Thánh Nicôla Tôlentinô sinh năm 1245 tại Ancona, nước Ý. Song thân ngài đã phải lo lắng chờ đợi rất lâu cho tới khi có được mụn con. Nicôla là hoa trái của lời cầu nguyện và của chuyến hành hương kính viếng đền thánh Nicôla Bari. Song thân rất biết ơn thánh Nicôla Bari đến nỗi đã nhận tên ngài mà đặt cho con trai của mình. Khi lớn lên, Nicôla cho biết ngài muốn làm linh mục. Nicôla đã cầu nguyện và sống thân mật với Thiên Chúa. Các bạn hữu của gia đình Nicôla thì muốn ngài làm linh mục trông coi một xứ đạo thật giàu có để dễ được thăng quan tiến chức. Phần Nicôla, ngài không nói nhiều mà chỉ im lặng tìm hiểu. Ngày kia, Nicôla ghé vào một nhà thờ. Ngài được nghe thấy vị linh mục rất nhiệt thành thuộc dòng Augustino giảng rằng : “Đừng để lòng mình dính bén thế gian và những của cải đời tạm, vì thế gian này đang qua đi!” Nicôla suy nghĩ rất nhiều về câu nói ấy. Ngài đã bỏ đi mà những lời thuyết giảng của vị linh mục cứ vang mãi trong đầu. Nicôla nhận ra rằng chính Thiên Chúa đã dùng vị giảng thuyết này để tỏ cho ngài biết ơn gọi của ngài, đồng thời Nicôla cũng nhận biết tầm quan trọng của việc rao giảng Lời Chúa. Và Nicôla quyết định gia nhập vào dòng của vị linh mục này. Đó là dòng Augustino và vị linh mục kia chính là cha Rêginô, sau này làm cha tập sư của Nicôla. Nicôla tuyên những lời khấn thánh khi mới được 18 tuổi trọn. Sau đó, Nicôla học làm linh mục. Ngài được thụ phong khoảng năm 1270. Rồi cha Nicôla đã thuyết giảng tại nhiều xứ đạo. Một ngày kia, đang lúc cầu nguyện trong một nhà thờ. Nicôla dường như nghe thấy một giọng nói : “Hãy tới Tôlentinô! Hãy tới Tôlentinô! Hãy ở lại đó!” Ít lâu sau, Nicôla được sai tới thành phố Tôlentinô, và ngài đã trải qua 30 năm sống tại đây. Vào thời ấy, tình trạng chính trị không mấy ổn định. Nhiều người không chịu đi lễ để nghe giảng và tôn thờ Thiên Chúa. Các cha dòng thánh Augustino thấy rằng cần thiết phải rao giảng ngay trên các đường phố, và thánh Nicôla được chọn để thực hiện quyết định này. Thánh nhân đã thuyết giảng tại các nơi có đông người tụ họp. Người ta lắng nghe Nicôla giảng giải và nhiều người đã từ bỏ lối sống tội lỗi và các đam mê xấu. Họ nhất quyết sống cuộc đời tốt hơn. Cha Nicôla đã trải qua hàng giờ mục vụ tại các khu nghèo nàn của thành phố Tôlentinô. Ngài viếng thăm những người cô thế, ban Bí tích cho người bệnh hoạn và hấp hối, quan tâm đến các nhu cầu của trẻ em và thăm viếng tù nhân. Thánh Nicôla được ơn làm phép lạ ngay khi còn sống. Lần kia, thánh nhân đặt tay trên một em nhỏ và nói : “Xin Thiên Chúa nhân từ cứu chữa con!” Và lập tức em nhỏ được lành bệnh. Thánh Nicôla Tôlentinô trải qua một năm chịu bệnh trước lúc qua đời ngày 10/09/1305. Ngài được Đức Thánh cha Êugiêniô IV tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1446.
Thánh Nicôla Tôlentinô là hoa trái lời cầu nguyện của song thân ngài. Vì lắng nghe tiếng Chúa, thánh nhân đã có thể giúp đỡ nhiều người thành tâm tìm kiếm Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nài xin thánh Nicôla Tôlentinô giúp chúng ta cũng biết để ý lắng nghe tiếng Chúa như thánh nhân.
Chúng ta ít khi mừng lễ sinh nhật của các thánh. Thay vào đó, chúng ta lại mừng kỷ niệm ngày các ngài qua đời, vì đó là ngày mỗi vị được sinh vào trong vinh quang thiên quốc. Nhưng lễ sinh nhật của Đức Mẹ Maria, Mẹ chúng ta, là một dịp ngoại lệ. Chúng ta mừng ngày sinh của Mẹ vì Mẹ đến thế gian này mang theo đầy tràn ân sủng và vì Mẹ chính là Mẹ của Chúa Giêsu. Lễ sinh nhật của Mẹ ví tựa như bình minh vậy. Khi bầu trời bắt đầu ửng hồng vào mỗi buổi sáng, chúng ta nhận thấy chẳng mấy chốc mặt trời sẽ ló dạng. Tương tự như thế, ngày Đức Mẹ Maria chào đời đã đem lại cho nhân loại chúng ta một nguồn vui lớn. Ngày sinh của Mẹ mang ý nghĩa là Đức Giêsu, Đấng là Mặt Trời Công Chính, sẽ bắt đầu xuất hiện. Mẹ Maria là người phụ nữ diệu kỳ được đặc ân đem Đức Chúa Giêsu đến cho nhân loại. Cho tới nay, nếu chúng ta có Đức Maria, chúng ta ắt hẳn sẽ có Đức Chúa Giêsu. Lý do là vì Đức Mẹ luôn luôn mang theo mình Đức Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Mẹ. Khi chúng ta chạy đến với Mẹ, Mẹ sẽ dẫn chúng ta đến với Đức Chúa Giêsu. Ai sống mật thiết với Mẹ, thì cũng sẽ sống mật thiết với Thánh Tâm Con Chí Thánh của Mẹ.
Chúng ta hãy làm cho ngày sinh của Mẹ Maria hôm nay trở nên một ngày thật đặc biệt bằng cách năng đọc đi đọc lại kinh Kính Mừng.
Đây là lần thứ hai chúng ta gặp thấy danh xưng Đukê xuất hiện trong lịch kính các thánh và chân phước. (Chân phước Giacôbê Đukê, vị tử đạo người Anh, được mừng ngày 19/04. Một cách nào đó, tích truyện của ngài cũng gần giống như tích truyện của các vị tử đạo hôm này, cách riêng là Gioan Đukê). Cả Gioan Đukê và Ralph Corby đều là những linh mục. Các ngài sống vào thế kỷ thứ XVII. Các ngài đã lấy máu mình để minh chứng đức tin hồi năm 1644. Cha Gioan Đukê theo học tại đại học Đôê bên nước Anh và trở thành linh mục năm 1639. Ngài du học thêm 3 năm nữa tại Pháp, và trong khi học hành, Gioan Đukê đã dành nhiều thời giờ trong ngày để cầu nguyện. Trước khi về lại đất nước thân yêu đang bị bách hại, Gioan Đukê đã trải qua 2 tháng với các tu sĩ Xitô, sống cầu nguyện và chiêm niệm. Sau đó, vị linh mục trẻ này hoạt động một năm tại Anh quốc, và ngài đã bị bắt vì tội cất giữ quyển sách Các Nghi thức và lọ dầu thánh. Khi những kẻ bắt giam Gioan Đukê dọa sẽ làm hại đến gia đình và bạn bè nếu không khai rõ lý lịch, lúc ấy Gioan mới thú nhận mình là linh mục. Rồi Gioan Đukê bị nhốt vào một nhà tù tại Luân Đôn. Ở đó, Gioan Đukê gặp lại một linh mục bạn, cha Ralph Corby thuộc dòng Tên. Cha Ralph Corby đã làm việc tại Anh quốc suốt 12 năm trước khi ngài bị bắt vì tội dâng thánh lễ. Dòng Tên đã ra sức tìm cách cứu cha Ralph Corby. Sau cùng, cha Ralph Corby nhận được lệnh ân xá. Ralph Corby nài nỉ cha Gioan Đukê, trẻ tuổi hơn, nhận lệnh ân xá thay mình, nhưng cha Gioan Đukê không cho phép mình ra đi mà để bạn ở lại. Thực sự, không linh mục nào được phép ân xá cả! Quan toà đã lờ đi và đã xử cả hai phải chết! Vào ngày 07/09/1644, lúc 10 giờ sáng, cả hai lên xe ngựa đi thẳng tới Tybơn, nơi hành quyết. Người ta đã cạo đầu các ngài và mặc áo chùng thâm cho các ngài. Trước lúc hành quyết, mỗi người được phát biểu vài lời, và sau đó, người này ôm hôn người kia. Các ngài sẽ gặp lại nhau trong vinh quang thiên quốc.
