đều giúp ngài nghĩ tưởng đến Thiên Chúa. Cha Giuse Cupertinô trở nên quá nổi danh vì làm nhiều phép lạ đến nỗi người ta đã gửi ngài tới thành Assisi để tránh cho thiên hạ biết đến. Điều này khiến Giuse rất hạnh phúc vì có dịp được sống thân mật với Chúa Giêsu yêu quý của ngài. Chúa Giêsu luôn hiện diện trong trái tim của Giuse, và một ngày kia, Chúa đã đến đem Giuse về thiên đàng. Giuse Cupertinô qua đời năm 1663, lúc vừa tròn 60. Ngài được Đức Thánh cha Clêmentê XIII tôn phong hiển thánh năm 1767.
Có lẽ chúng ta cảm thấy rằng chúng ta không có tài nghệ gì đặc biệt lắm. Thậm chí có khi còn cảm thấy tuyệt vọng nữa! Đó là lúc chúng ta hãy cầu nguyện cùng thánh Giuse Cupertinô. Thánh nhân sẽ giúp chúng ta có được sự tự tin cần thiết. Ngài sẽ nhắc chúng ta nhớ rằng Chúa Giêsu đang hiện diện trong trái tim chúng ta, và đối với Chúa Giêsu, chúng ta là những người rất ư đặc biệt.
Vào giữa thế kỷ thứ III, Giáo hội vẫn còn bị đàn áp. Cuộc bách hại tàn khốc của hoàng đế Đêsiô đã cướp đi sinh mạng của thánh Giáo hoàng Fabianô. Giáo hội phải trống ngôi giáo hoàng gần một năm. Vào năm 251, người ta đã bầu một linh mục thánh thiện của Roma, là Cornêliô, lên làm Giáo hoàng. Cornêliô chấp nhận vì ngài yêu mến Chúa Kitô. Ngài sẽ phục vụ Giáo hội với cương vị Giáo hoàng ngay cả khi phải mất mạng sống mình vì nhiệm vụ. Đó là lý do thánh Giáo hoàng Cornêliô được cả thế giới ngưỡng mộ. Các giám mục Phi châu đặc biệt tuyên xưng lòng trung thành và yêu mến đối với Đức Giáo hoàng. Giám mục Cyprianô giáo phận Cartago đã gửi cho Đức Giáo hoàng những lá thư an ủi và khích lệ. Cyprianô được ơn trở lại Kitô giáo lúc 25 tuổi. Ngài rất ngạc nhiên khi thấy các Kitô hữu thành Cartago tuyên khấn giữ đức trinh khiết trọn đời ngay trước lúc ngài chịu phép Thanh Tẩy. Cuối cùng, Cyprianô thụ phong linh mục và năm 248, ngài được tấn phong giám mục. Giám mục Cyprianô hết lòng khích lệ và nâng đỡ Giáo hoàng Cornêliô. Các tác phẩm của thánh nhân minh chứng tình yêu mà các Kitô hữu đã dành cho toàn thể Giáo hội. Tình yêu này không chỉ dành riêng cho một mình giáo hoàng mà còn cho cả giáo phận và các giáo xứ địa phương. Cyprianô viết một tác phẩm sâu xa bàn về tính duy nhất của Giáo hội. Tác phẩm này vẫn là một chủ đề quan trọng đối với mọi thời đại, kể cả thời đại của chúng ta. Thánh Giáo hoàng Cornêliô qua đời đang lúc bị lưu đày tại hải cảng Roma vào tháng 09/253. Vì phải chịu đau khổ rất nhiều với tư cách là Giáo hoàng, Cornêliô được mọi người xem như là thánh tử đạo. Thánh Cyprianô qua đời 5 năm sau đó, trong thời bách hại của hoàng đế Valêrianô. Thánh nhân bị xử trảm tại thành Cartago ngày 14/09/258. Việc thánh Cornêliô và thánh Cyprianô chia sẻ chung một ngày lễ nhắc nhở chúng ta về tính duy nhất mà Giáo hội luôn luôn vui hưởng. Tính duy nhất này là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Giêsu, Vị Thủ Lãnh Giáo hội.
Chúng ta hãy nài xin thánh Cornêliô và thánh Cyprianô giúp chúng ta tăng triển lòng yêu mến đối với Giáo hội, với Đức Giáo hoàng, các Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân khắp nơi trên hoàn vũ. Các đấng có thể giúp chúng ta sống trung thực với niềm tin Công giáo của mình ngay cả trong những nghịch cảnh của cuộc sống.