Có ai từng hiểu thấu được tại sao lại có bất công trên đời này? Thật khó mà tha thứ khi nhìn thấy những người vô tội phải chịu đau khổ! Chúng ta hãy cầu xin với chân phước Gioan Đukê và chân phước Ralph Borby mỗi khi chúng ta cảm thấy tức giận vì một bất công nào đó. Chúng ta hãy nài xin các ngài giúp chúng ta biết sống tha thứ như các ngài.
Bétrant Garriguest sống vào đầu thế kỷ thứ XIII. Lúc ấy nước Pháp, quê hương của Bétrant, đang gặp nội chiến. Cũng có nhiều lộn xộn về vấn đề giáo huấn của Giáo hội. Song thân của Bétrant đã cố gắng sống cuộc đời thanh thản và họ đã nuôi dưỡng con trai mình trong niềm tin chân thật. Vào năm 1200, Raymuldo người thành Toulouse đã dẫn một đạo quân tấn công vào các đan viện Xitô. Ông tin vào một lạc thuyết gọi là lạc thuyết Anbigen. Ông tấn công những ai không có cùng niềm tin như ông. Raymuldo Toulouse đặc biệt bách hại các đan sĩ Xitô bởi vì các đan sĩ này đang rất nỗ lực giúp người ta tìm về và hiểu biết đức tin Công giáo. Bétrant Garriguest là linh mục thuộc dòng Xitô. Vào khoảng năm 1208, ngài gặp thánh ĐaMinh. Đó là lời mời gọi của Thiên Chúa để Bétrant bắt đầu một sứ vụ rất mực quan trọng. Bétrant là một trong số 6 thành viên cùng cộng tác với ĐaMinh lập nên một dòng mới, dòng Anh Em Thuyết Giáo, vào năm 1215. Họ thường được gọi là “dòng ĐaMinh” theo tên của thánh sáng lập. Sau đó, chân phước Bétrant Garriguest được sai tới Paris để thiết lập cơ sở. Sau một quãng thời gian ngắn, thánh ĐaMinh lại sai cha Bétrant sang Bologna để lập thêm cơ sở tại đó. Bétrant Garriguest vui vẻ vâng lời. Lúc ấy, dòng ĐaMinh phát triển mạnh. Họ rao giảng sứ điệp Tin Mừng từ thành thị tới thôn quê. Họ mong muốn mọi người hiểu biết và yêu mến đức tin Công giáo. Năm 1219, Bétrant Garriguest tháp tùng thánh ĐaMinh trong chuyến kinh lý Paris. Ngài cũng rất ngưỡng mộ và yêu mến thánh ĐaMinh. Năm 1221, anh em dòng ĐaMinh tổ chức một cuộc họp lớn gọi là Tổng Tu nghị. Bétrant Garriguest cũng tham dự cuộc họp này. Hội dòng quyết định phân chia thành 8 Tỉnh dòng nhỏ để sinh hoạt của các anh em tu sĩ cũng như các công việc của dòng mang lại kết quả hơn. Bétrant Garriguest được đặt làm bề trên giám tỉnh khu vực thuộc mạn nam nước Pháp. Ngài đã dùng phần đời còn lại của mình để lo giảng dạy và giúp tha nhân sống thân mật hơn với Thiên Chúa. Bétrant Garriguest qua đời năm 1230 và được Đức Thánh cha Lêô XIII tôn phong chân phước năm 1881.
Khi phân vân không biết phải làm gì cho cuộc sống này, chúng ta hãy cầu nguyện với chân phước Bétrant Garriguest. Bằng việc sống đức tin và cầu nguyện hàng ngày, chúng ta sẽ biết được chương trình của Thiên Chúa dành cho cuộc đời của mỗi người chúng ta.
Thánh nữ Rosa sinh khoảng năm 1235 tại thành Vitebo, nước Ý. Rosa là một thiếu nữ nghèo sống vào thời hoàng đế Frédéric đem quân chiếm đoạt đất đai của Giáo hội. Sứ mệnh đặc biệt của Rosa là làm cho người dân trong thành Vitebo và các thành lân cận vững tin vào Thiên Chúa và vào Giáo hội. Thánh Rosa thực hiện sứ vụ này khi mới chỉ là một thiếu nữ. Thật vậy, khi lên 8 tuổi, Đức Mẹ đã hiện ra với Rosa khi Rosa bị bệnh. Đức Mẹ bảo Rosa phải nêu gương sáng trong lời nói và việc làm. Dần dần, sức khoẻ Rosa được hồi phục. Thánh nữ bắt đầu suy nghĩ nhiều đến những đau khổ Chúa Giêsu phải chịu vì tội lỗi loài người. Rosa đã cầu nguyện và làm nhiều việc hãm mình để tỏ lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu. Lúc lên 12 tuổi, thánh nữ Rosa bắt đầu rao giảng tại các ngả đường thành Vitebo. Thánh nữ kêu gọi mọi người đứng lên chống lại hoàng đế vì ông đã chiếm đất của Giáo hội. Nhiều người nghe theo Rosa và điều này đã khiến cho thân phụ Rosa hoảng sợ. Ông đe sẽ trừng phạt nếu Rosa không chịu ngưng rao giảng. Nhưng Rosa đã dịu dàng trả lời thân phụ rằng : “Nếu Đức Chúa Giêsu đã chịu khổ vì con, con cũng sẽ chấp nhận chịu khổ vì Người. Con chỉ muốn thực hiện điều Thiên Chúa nói với con và con phải vâng theo lời Người.” Suốt 2 năm sau, thánh nữ Rosa vẫn tiếp tục rao giảng và ngài đã thành công đến nỗi các kẻ thù của Đức Thánh cha muốn tìm sát hại ngài. Cuối cùng, Rosa và song thân phải rời khỏi thành Vitebo. Thánh nữ tiên báo hoàng đế sẽ chết, và vài ngày sau đã xảy ra như vậy. Trở về Vitebo, Rosa đã xin vào dòng tu nhưng không được chấp nhận, vì vậy, thánh nữ phải về lại gia đình. Rosa Vitebo qua đời năm 1252, lúc mới 17 tuổi. Xác thánh nữ hiện vẫn được lưu giữ và tôn kính tại thành Vitebo.
Tuy cuộc sống ngắn ngủi nhưng thánh nữ Rosa Vitebo vẫn làm được nhiều công việc tốt. Điều gì biết là đúng thì thánh nữ quyết tâm làm dù phải gặp khó khăn hay phải thiệt vào thân. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Rosa Vitebo giúp chúng ta có được can đảm và sức mạnh như ngài.
CHÂN PHƯỚC GIOAN DULAUT và Các Bạn Tử Đạo Tháng Chín
Chân phước Gioan Dulaut là Tổng Giám mục giáo phận Arles, nước Pháp. Gioan và các bạn tử đạo của ngài được mừng kính hôm nay bởi vì các ngài đã anh dũng tử đạo trong suốt cuộc cách mạng Pháp. Sự kiện là người ta bị ép buộc phải tuyên thệ giữ bản Hiến chương 1790, bản Hiến chương này có nội dung chống lại Giáo hội. Nếu ai không tuyên thệ thì sẽ bị tống ngục. Vào năm 1792, hình phạt được chuyển thành án tử hình. Có nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đã can đảm không ký vào bản tuyên thệ ủng hộ Hiến luật mới này. Và các ngài biết rằng làm như thế thì sẽ bị xử trảm. Đức Thánh cha Piô VI đã ủng hộ các ngài và lên án bản Hiến luật. Đó là thời kỳ đau buồn nhất đối với người dân Pháp. Vào ngày 02/09/1792, một đám đông gồm hàng trăm người đã bạo loạn và đột nhập vào một tu viện cổ, hiện là nhà giam các linh mục và tu sĩ. Đám đông hỗn loạn đã xông tới nhiều linh mục và bắt các ngài phải ký vào bản tuyên thệ. Từng linh mục đã kiên quyết từ chối. Lập tức, các ngài bị giết chết. Trong số các vị tử đạo có chân phước Alexandre Lenphan, một linh mục thuộc dòng Tên. Chỉ vài phút trước khi qua đời, Alexandre đã giải tội cho một linh mục bạn. Lát sau, cả hai đều bị giết chết. Sau đó, những kẻ bạo loạn đi tới nhà thờ CátMinh, sau này cũng được dùng làm nhà tù. Chân phước Gioan Tổng Giám mục thành Arles cùng với các giám mục và linh mục khác đang bị giam tại đó. Tất cả đều từ chối tuyên thệ và tất cả đều bị sát hại. Vào ngày 03/09, cũng đám đông hỗn tạp ấy kéo nhau tới nhà dòng Lazarit. Nơi đây cũng bị biến thành nhà tù, gồm có 90 linh mục và các thầy dòng. Chỉ có 4 người thoát nạn được thôi! Tính tới lúc cuộc cách mạng kinh khủng chấm dứt, đã có 1500 Kitô hữu bị giết hại. Nhiều vị là giám mục, linh mục và tu sĩ. Các vị tử đạo tháng Chín này có 191 vị. Các ngài được Đức Thánh cha Piô XI phong chân phước năm 1926.
Chúng ta hãy nài xin các vị tử đạo tháng Chín này giúp chúng ta hiểu biết và trân trọng ân huệ rất quý giá là đức tin Công giáo. Chúng ta đừng bao giờ tỏ ra xơ cứng với hồng ân này.
Thánh Gilê sinh vào thế kỷ thứ VIII tại thành phố Athen, nước Hy Lạp. Khi song thân qua đời, Gilê đã dùng phần lớn tài sản cha mẹ để lại mà đem cho người nghèo. Vì lý do đó, và nhất là vì làm nhiều phép lạ, Gilê rất được ngưỡng mộ. Nhưng Gilê lại không muốn những lời khen ngợi và tiếng tăm này. Do vậy, để có thể phục vụ Thiên Chúa với cuộc đời mai danh ẩn tích, Gilê đã rời bỏ quê hương và trẩy tàu sang Pháp. Khi qua Pháp, Gilê tới sống một mình trong một khu rừng u ám. Ngài làm nhà trong một cái hang thô phía sau bụi gai rậm. Gilê sống ở đó và cảm thấy toại nguyện vì tránh được mối nguy hiểm tự cao tự đại khi nghe người ta khen mình. Nhưng một ngày kia, bỗng có ông vua lạ và đoàn tuỳ tùng của ông vào rừng săn bắn. Họ đuổi theo một con nai đang chạy về phía cái hang của Gilê. Con nai trốn thoát bằng cách phóng vào trong hang, cái hang nằm đàng sau bụi gai rậm rạp. Và một người trong đoàn đã bắn một mũi tên vào bụi gai, hy vọng giết được con nai. Nhưng khi cả đoàn người lao tới, họ mới phát hiện ra Gilê đang ngồi trong hang và bị thương bởi mũi tên. “Ngươi là ai và đang làm gì ở đây vậy?” – Nhà vua lên tiếng hỏi. Thánh Gilê liền thuật lại cho họ nghe toàn bộ câu chuyện về cuộc đời của ngài. Nghe xong họ liền xin lỗi Gilê. Rồi nhà vua đã sai các danh y của mình tới băng bó vết thương cho Gilê. Về sau, với lòng kính trọng, nhà vua đã tới thăm Gilê nhiều lần dù thánh nhân đã nài xin được sống thanh vắng một mình. Gilê không nhận quà biếu của vua bao giờ. Tuy nhiên, sau cùng Gilê đã bằng lòng để nhà vua xây cất một tu viện lớn tại đó. Và thánh Gilê là tu viện trưởng đầu tiên của tu viện này. Tu viện đã trở nên nổi danh đến nỗi vể sau cả một thị trấn đã được hình thành tại đây. Khi thánh Gilê qua đời, ngôi mộ an táng ngài nơi tu viện đã biến thành một ngôi đền danh tiếng và là nơi hành hương cho nhiều du khách.
Thánh Gilê nhận thức rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể làm cho chúng ta được hạnh phúc đích thực. Khi nào cảm thấy cái tôi của mình là hòn đảo, là trung tâm, khi ấy chúng ta hãy dâng lên thánh Gilê một lời nguyện. Thánh nhân sẽ giúp chúng ta biết cách đặt Thiên Chúa làm trung tâm cuộc đời và biết sống quảng đại với quỹ thời gian của mình.
Thánh Aiđan Linđisphan là một tu sĩ gốc người Ai Len sống vào thế kỷ thứ VII. Thánh nhân sống tại một tu viện rất nổi tiếng ở Iôna do thánh Côlumba thiết lập. Thánh Oswald, lên ngôi vua cai trị miền Bắc nước Anh năm 634, đã xin các nhà truyền giáo tới giảng cho thần dân ngoại đạo của ngài. Người đầu tiên đến nhưng chẳng bao lâu đã trở về phàn nàn rằng dân Anh rất ư cục tính, bướng bỉnh và phóng túng. Rồi các tu sĩ họp nhau lại để cùng giải quyết vấn đề. Thánh Aiđan lúc ấy mới nói với vị tu sĩ đã trở về : “Theo tôi nghĩ, anh đã xử quá nghiêm khắc với những người ấy.” Sau đó, thánh nhân giải thích rằng, như thánh Phaolô dạy, trước hết ta hãy trình bày những điều dể hiểu. Rồi khi đức tin của họ trưởng thành hơn, lúc ấy ta mới có thể khuyên họ làm nhiều việc trọn lành hơn theo thánh luật của Thiên Chúa. Khi các tu sĩ nghe những lời lẽ khôn ngoan ấy, họ mới quay sang nói với Aiđan : “Anh hãy là người tới đó rao giảng Tin Mừng đi!” Và Aiđan đã nhận lời lên đường. Ngài lãnh nhiệm vụ mới với lòng khiêm nhượng và tinh thần cầu nguyện. Rồi Aiđan bắt đầu rao giảng. Chính vua Oswald đã phiên dịch các bài giảng thuyết của Aiđan ra tiếng Anh cho tới khi Aiđan sử dụng được ngôn ngữ này. Thánh Aiđan cũng du lịch đây đó, nhưng ngài luôn luôn đi bộ. Ngài giảng dạy và giúp đỡ nhiều người. Aiđan tử tế với người nghèo khổ và ham thích lối sống dung dị. Thánh nhân làm nhiều việc tốt và được mọi người yêu mến. Sau 30 năm kể từ lúc thánh Aiđan đặt chân tới truyền giáo tại vùng đất này, bất cứ tu sĩ hay linh mục nào đến đây cũng đều được người dân trong làng vui vẻ tiếp đón. Trên đảo Linđisphan, thánh Aiđan đã xây cất một tu viện lớn. Vì có nhiều vị thánh đã xuất thân từ đây nên địa danh Linđisphan cũng trở nên nổi tiếng như đất thánh. Dần dần, ảnh hưởng của các nhà truyền giáo nhiệt thành này đã làm cho vùng đất phía Bắc nước Anh trở nên một vùng đất văn minh và Kitô hoá. Thánh Aiđan Linđisphan qua đời năm 651.
Chúng ta học được nơi đời sống của thánh Aiđan Linđisphan điều này : Lời chứng của người có tâm hồn vui vẻ và hào hiệp sẽ đích thực chạm tới tha nhân. Khi cần giúp sức để khám phá ra điều tốt nơi tha nhân, chúng ta hãy cầu xin với thánh Aiđan Linđisphan.