Vì là Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ Maria có rất nhiều niềm vui nhưng Mẹ cũng phải chịu nhiều đau khổ. Tình yêu quảng đại đối với Con Chí Thánh đã khiến Mẹ Maria phải đau khổ khi nhìn thấy Chúa Giêsu bị các kẻ thù đối xử tàn bạo. Mẹ là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo vì Mẹ đã trải qua những đau khổ tinh thần mà những đau khổ này khủng khiếp hơn rất nhiều lần so với những khổ hình thể xác của các thánh tử đạo. Trái tim Mẹ ví tựa bàn thờ khi Mẹ dâng Con yêu quý của Mẹ là Chúa Giêsu để cứu độ chúng ta trên ngọn đồi Canvê. Thật là đau khổ biết bao khi một người mẹ rất mực đáng yêu phải chứng kiến cảnh tượng con mình chịu chết trên thập giá! Chúng ta đặc biệt tưởng nhớ Bảy niềm đau lớn lao trong cuộc đời của Mẹ : - Niềm đau thứ Nhất là khi Mẹ dâng Chúa Hài Nhi trong Đền Thánh. Tại đây, cụ tiên tri Simêon nói với Mẹ rằng một lưỡi gươm đau khổ sẽ đâm thấu tâm hồn Mẹ. Việc đó sẽ xảy ra khi Chúa Giêsu bị lên án tử. - Niềm đau thứ Hai là Đức Mẹ và thánh Giuse phải chạy trốn sang Ai Cập với Chúa Giêsu vì quân lính của vua Hêrôđê đang tìm giết Người. - Niềm đau thứ Ba xảy ra lúc Đức Mẹ tìm kiếm Chúa Giêsu suốt ba ngày tại đền thánh Giêrusalem. Sau cùng, Mẹ đã tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thờ. - Niềm đau thứ Tư của Mẹ là khi Chúa Giêsu bị quân dữ đánh đòn và đội mão gai. - Niềm đau thứ Năm là khi Mẹ xem thấy Chúa Giêsu bị treo trên cây thập giá, nơi Chúa tắt thở sau ba giờ hấp hối. - Niềm đau thứ Sáu của Mẹ là lúc thân xác bất động của Chúa Giêsu được trao phó trong vòng tay Mẹ. - Và niềm đau thứ Bảy mà Mẹ phải chịu là lúc Chúa Giêsu chịu mai táng trong mồ. Mẹ Maria đã chẳng hối tiếc hay phàn nàn gì khi phải chịu đau khổ quá nhiều trong suốt cuộc đời của Mẹ. Thay vào đó, Mẹ dâng lên Thiên Chúa những nỗi thống khổ của Mẹ vì chúng ta. Mẹ chính là Mẹ thật của mỗi người chúng ta. Bởi quá yêu thương chúng ta, Mẹ đã vui sướng cùng chịu đau khổ với Chúa Giêsu Con Mẹ để một ngày kia chúng ta cũng được chia sẻ niềm vui của Mẹ cùng với Chúa Giêsu trên thiên đàng.
Để tỏ lòng tôn kính Đức Mẹ Sầu Bi, hôm nay chúng ta hãy dâng lên Mẹ vài hy sinh nhỏ mà không phàn nàn chi. Chúng ta cũng hãy suy ngắm từng niềm đau của Mẹ và cảm ơn Mẹ về tình yêu cao cả mà Mẹ đã dành cho mỗi người chúng ta.