Thánh Fiacrê sinh tại Ai Len vào thế kỷ thứ VII. Để tìm kiếm một nơi thanh vắng hầu được sống thân mật với Thiên Chúa, Fiacrê đã trẩy tàu sang Pháp. Đức Giám mục Mêô đã ban cho Fiacrê một phần đất trong một khu rừng. Truyền thuyết kể rằng Đức Giám mục dẫn Fiacrê tới một khu rừng và nói với Fiacrê : “Trong vòng một ngày con xới được bao nhiêu đất thì bấy nhiêu sẽ thuộc về phần con!” Nhưng thay vì dùng cày để xới cho được nhiều đất hơn thì thánh Fiacrê lại cho thấy ngài muốn sống thật giản dị bằng cách chỉ dùng đầu gậy đi đường của ngài để xới đất. Thánh Fiacrê dọn dẹp khu đất và dựng một căn nhà nhỏ cho mình cũng như làm một căn nhà cho các du khách có chỗ dừng chân và nghỉ ngơi. Ít lâu sau, người ta tuôn đến với Fiacrê để xin ngài khuyên nhủ. Thánh Fiacrê chia sẻ cho người nghèo những gì ngài có, và ngài cũng chăm sóc những người đau yếu. Đôi lúc, Fiacrê chữa bệnh cho họ bằng những phép lạ. Ngay cả sau khi qua đời, nhiều phép lạ đã xảy ra khi người ta đến thăm ngôi nguyện đường bé nhỏ của thánh Fiacrê. Thánh Fiacrê được đặt làm thánh bổn mạng của những người làm vườn.
Thánh Fiacrê chỉ cho chúng ta thấy việc giúp đỡ những người nghèo khổ không chỉ là bổn phận của riêng những người giàu có. Ngay cả khi không có nhiều, chúng ta cũng luôn luôn có thể chia sẻ cái chúng ta đang có với những người kém may mắn hơn mình.
Thánh Gioan Tẩy Giả là người anh họ của Chúa Giêsu. Thân mẫu ngài là thánh nữ Elisabeth và thân phụ ngài là ông Zacaria. Chương đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Luca thuật lại biến cố sinh nhật tuyệt vời của thánh Gioan. Và Tin Mừng theo thánh Marcô, nơi chương thứ 6, các câu 14-29, kể lại những chi tiết tàn bạo về cái chết của Gioan Tẩy Giả. Vua Hêrôđê lấy vợ của anh mình là bà Hêrôđia. Gioan nói cho Hêrôđê biết điều ấy là sai, nhưng Hêrôđê và Hêrôđia không muốn nghe và giữ giới luật Thiên Chúa. Họ chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Và Gioan Tẩy Giả đã phải trả giá cho lòng tốt của ngài! Tuy nhiên, thánh nhân không thể hành động theo cách khác được. Ngài không im lặng trước tội lỗi và bất công. Sứ mệnh của Gioan là mời gọi người ta hối cải cuộc đời, và ngài mong muốn cho hết thảy mọi người được ơn giao hoà cùng Thiên Chúa. Hêrôđia đã giữ mối hận thù đối với Gioan. Và khi dịp thuận tiện xảy đến, bà ta đã ra tay sắp đặt để Gioan bị chém đầu. Gioan đã phải chấp nhận những hậu quả nghiệt ngã cho việc giảng dạy chân lý Phúc Âm. Thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng phép Rửa sám hối, chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Mêsia. Ngài đã làm phép Rửa cho Chúa Giêsu trong dòng sông Gio-đan và được hưởng kiến niềm vui vì sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu đã khởi sự. Gioan Tẩy Giả đã khích lệ các môn đồ của mình đi theo Chúa Giêsu. Ngài biết rằng Danh Chúa phải toả sáng ra, còn danh mình phải lu mờ đi. Trong chương thứ Nhất Phúc Âm theo thánh Gioan, thánh Gioan Tẩy Giả nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, chỉ thức tỉnh người ta hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng mà thôi! Thánh nhân mời gọi mọi người hãy sẵn sàng để chuẩn bị đón nhận Đấng Mêsia. Sứ điệp của Gioan Tẩy Giả phải chăng cũng là sứ điệp của mỗi người chúng ta?
Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Tẩy Giả giúp chúng ta luôn sẵn sàng để đón nhận Chúa Giêsu ngự đến trong cuộc sống của mình.
Thánh nữ Elisabeth Bitier sinh năm 1773 tại nước Pháp. Khi còn nhỏ, Elisabeth rất thích chơi trò xây các lâu đài trên cát. Nhiều năm sau, Elisabeth phải xây các tu viện cho các chị em trong hội dòng ngài thành lập. “Tôi đoan chắc nghề xây cất là công việc của tôi.” – Elisabeth đùa vui – “Vì tôi đã thực tập công việc này ngay từ thuở nhỏ.” Thực ra, tính đến năm 1830, 8 năm trước khi về trời, thánh nữ Elisabeth Bitier đã xây cất được tất cả hơn 60 tu viện. Trong thời gian cuộc cách mạng Pháp nổ ra, gia đình của Elisabeth đã mất hết mọi sự. Lý do là những người theo chế độ cộng hoà đã chiếm hết tài sản của giới quý tộc. Nhưng Elisabeth 19 tuổi lúc ấy rất thông minh. Ngài học luật và đã giúp gia đình làm đơn kiện và đòi lại tài sản. Khi Elisabeth được kiện và đã cứu giúp gia đình thoát khỏi hoàn cảnh hoang tàn, thì có người thợ đóng giày ở cùng xóm nói với Elisabeth : “Tôi thấy việc cô phải làm lúc này là hãy kết hôn với một ông đảng viên đảng Cộng hoà!” Tuy vậy, Elisabeth không có ý định lập gia đình với bất cứ ai – dù là quý tộc hay đảng viên đảng Cộng hoà. Phía sau bức ảnh Đức Mẹ, Elisabeth đã viết dòng chữ : “Con xin tận hiến mình con cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ mãi mãi!” Với sự trợ giúp của thánh Anrê Phơnê, Elisabeth Bitier đã thiết lập một hội dòng mới trong Giáo hội, gọi là dòng Nữ Tử Thánh Giá. Mục đích của hội dòng là giáo dục trẻ em và chăm sóc bệnh nhân. Để giúp đỡ tha nhân, Elisabeth Bitier đã phải đương đầu với bất cứ nguy hiểm nào. Lần kia, thánh nữ gặp một người đàn ông vô gia cư đang nằm liệt trong một chuồng ngựa, Elisabeth đã đem ông vào bệnh viện của dòng để săn sóc cho tới khi ông qua đời. Sáng hôm sau, viên cảnh sát trưởng đến gặp sơ Elisabeth Bitier và nói rằng sơ có thể sẽ bị bắt vì đã cất giấu một tên tội phạm. Elisabeth không tỏ ra chút gì sợ hãi. Thánh nữ nói : “Thưa ông, tôi đã chỉ làm một điều mà có lẽ bản thân ông cũng sẽ làm. Tôi đã tìm thấy bệnh nhân đáng thương này và đã săn sóc ông ấy cho tới khi ông ấy qua đời. Tôi sẵn sàng thuật lại cho quan toà biết những gì đã xảy ra.” Dĩ nhiên, lòng bác ái và chân thành của thánh nữ Elisabeth đã làm cho thánh nữ được nể trọng. Dân chúng rất khâm phục lối trả lời thẳng thắn và trong sáng của ngài. Thánh Anrê Phơnê, đấng sáng lập hội dòng Nữ Tử Thánh Giá, qua đời năm 1834. Thánh nữ Elisabeth Bitier đã viết thư cho các chị em dòng ngài rằng : “Đây thật là nỗi đau buồn và mất mát to lớn đối với chúng ta!” Elisabeth về trời ngày 26/08/1838. Ngài được Đức Thánh cha Piô XII tôn phong hiển thánh năm 1947.
Thánh nữ Elisabeth Bitier thật can đảm và giàu nghị lực. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ ban cho chúng ta ơn sống đời Kitô hữu cách nhiệt tình hơn nữa. Thánh nữ sẽ giúp chúng ta trở thành những môn đệ hào hiệp của Chúa Giêsu.
Thánh Louis sinh ngày 25/04/1214. Thân phụ ngài là vua Louis VIII cai trị nước Pháp, và thân mẫu ngài là hoàng hậu Blanche. Người ta thuật truyện rằng khi hoàng tử Louis còn nhỏ, hoàng hậu Blanche đã ôm ghì ngài vào lòng và nói : “Mẹ yêu con, hỡi con yêu dấu của mẹ, mẹ yêu con rất nhiều, nhiều như bất cứ người mẹ nào có thể yêu thương đứa con của mình. Nhưng mẹ thà thấy con chết dưới chân của mẹ còn hơn là thấy con phạm một tội trọng.” Louis hằng ghi tâm khắc cốt lời dạy của thân mẫu. Louis lớn lên trong sự dưỡng dục và ấp ủ của niềm tin Công giáo. Khi Louis lên 12 tuổi, vua cha băng hà, và Louis lên ngôi kế vị cha. Tuy nhiên, hoàng hậu Blanche đã nắm quyền cai trị nước cho tới khi Louis được 21 tuổi. Thánh Louis là một vị quân vương rất đặc biệt. Ngài kết hôn với cô Margaret, con gái của một bá tước. Cả hai rất tha thiết yêu nhau. Họ sinh được 11 người con. Louis là người chồng và là người cha tốt lành. Khi hoàng hậu Blanche còn sống, bà là cố vấn rất được Louis quý trọng. Dù bận rộn với trăm công nghìn việc, Louis cũng gắng sắp xếp thời giờ để tham dự thánh lễ và nguyện kinh Thần vụ hàng ngày. Vua thánh Louis là hội viên của dòng Ba Phanxicô và ngài sống rất mực giản dị. Louis rất quảng đại và rất có công tâm. Ngài cai trị thần dân với đức khôn ngoan, bác ái theo giáo huấn của Chúa Kitô. Đối với vua thánh Louis, tin và sống chỉ là một. Louis biết cách dàn xếp những cuộc cãi vã và tranh chấp. Ngài lắng nghe những người nghèo khổ và thiệt thòi về quyền lợi. Ngài dành thời giờ cho mọi người chứ không riêng cho những người giàu có và quyền thế. Ngài cũng ủng hộ nền giáo dục Công giáo và đã xây cất nhiều tu viện. Nhà sử học Joinville đã viết một cuốn tiểu sử về vua thánh Louis. Ông nói rằng mình đã trải qua 22 năm phục vụ nhà vua. Ông làm bạn hàng ngày với vua và ông nói rằng trong suốt những năm ấy, chưa bao giờ nghe thấy vua Louis chửi thề hay nói một lời tục tĩu nào. Vua Louis cũng không cho phép ai được dùng loại ngôn ngữ thô bỉ đó trong lâu đài của vua. Thánh vương Louis cảm thấy phải khẩn trương giúp đỡ các Kitô hữu đang chịu đau khổ tại đất thánh. Ngài muốn tham gia các cuộc thánh chiến để dành lại đất thánh đang bị những người Hồi giáo chiếm giữ. Lần đầu vua Louis bị bắt làm tù binh. Thế nhưng ngay cả ở trong tù, Louis cũng sống như một hiệp sĩ của Chúa Kitô. Louis tỏ ra hiên ngang và cao thượng trong mọi lối hành xử. Sau đó, Louis được trả tự do và được trở về cai trị vương quốc của mình ở Pháp. Tuy nhiên, chớp lấy cơ hội, Louis lại sang đất thánh lần nữa, nhưng trên đường đi Louis bị bệnh sốt thương hàn. Trước lúc qua đời, thánh Louis đã cầu nguyện : “Lạy Chúa Giêsu, con sẽ tiến vào Nhà Chúa, thờ lạy Chúa trong thánh điện của Ngài và dâng Chúa vinh quang xứng với danh Ngài!” Thánh Louis qua đời ngày 25/08/1270, lúc được 56 tuổi. Đến năm 1297, Đức Thánh cha Bonifacio VIII đã tôn phong Louis lên bậc hiển thánh.
Sống trọn vẹn những giá trị Tin Mừng ở bất cứ thời đại lịch sử nào cũng thật là điều không mấy dễ dàng. Vua thánh Louis nước Pháp, bằng gương sáng của mình, đã dạy chúng ta phải dành thời giờ cho Thiên Chúa và cho việc cầu nguyện. Nếu bị cám dỗ là quá bận rộn với công việc đến nỗi không thể cầu nguyện được, chúng ta hãy nài xin thánh vương Louis chỉ cho chúng ta bí quyết của ngài.
(Hôm nay chúng ta cũng mừng kính lễ thánh Giuse Calaxansiô)
Chúng ta hãy liên kết ngày lễ hôm nay với ngày lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, mà chúng ta đã mừng ngày 15/08. Hôm nay, chúng ta hãy suy niệm về mầu nhiệm Đức Maria được hiệp nhất với Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Mẹ trên thiên đàng. Mẹ đang ở đó, với cả linh hồn và trọn thân xác của Mẹ. Dù cho các chính phủ ngày nay thường là những chính phủ cai trị theo nguyên tắc của chế độ dân chủ, chúng ta cũng vẫn có thể hiểu được tầm quan trọng của các vua chúa cũng như các bà hoàng trong lịch sử của nhiều quốc gia. Một bà hoàng tốt thì luôn được thần dân hết lòng phục vụ và yêu mến. Đó là hình ảnh bà hoàng mà chúng ta gặp thấy nơi Đức Mẹ Maria. Mẹ thật là một Bà Hoàng dễ thương và nhân hậu. Mẹ cũng là Mẹ và là Thầy của mỗi người chúng ta. Với tư cách là Mẹ, Mẹ Maria luôn quan tâm săn sóc chúng ta. Đừng bao giờ xấu hổ khi phải cầu xin Đức Mẹ bất cứ điều gì. Đức Mẹ sẽ ban cho ta được những ơn phần hồn. Mẹ sẽ trợ giúp ta cả những ơn phần xác. Đức Mẹ cũng là người Thầy của chúng ta, vì Mẹ để lại cho chúng ta một mẫu gương, dạy ta biết cách trở nên những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, Con Mẹ. Nếu ta đón nhận Mẹ làm Nữ Vương của mình, ta sẽ được Mẹ dạy cho biết nhiều điều kỳ diệu về sự sống của Chúa Giêsu trong ta. Mẹ sẽ dẫn ta đến với Con của Mẹ. Chúng ta có thể tôn kính Mẹ Maria mỗi ngày bằng nhiều cách. Chúng ta có thể đọc kinh Kính Mừng trong ngày. Chúng ta có thể dùng một quãng thời gian thanh vắng nào đó để cầu nguyện và đọc kinh Mân Côi. Chúng ta có thể mang trong mình một mẫu ảnh hay một bức tượng nhỏ của Mẹ để nhắc nhớ ta tôn kính Mẹ bằng những lời kinh. Đó là phương thế chúng ta đặt Mẹ làm trung tâm và là Nữ Vương của lòng mình.
Chúng ta hãy năng đọc kinh Kính Mừng trong ngày : Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen
Thánh nữ Jeanne Chantal sinh năm 1572 tại thành Dijion, nước Pháp. Thân phụ ngài, ông chủ tịch quốc hội Beaugont, là một người đạo hạnh. Ông đã nuôi dạy con cái rất chu đáo sau khi người vợ qua đời. Jeanne, đứa con ông hết sức yêu quý, kết hôn với Christopher, nam tước vùng Chantal. Jeanne và Christopher đã tha thiết yêu nhau. Thiên Chúa đã ban cho họ 6 người con. Jeanne bày tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa bằng việc yêu thương chồng con rất mực. Rồi đột nhiên, một đau khổ khủng khiếp đã ập xuống trên gia đình hạnh phúc ấy. Nam tước Christopher bất ngờ bị một người bạn bắn chết trong một chuyến đi săn. Jeanne Chantal rất đau khổ. Khi Christopher qua đời, Jeanne Chantal đã tha thứ cho người đã cướp đi sinh mạng của chồng và thậm chí, thánh nữ đã nhận làm mẹ đỡ đầu cho đứa con của người ấy. Thánh nữ Jeanne Chantal xin Chúa ban cho một linh mục thánh thiện để hướng dẫn cuộc đời của ngài. Trong lúc chờ đợi, Jeanne Chantal đã cầu nguyện và nuôi dạy con cái với tình yêu thương của Thiên Chúa. Thánh nữ Jeanne Chantal thăm viếng những người nghèo khổ, bệnh tật và những người đang hấp hối. Khi gặp được thánh Phanxicô Salêsiô, Jeanne biết đây chính là vị linh mục thánh thiện mà Thiên Chúa sai tới hướng dẫn ngài. (Chúng ta mừng lễ kính thánh Phanxicô Salêsiô ngày 24/01). Theo kế hoạch của thánh Phanxicô Salêsiô, Jeanne Chantal và ba người chị em khác đã thiết lập hội dòng Thăm Viếng. Nhưng trước tiên, Jeanne phải lo cho con cái của mình, hiện đã khôn lớn, được an cư lạc nghiệp. Jeanne Chantal cũng có nhiều trách nhiệm và thách đố khác nữa. Nhưng Jeanne đã cố gắng noi theo chương trình của Thiên Chúa lúc vừa kịp biết dù cho khó khăn đến mức nào. Thánh nữ Jeanne Chantal đã can đảm trong hết mọi gian khó ngài gặp phải. Thánh nữ mở nhiều tu viện mới và ngài cũng phải chiến đấu với những cám dỗ bản thân. Thánh VinhSơn Phaolô viết : “Trong mọi khó khăn của cuộc sống, gương mặt Jeanne Chantal đã không khi nào mất đi vẻ bình thản. Jeanne Chantal đã luôn luôn trung thành với Thiên Chúa. Vì thế, tôi cho rằng Jeanne Chantal là một trong số các linh hồn rất thánh thiện mà tôi đã từng gặp thấy.” Jeanne Chantal về trời ngày 13/12/1641. Đến năm 1767, Đức Thánh cha Clêmentê XIII đã tôn phong Jeanne Chantal lên bậc hiển thánh.