Hôm nay chúng ta biểu lộ tình yêu mến và lòng biết ơn của chúng ta với Chúa Giêsu qua việc Suy Tôn Thánh Giá Chúa. Ngày xưa thập giá là một trong các biểu tượng nhục nhã nhất. Hình phạt đóng đinh thập giá được dành cho những phạm nhân hết sức gian ác. Chúa Giêsu chấp nhận khổ hình thập giá là để dành lấy ơn cứu độ cho mỗi người chúng ta. Và khổ hình ấy dĩ nhiên đi kèm với sự nhục nhã. Bằng vào cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã làm cho thập giá trở nên biểu tượng của vinh quang và sự sống bất diệt. Thập giá là biểu tượng thánh thiêng nhất của Kitô giáo. Khi thập giá có mang hình ảnh của Chúa Giêsu chịu đóng đinh, lúc ấy nó được gọi là Tượng Chịu Nạn hay Thánh Giá Chúa. Thánh Giá trên bức tường trong phòng ngủ hay Thánh Giá mà chúng ta đeo quanh cổ của mình là những dấu hiệu nhắc nhở chúng ta rằng Đức Giêsu Kitô đã trả giá cho ơn cứu độ của từng người chúng ta. Trải qua nhiều thế kỷ, các Kitô hữu đạo hạnh đã cất giữ cùng bảo quản tốt những thánh tích của Thánh Giá Chúa. Người ta tin rằng hoàng đế Hêraclitô đã tìm lại được những mảnh gỗ từ cây Thánh Giá của Đức Kitô hồi năm 629. Chẳng những ông và cả đoàn du khách hành hương đã tôn kính các thánh tích này mà ông còn mời gọi tất cả mọi người trong miền ấy cùng tham gia với ông. Trước thời gian đó, các Kitô hữu cũng đã tôn kính và yêu quý biểu tượng thập giá này. Từ ngữ “Thánh Giá” cũng mang ý nghĩa những đau khổ xảy đến trên đường đời của ta. Khi ta biết chấp nhận những đau khổ này với lòng nhẫn nại và yêu mến, thì như Chúa Giêsu đã vác thập giá của Ngài, ta cũng sẽ trở nên những “người-vác-thập-giá” như Chúa Giêsu.
Chúng ta hãy suy nghĩ xem coi biểu tượng thập giá mang ý nghĩa gì đối với chúng ta là những Kitô hữu. Hôm nay chúng ta hãy ưa thích thưa lên với Chúa Giêsu lời nguyện tắt này : “Lạy Chúa Giêsu, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.”
Thánh Gioan Kim Khẩu sinh tại Antiokia vào khoảng năm 344. Thân phụ Gioan qua đời lúc ngài còn rất nhỏ. Thân mẫu quyết định ở vậy không tái hôn. Bà dành tất cả sự quan tâm để giáo dục hai người con của bà, một trai và một gái. Bà đã cố gắng hy sinh và lo liệu để Gioan được học với các danh sư lỗi lạc thời ấy. Gioan rất đỗi thông minh và có thể cũng sẽ trở nên rất danh tiếng. Mỗi khi Gioan thuyết trình thì mọi người đều chăm chú lắng nghe. Thật ra, danh xưng “kim khẩu” có nghĩa là “miệng vàng”. Tuy thế, Gioan lại muốn tận hiến đời mình cho Thiên Chúa. Gioan được thụ phong linh mục, và sau đó được đặt làm giám mục cai quản thành phố rất vĩ đại là Constantinop. Thánh Gioan Kim Khẩu là một giám mục tuyệt vời và ngài đã làm được những việc rất phi thường. Mỗi ngày, Gioan thuyết giảng một hoặc hai lần, ngoài ra Gioan còn nuôi dưỡng những người nghèo và chăm sóc các trẻ mồ côi. Gioan đã sửa lại những tập tục sai trái và ngăn cấm việc trình diễn những vở kịch xấu. Thánh nhân yêu thương mọi người, nhưng ngài không sợ lên tiếng phản đối ngay cả nữ hoàng mỗi khi bà làm điều sai quấy. Vì chống lại tội lỗi nên thánh Gioan có nhiều kẻ thù, thậm chí chính nữ hoàng cũng trở nên kẻ thù của Gioan. Bà đã trục xuất thánh nhân ra khỏi thành Constantinop. Trên đường đi đày, thánh Gioan đã bị sốt nặng, thiếu thực phẩm và thiếu ngủ. Tuy vậy, thánh nhân vẫn vui mừng chịu khổ vì Chúa Giêsu. Ngay trước lúc qua đời, thánh Gioan đã lớn tiếng thốt lên : “Xin sáng danh Đức Chúa!” Thánh Gioan Kim Khẩu về trời ngày 14/09/407 tại Thổ Nhĩ Kỳ. Có một trận mưa đá khủng khiếp đã xảy ra tại Constantinop khi Gioan qua đời. Bốn ngày sau, bà hoàng cũng băng hà. Nhưng con trai của bà đã tôn kính xác thánh Gioan và tỏ lòng hối hận vì những tổn hại mà mẹ ông đã gây ra.
Thiên Chúa biết rõ chúng ta hơn chính chúng ta biết ta. Nếu chúng ta làm mọi việc vì lòng yêu mến Thiên Chúa, chúng ta sẽ không lo sợ người khác nói xấu hay làm hại chúng ta. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Kim Khẩu ban cho chúng ta lòng can đảm của ngài.