Như thánh nữ Jeanne Chantal, chúng ta cũng hãy trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mình, dù cho có lúc phải hy sinh. Chúng ta hãy bắt chước lòng can đảm và chí cương quyết của thánh nữ.
Thánh nữ Gioanna Đilăng sinh năm 1666 tại miền Samour, nước Pháp. Ngài là con út trong gia đình có 12 người con. Gia đình Gioanna làm nghề buôn bán nhỏ nhưng rất thành công. Khi bà mẹ goá qua đời, Gioanna đã làm chủ cửa tiệm này. Gioanna ích kỷ và tham lam, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện làm tiền, và vì thế, đã phạm nhiều tội mọn. Gioanna trước đây rất sốt sắng đạo đức, nhưng bây giờ thì chỉ còn lại một chút lòng yêu mến hời hợt trong trái tim mà thôi. Trước đây thân mẫu Gioanna luôn luôn rộng rãi với những người hành khất. Phần Gioanna, thay vào đó, chỉ mua thức ăn vừa đủ cho bữa ăn tối. Như thế Gioanna mới có thể nói với bất cứ người hành khất nào đến gõ cửa mình rằng : “Xin lỗi, tôi không có gì để bố thí cho bạn cả!” Gioanna Đilăng cũng chẳng thấy vui gì với lối sống này. Rồi lúc được 30 tuổi, tấm gương sáng của một quả phụ tên Phanxica Chauset đã giúp Gioanna thay đổi cuộc sống. Gioanna nhận thấy rằng “việc kinh doanh” của mình không phải là để tích trữ tiền bạc nhưng là dùng để giúp đỡ tha nhân. Gioanna bắt đầu quan tâm tới những gia đình nghèo khó và chăm sóc các trẻ mồ côi. Sau cùng, Gioanna đã đóng hẳn cửa tiệm của mình để dành trọn thời giờ phục vụ tha nhân. Người ta gọi căn nhà chứa đầy trẻ mồ côi của Gioanna là “Nhà Chúa Quan Phòng”. Rồi Gioanna thuyết phục các phụ nữ khác cùng tới giúp mình. Và họ đã trở thành các nữ tu dòng thánh Anna Chúa Quan Phòng Samour. Thánh nữ Gioanna Đilăng sống rất mực hy sinh. Chính thánh Louis Grignon de Monfort đã gặp ngài. Thoạt đầu Louis tưởng rằng niềm kiêu hãnh đã làm cho Gioanna tỏ ra vẻ khổ sở như thế, nhưng rồi thánh nhân nhận thấy trái tim của Gioanna thực sự tràn đầy tình yêu Thiên Chúa. Thánh Louis nói : “Con hãy cứ tiếp tục công trình mà con đã khởi sự. Thần Khí của Chúa sẽ ở với con. Hãy vâng theo tiếng Người và đừng sợ gì!” Gioanna Đilăng qua đời cách an bình năm 1736, hưởng thọ 70 tuổi. Dân thành Samour nói rằng : “Người chủ cửa tiệm nhỏ bé này đã giúp đỡ những người nghèo khổ tại đây nhiều hơn tất cả các ông uỷ viên của thành phố gộp lại. Ôi một phụ nữ! Ôi một vị thánh!” Năm 1947, Gioanna Đilăng được Đức Thánh cha Piô XII tôn phong chân phước. Và đến năm 1982, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước Gioanna Đilăng lên bậc hiển thánh.
Hằng ngày có nhiều người phải chịu cảnh đói khát. Chúng ta có thể nhận thấy được tầm quan trọng của việc tiết kiệm thực phẩm. Thậm chí, có lần chúng ta được mời ăn một thứ gì đó mà chúng ta không thích, chúng ta cũng vẫn cứ dùng. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Gioanna Đilăng ban cho chúng ta tinh thần tự chế của ngài.
Thánh Stéphano sinh khoảng năm 970 tại Hungary. Thánh nhân tên là Vaik, nhưng khi trở thành Kitô hữu lúc 10 tuổi, người ta lại gọi ngài là Stéphano. Cùng lúc ấy, thân phụ ngài là công tước xứ Hungary và nhiều quý tộc nữa cũng gia nhập đạo Công giáo. Tuy nhiên, khi Stéphano lên ngôi vua, cả quốc gia vẫn còn thờ ngẫu thần. Một số người đã có lối sống rất bạo lực và hung tợn. Vì thế, Stéphano quyết định thiết lập Giáo hội cách vững chắc tại Hungary, và các nỗ lực của ngài đã được Thiên Chúa chúc phúc. Thánh Stéphano đã thành công cách lạ lùng trong việc dẫn đưa các thần dân của ngài tìm đến với đức tin Công giáo. Bí quyết đó là do lòng sùng kính của Stéphano đối với Đức Mẹ Maria. Thánh Stéphano đã đặt toàn vương quốc dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ, và ngài đã cho xây một thánh đường nguy nga để tôn kính Đức Mẹ. Đức Thánh cha Sylvester II đã gửi cho Stéphano một vương miện tuyệt đẹp. Báu vật này được biết tới như vương miện của thánh Stéphano. Suốt Đại Thế chiến thứ II, binh lính Mỹ đã chiếm lấy chiếc vương miện này. Họ đã cất giữ nó cách an toàn và gửi trả lại cho Hungary hồi năm 1978. Stéphano là một nhà lãnh đạo khôn ngoan và kiên quyết. Ngài buộc mọi người phải giữ giới luật công bằng. Nhưng thánh nhân cũng có lòng quảng đại và tử tế đối với những người nghèo khổ. Stéphano thích bố thí cho những người hành khất những gói tiền mà không cho họ biết ngài là ai. Một lần kia, khi Stéphano đang nguỵ trang phân phát những gói tiền này thì một đám ăn mày thô bạo đã xông tới đánh ngài. Họ kéo tóc, giật râu và lấy cắp túi tiền của Stéphano. Họ chẳng ngờ rằng họ đang bắt nạt đức vua của họ, vì lẽ họ không nhận ra ngài. Stéphano đã chấp nhận tủi nhục một cách lặng lẽ và khiêm tốn. Ngài nâng lòng trí lên Đức Mẹ và cầu nguyện : “Lạy Đức Nữ Vương Thiên Đàng, Mẹ hãy coi thần dân của Mẹ đã xử với con, là người mà Mẹ đã đặt làm vua, như thế đó! Vì họ là thần dân của Con Mẹ, nên con sẽ vui vẻ chấp nhận việc này, và con xin cám ơn Mẹ về việc ấy!” Thực sự, vua thánh Stéphano lúc ấy đã hứa rằng sẽ bố thí cho những người ăn mày này nhiều tiền hơn thế nữa. Thánh Stéphano làm vua nước Hungary suốt 42 năm. Ngài qua đời ngày 15/08/1038. Đức Thánh cha Grêgôriô VII đã phong thánh cho Stéphano năm 1083.
Không phải cứ làm vua hay làm tổng thống thì gương sáng của chúng ta mới gây được ảnh hưởng. Một số người hàng ngày đã giảng những bài thật tuyệt vời bằng chính lối sống của họ. Khi cần nhiều can đảm để bắt chước gương lành của những người sống thánh thiện, chúng ta hãy nài xin thánh Stéphano Hungary trợ giúp.
Hôm nay chúng ta cử hành thánh lễ kính một đặc ân chuyên hữu, đặc ân độc nhất vô nhị của Đức Maria, Mẹ chúng ta. Lúc ngày đời Mẹ chấm dứt nơi dương thế, Mẹ đã được Thiên Chúa mời gọi lên trời và đưa vào hưởng vinh quang thiên đàng – không chỉ có linh hồn mà cả thân xác thánh thiện của Mẹ cũng được đưa lên trời. Con Thiên Chúa đã khởi đầu cuộc sống làm người ngay tại cung lòng trinh khiết của Mẹ Maria. Cho nên, thật hợp lý khi nghĩ rằng thân xác Đức Mẹ cũng được Thiên Chúa tôn vinh ngay khi ngày đời của Đức Mẹ chấm dứt tại thế. Giờ đây Mẹ Maria đang ở trên thiên đàng. Mẹ là Nữ Vương của cả trời đất. Mẹ là Mẹ của Giáo hội. Mỗi khi Mẹ xin Đức Chúa Giêsu ban cho chúng ta những ơn sủng nào thì Thiên Chúa liền thực hiện theo lời Đức Mẹ kêu xin. Sau khi sống lại từ cõi chết, thân xác chúng ta cũng được chia sẻ phần thưởng thiên đàng. Sau khi phục sinh, thân xác chúng ta sẽ nên hoàn hảo. Chúng không còn bị bệnh tật chi phối nữa. Chúng không cần thực phẩm và nước uống để sống nữa. Chúng không bị mỏi mệt hay kiệt sức nữa. Chúng có thể đi bất cứ nơi đâu mà không cần thời giờ hay cố gắng. Thân xác chúng ta sẽ trở nên xinh đẹp và diễm lệ. Tín điều Đức Maria Mông Triệu Thăng Thiên, tức linh hồn và thân xác của Đức Maria được đưa lên thiên đàng ân thưởng, là một giáo huấn của Giáo hội Công giáo. Chân lý tuyệt vời này được Đức Thánh cha Piô XII công bố ngày 01/11/1950.
Thật là tuyệt vời khi nhớ rằng Đức Maria là Mẹ yêu dấu của mỗi người chúng ta trên thiên đàng. Mẹ thực sự yêu thương chúng ta. Mẹ vẫn ở đó để giúp đỡ chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu đến Mẹ. Mẹ muốn giúp chúng ta để, khi lìa cõi đời này, chúng ta cũng được vui hưởng hạnh phúc thiên đàng. Trong ngày sống, chúng ta hãy năng cầu khẩn với Mẹ bằng kinh Kính Mừng.
Thánh Hippolyto là linh mục và cũng là một học giả của Giáo hội Roma. Thánh nhân đã viết nhiều tác phẩm danh tiếng về lãnh vực thần học, và ngài cũng là một giáo sư vĩ đại. Tuy nhiên, Hippolyto không hài lòng với thánh Giáo hoàng Zêphyrino vì ngài cảm thấy vị Giáo hoàng này chưa mấy nhanh chóng ngăn cấm những người giảng dạy các học thuyết sai lầm. Khi thánh Giáo hoàng Zêphyrino tử đạo năm 217, thánh Callisto I được bầu lên kế vị. Hippolyto cũng không hài lòng với việc lựa chọn tân giáo hoàng này. Chính Hippolyto cũng có một đám đông người ủng hộ ngài, và ngài cũng đồng ý khi họ chọn ngài làm giáo hoàng. Hippolyto đã bỏ quan hệ với Giáo hội và trở thành “nguỵ giáo hoàng” hay còn gọi là “giáo hoàng giả”.
Thánh Pontiano được bầu làm giáo hoàng năm 230. Đến năm 235, Maximino trở thành hoàng đế của Roma. Hầu như ngay lập tức, ông bắt đầu bách hại các Kitô hữu. Hình phạt thông thường nhất dành cho các giám mục và các linh mục là đày các ngài tới những hầm mỏ nguy hiểm ở Sadinia, nước Ý. Giáo hoàng Pontiano là một trong số những người bị đày tới các hầm mỏ này. Và “nguỵ giáo hoàng” Hippolyto cũng bị đi đày như vậy.
Giáo hoàng Pontiano và Hippolyto đã bị đày ải. Gương khiêm nhường của Giáo hoàng Pontiano đã làm cho Hippolyto xúc động, và ngài đã xin trở lại với Giáo hội dù cảm thấy cơn giận vẫn dâng trào trong tim. Giáo hoàng Pontiano đã thông cảm và yêu mến cha Hippolyto. Ngài nhận thấy những nhu cầu cần giúp đỡ và khích lệ nhau trong tình yêu mà các ngài dành cho Chúa Giêsu. Cả hai cùng là thánh tử đạo và là những chứng nhân cho mọi thời đại về sự tha thứ và niềm hy vọng của mọi người tín hữu.
Nếu lúc nào chúng ta nóng giận về một điều gì đó, chúng ta có tới hai vị thánh này sẵn sàng giúp đỡ chúng ta. Chúng ta hãy nài xin thánh Pontiano ban cho chúng ta quả tim biết cảm thông, và thánh Hippolyto ban cho đức vâng phục dễ thương của ngài.
Thánh Stanislao Kostka sinh năm 1550, là con trai của một thượng nghị sĩ Ba Lan. Song thân ngài đã thuê một gia sư riêng để giáo dục ngài. Năm lên 14 tuổi, Stanislao Kostka được gởi tới học tại đại học Vienna do các cha dòng Tên phụ trách. Chẳng bao lâu, Stanislao Kostka nổi bật về lòng sốt sắng cầu nguyện và nghiên cứu học tập. Ngài mạnh mẽ phản đối những chuyện đùa giỡn thô tục. Gia đình Stanislao thường khuyến cáo những khách mời của họ đừng nói điều gì khiếm nhã trước mặt Stanislao, rằng : “Chúng tôi không muốn Stanislao bị ngất!” Còn Phaolô, anh trai của Stanislao, thì thường hay chọc ghẹo và bắt nạt Stanislao cũng như chế giễu việc cầu nguyện của ngài. Sau một cơn bạo bệnh, Stanislao Kostka cảm thấy Thiên Chúa mời gọi ngài vào tu trong dòng Tên. Thân phụ Stanislao khi biết chuyện này đã phản đối, và vị bề trên giám tỉnh dòng Tên Vienna cũng không muốn làm trái ý của ông thượng nghị sĩ. Nhưng điều đó không ngăn cản được Stanislao. Tin rằng mình có ơn kêu gọi đi tu dòng Tên, Stanislao đã trẩy bộ suốt quãng đường 350 dặm lên miền thượng Đức, nơi thánh Phêrô Canisiô đã nhận ngài. Sau đó, Stanislao được gởi sang Roma và được thánh Phanxicô Borgia, hiện đang là bề trên tổng quyền dòng Tên, đón nhận vào dòng. Lúc ấy, Stanislao Kostka mới 17 tuổi. Stanislao Kostka bắt đầu cuộc sống của một tu sĩ dòng Tên với việc đền tội và cầu nguyện rất sốt sắng. Ngài coi trọng nhân đức tuân phục và luôn cố gắng chu toàn các việc bổn phận hàng ngày cách hoàn hảo hết sức có thể. Nhưng Stanislao cũng sớm nhận thấy cái nóng mùa hè của Roma rất ư khắc nghiệt. Stanislao thường bị ngất xỉu. Vào ngày 10/08, Stanislao bệnh nặng đến nỗi phải liệt giường. Đến ngày 15/08, chỉ 9 tháng sau khi gia nhập dòng Tên, Stanislao Kostka đã qua đời tại Roma. Khi nghe tin em mình qua đời, Phaolô, anh trai của Stanislao, đã hối hận về cách xử tệ đối với người em. Sau đó, anh cũng xin gia nhập dòng Tên. Stanislao Kostka được phong thánh năm 1726, và ngài là một trong các vị thánh bổn mạng của đất nước Ba Lan.