Việc tôn kính Thánh Danh Đức Maria trong phụng vụ bắt nguồn từ thế kỷ thứ VI, lúc ấy tại mỗi giáo xứ đã có lệ cử hành thánh lễ tôn kính Thánh Danh Đức Maria. Đến năm 1683, Đức Thánh cha Innôcentê XI mới chọn ngày 12/09 hàng năm làm ngày toàn thể Giáo hội hoàn vũ long trọng mừng lễ tôn kính Thánh Danh Đức Maria, để cám ơn sự bảo trợ của Đức Mẹ đối với Giáo hội. Danh xưng “Maria” trong tiếng Do Thái có nghĩa là “ngôi sao biển”. Khi các thủy thủ gặp phải bão tố ngoài biển khơi, họ sẽ nhìn xem các ngôi sao trên bầu trời để xác định phương hướng. Chúng ta có thể ngước trông lên Mẹ như “ngôi sao” chỉ lối soi đường mà Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta. Nếu bị trệch đường, chúng ta hãy đưa mắt nhìn lên Mẹ Maria, Mẹ sẽ hướng dẫn chúng ta trở về với Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Thánh Bênađô viết : “Khi bạn phải chiến đấu với bão táp trên biển cuộc đời, hãy ngước nhìn lên sao biển là Mẹ Maria. Nếu những ngọn gió cám dỗ thổi vào chiếc thuyền lòng bạn, hay nếu bạn bị va đụng bởi những tảng đá đau khổ, hãy nhìn lên ngôi sao – và hãy gọi tên Mẹ! Nếu bạn bị những đợt sóng tham vọng hay đố kỵ xô đẩy, hãy nhìn lên ngôi sao – hãy gọi tên của Mẹ! Nếu cơn nóng giận hay tham lam đánh bạt chiếc thuyền lòng bạn, hãy nhìn lên Mẹ Maria! Nếu bạn đang thất vọng vì tội lỗi quá nhiều, hãy tưởng nghĩ đến Mẹ! Trong những khó khăn và nguy hiểm, hãy nhớ đến Mẹ - hãy réo gọi Mẹ! Đừng để Danh Thánh Mẹ rời xa môi miệng bạn. hãy tưởng nghĩ đến Mẹ luôn luôn! Có Mẹ bạn sẽ không lạc lối. Được Mẹ chở che, bạn sẽ không sợ gì. Mẹ sẽ dẫn đưa bạn đến với Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ của bạn!”
Lúc chúng ta trải qua những buồn nản, nghi ngờ hay thất vọng, chúng ta có năng tưởng nghĩ đến Thánh Danh Mẹ Maria và réo gọi Mẹ không? Chúng ta có tin rằng Mẹ Maria thực sự yêu thương chúng ta và luôn ao ước cho chúng ta được hạnh phúc không? Vậy Mẹ sẽ dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu bằng cách nào?
Thánh Laurensô Justinianô sinh năm 1381 tại thành Venice, nước Ý. Thân mẫu ngài đôi lúc đã nghĩ rằng con trai bà có ước vọng quá cao. Laurensô luôn nói với mẹ là mình muốn trở nên một vị thánh. Năm lên 19, Laurensô cảm thấy muốn phục vụ Thiên Chúa cách đặc biệt. Laurensô đã tới xin lời khuyên của người cậu, một linh mục thánh thiện thuộc dòng thánh Gioóc. “Cháu có can đảm khước từ những vui thú trần thế và sống cuộc đời sám hối đền tội không?” Người cậu hỏi cháu Laurensô. Laurensô thinh lặng hồi lâu. Sau đó, ngài nhìn lên tượng Chịu Nạn và nói : “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là niềm hy vọng của con. Trong Thánh Giá Chúa con tìm được an ủi và sức mạnh.” Thân mẫu Laurensô muốn ngài lập gia đình nhưng Laurensô đã gia nhập dòng thánh Gioóc. Công việc đầu tiên Laurensô phải làm là đi ra các ngả đường của thành phố để xin của bố thí về nuôi cộng đoàn. Laurensô Justinianô không xấu hổ với việc hành khất. Ngài nhận thấy rằng những của dâng cúng dù tiền bạc hay thực phẩm của tha nhân đều giúp hoàn thành công việc của Thiên Chúa. Thậm chí Laurensô đã tới trước nhà mình và xin bố thí. Thân mẫu ngài chất đầy thức ăn vào chiếc túi của Laurensô để ngài có thể trở về tu viện sớm hơn. Thế nhưng Laurensô Justinianô chỉ nhận lấy 2 ổ bánh mì và sau đó lại trẩy qua nhà khác. Làm như thế, Laurensô Justinianô học được cách bỏ mình trong những điều nhỏ mọn và sống mật thiết hơn với Thiên Chúa. Ngày kia, người bạn của Laurensô Justinianô tìm cách thuyết phục ngài rời bỏ tu viện. Nhưng thay vào đó, thánh nhân lại nói về ý nghĩa của cuộc đời ngắn ngủi và thật khôn ngoan chừng nào khi biết sống cho Nước Trời. Nghe xong, người bạn rất cảm động và quyết tâm sống đời đạo hạnh. Sau đó, thánh Laurensô Justinianô được đặt làm giám mục. Bổn đạo của ngài chẳng mấy chốc đã nhận biết Đức Giám mục của họ thật là một người tốt lành và thánh thiện. Mỗi ngày đều có rất nhiều người tới xin thánh nhân giúp đỡ. Giám mục Laurensô Justinianô nổi tiếng về lòng bác ái và rất thành công trong việc xây dựng hòa bình. Khi hấp hối, Laurensô Justinianô cũng chẳng cho phép mình được nằm trên giường nệm thoải mái. Thánh nhân khiêm tốn kêu lên : “Không được phép! Đức Giêsu yêu quý của tôi đã chỉ nằm giang tay trên cây gỗ thô cứng và đau khổ!” Thánh Laurensô Justinianô về trời năm 1455.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các linh mục để các ngài được tràn đầy lòng tin tưởng và yêu mến trong việc phục vụ dân Chúa và Giáo hội. Chúng ta cũng hãy nài xin Thiên Chúa ban cho các ngài sức mạnh, niềm vui và nhiều an ủi.
Trước đây, do số tài liệu có trong tay quá hiếm hoi nên Nghĩa Già chỉ có thể chia sẻ với các em và các bạn một ít mẩu chuyện các Thánh của Thiên Chúa. Nay đã sưu tầm được hầu như gần đủ hết chư Thánh và Chân phước còn thiếu trong năm, giờ xin lại được chia sẻ tiếp với cả Nhà… Dĩ nhiên trong quá trình chép lại không tránh khỏi những thiếu sót không đáng có, rất mong mọi người thể tất cho. Chân thành cám ơn.
Xin Thiên Chúa là Cha Toàn năng, qua lời bầu cử của chư vị thánh nhân nam nữ của Người, ban muôn phúc lành cho Gia đình chúng ta.
------------------------------------------------
Ngày 03 tháng Giêng THÁNH GIƠ-NOA
Thánh nữ Giơ-noa sinh vào khoảng năm 422 tại Nantê, một ngôi làng nhỏ cách thành phố Pari khoảng bốn dặm. Khi còn rất trẻ, thánh Giơ-noa đã mơ ước dâng hiến đời mình cho Đức Chúa Giêsu. Sau khi cha mẹ qua đời, Giơ-noa trẩy đến sống với bà ngoại. Hàng ngày, thánh nữ dành thời giờ để cầu nguyện. Ngài sống rất gần gũi mật thiết với Đức Chúa Giêsu và muốn giới thiệu sự tốt lành của Chúa cho mọi người. Thánh nữ Giơ-noa có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài đã cố gắng hết sức mình để làm những việc tốt cho tha nhân. Khi người dân Pari sắp phải chạy trốn khỏi địch quân khủng khiếp đến tấn công họ, thánh nữ liền tiến lên phía trước. Ngài phấn khích dân thành hãy tin cậy vào Chúa. Ngài nói rằng nếu họ ăn năn sám hối, họ sẽ được thứ tha. Dân thành đã làm theo lời Giơ-noa nói và đột nhiên quân giặc Hung Nô hung hãn đã không tấn công thành phố nữa. Không chỉ trong những khi cần thiết mà suốt cả cuộc đời, thánh nữ Giơ-noa đã thực thi lòng yêu mến và tuân phục đối với ý muốn của Thiên Chúa. Và ngài luôn luôn cố gắng bồi đắp cho hoàn hảo hơn lên mãi. Can đảm và trung thành với Chúa Giêsu là những tặng ân đặc biệt trong chứng từ thánh nữ Giơ-noa để lại cho mỗi người chúng ta.
Một trong những cách thế tối hảo để giúp đỡ quê hương đất nước là cầu nguyện cho các vị lãnh đạo. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa hướng dẫn họ vì thiện ích chung của tất cả mọi người.
(Chép từ “Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ Mỗi Ngày” của Susan Helen Wallace, FSP)