Thánh Stanislao Kostka chẳng lo lắng gì khi bị chế giễu về việc thực hành niềm tin của mình. Thánh nhân đã có thể tha thứ cho những người nhạo báng ngài cũng như luôn kính trọng và cầu nguyện cho họ. Càng gần Chúa hơn, chúng ta sẽ càng bớt được những thành kiến về người khác.
Thánh nữ Edit Stein sinh ngày 12/10/1891 tại phần đất của nước Đức, ngày nay gọi là Ba Lan. Thân phụ Edit qua đời khi Edit mới lên 2, và vì thế thân mẫu ngài, một phụ nữ Do Thái có đức tin sâu xa, đã cật lực xoay xở để nuôi sống gia đình và chăm lo cho những đứa con của bà. Vào tuổi niên thiếu, Edit Stein bỏ đạo Do Thái và sống như một người vô thần. Năm 1911, Edit bắt đầu học triết học tại trường đại học Breslaw, sau đó chuyển sang một trường khác để có thể ghi tên vào các lớp học của Edmund Husserl, một triết gia danh tiếng thời đó. Khi Đệ I Thế Chiến bùng nổ, Edit Stein tạm gác việc học sang một bên và tình nguyện làm y tá săn sóc các thương binh. Sau cùng, Edit Stein cũng lấy được học vị tiến sĩ vào năm 1916, và nhận làm giảng viên phụ khảo cho Husserl. Sau khi đọc tự truyện của thánh nữ Têrêsa Avilla, Edit Stein cảm thấy có một năng lực lôi kéo mình trở về với đức tin Công giáo. Edit xin được rửa tội, và ngày 01/01/1922, Edit Stein trở thành Kitô hữu. Gia đình cũng như bạn bè của Edit cảm thấy khó hiểu trước quyết định của ngài, vì từ khi đảng Quốc xã đang dần lớn mạnh, họ cảm thấy Edit đã quay lưng lại với Do Thái giáo vào thời điểm mà những người Do Thái đang cần được khích lệ và nâng đỡ hơn bao giờ hết. Rồi Edit trở thành người lãnh đạo phong trào Phụ nữ Công giáo. Ngài dạy học tại một trường do các linh mục dòng ĐaMinh điều hành, và Edit cũng chuyển ngữ một số tác phẩm của thánh Tôma Aquinô. Vào năm 1934, Edit Stein trở thành nữ tu dòng CátMinh Chân Đất ở Cologna, và nhận tên mới là sơ Têrêsa Bênêđicta Thánh Giá. Edit Stein tiếp tục viết lách nhưng hầu hết các tác phẩm của thánh nữ không được xuất bản vào thời điểm ấy, vì lẽ Edit Stein thuộc giới nữ và có gốc là Do Thái. Vì đảng Quốc xã ngày một bành trướng và đe doạ hơn, Edit Stein đã buộc phải trốn sang một tu viện CátMinh bên Hà Lan. Khi Đức xâm lược Hà Lan, nhiều Kitô hữu có gốc Do Thái đã bị bắt giam và bị đày tới các trại tập trung ở Auchwitz. Edit Stein cũng là thành viên trong số họ. Edit Stein qua đời ngày 09/08/1942 tại Auchwitz, bị chết trong phòng hơi ngạt. Đến ngày 11/10/1998, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Edit Stein lên bậc hiển thánh.
Là triết gia, Edit Stein đã hăng say đi tìm chân lý. Niềm tin vào Đức Kitô đã giúp thánh nữ can đảm chấp nhận cái chết vì là người Do Thái. Chớ gì niềm tin của chúng ta cũng làm cho chúng ta thêm can đảm khi nhìn thấy những người đang phải chịu kỳ thị vì niềm tin.
Thánh Cajetan sinh tại Vicenza, nước Ý, vào năm 1480. Ngài là con trai của một bá tước. Cajetan tốt nghiệp trường đại học Padua với văn bằng cử nhân lưỡng luật, đạo và đời. Sau đó, Cajetan phục vụ tại văn phòng của giáo triều Roma. Cajetan thụ phong linh mục năm 1516. Rồi ngài trở về thành phố quê hương Vicenza và làm việc mục vụ tại đây. Dù cho những bạn bé quý tộc của Cajetan ra sức phản đối và giận dữ thì thánh nhân vẫn tham gia với nhóm người khiêm tốn, chuyên phục vụ các bệnh nhân và những người nghèo khổ. Cajetan đi khắp thành phố tìm kiếm những người bất hạnh và chính ngài đã tự tay phục vụ họ. Cajetan vào bệnh viện săn sóc những người mang những chứng bệnh kinh tởm nhất. Tại các thành phố khác, thánh Cajetan cũng làm các việc từ thiện ấy. Thánh nhân cũng thường khuyến khích mọi người hãy năng lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Ngài nói : “Tôi sẽ không bao giờ vui sướng cho tới khi nào được thấy các Kitô hữu cùng nhau tiến lên lãnh nhận Bánh Ban Sự Sống với lòng hăm hở vui mừng, chứ không lo buồn tủi hổ.” Cùng với ba người đạo đức khác, thánh Cajetan đã thiết lập một tu hội giáo sĩ dòng, gọi là tu hội Các Anh Em Dòng Thêatin, chuyên đi thuyết giảng. Họ khuyến khích việc năng xưng tội, lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, giúp bệnh nhân và làm những công việc từ thiện khác. Thánh Cajetan qua đời lúc được 67 tuổi. Trong cơn bạo bệnh cuối cùng, thánh nhân chỉ nằm trên những tấm ván thô cứng dù các bác sĩ khuyên ngài nên dùng nệm êm. Nhưng Cajetan nói : “Đấng Cứu Chuộc của tôi đã chết trên cây thập giá. Vậy ít ra, hãy để tôi được chết trên tấm gỗ này!” Cajetan về trời ngày 07/08/1547 tại thành phố Napoli. Tới năm 1671, Đức Thánh cha Clêmentê X tôn phong Cajetan lên bậc hiển thánh.
Để noi gương vị thánh này, chúng ta hãy đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm đời sống của chúng ta. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh Cajetan giúp chúng ta biết yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể như ngài.
Các Tin Mừng nhất lãm (Matthêô, Marcô, Luca) đều thuật lại biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Hôm trước ngày chịu khổ nạn, Chúa Giêsu đã cho ba tông đồ của Chúa nhìn thấy vinh quang Người tỏ rạng. Người làm như thế nhằm kiện cường lòng tin của các tông đồ. Chúa Giêsu đem Phêrô, Giacôbê và Gioan cùng với Người lên ngọn núi Tabor, nhọn núi nằm giữa miền Galilêa. Lúc đang ở với nhau, đột nhiên khuôn mặt của Chúa Giêsu trở nên xán lạn như mặt trời, và áo Người trắng tinh như tuyết. Các tông đồ xúc động đến lặng người! Khi các ông còn đang mải nhìn thì có hai ngôn sứ rất nổi danh trong Cựu Ước hiện ra. Đó Môsê và Êlia. Hai ngài đang đàm đạo với Chúa Giêsu. Bạn hãy hình dung xem niềm vui mà các tông đồ được cảm nghiệm lúc ấy : “Thưa Thầy!” – thánh Phêrô nói – “Chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy muốn, chúng con sẽ làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê và một cho Êlia.” Thực sự, lúc ấy thánh Phêrô không biết mình nói gì nữa, vì ngài vừa run rẩy, vừa ngạc nhiên lại vừa kính sợ. Khi Phêrô đang nói thì một đám mây sáng chói bao phủ lấy các ngài, và từ đám mây có tiếng của Chúa Cha phán rằng : “Này là Con Ta yêu dấu! Hãy vâng nghe lời Người!” Nghe lời đó, các tông đồ sợ hãi đến nỗi đã ngã nhào xuống đất. Rồi Chúa Giêsu đến gần và chạm tới các ông. Người nói : “Hãy chỗi dậy! Đừng sợ!” Khi nhìn lên, các ông chẳng thấy ai trừ ra một mình Chúa Giêsu. Lúc xuống núi, Chúa Giêsu căn dặn họ đừng nói với ai về chuyện vừa xảy ra cho đến khi Người từ cõi chết sống lại Lúc ấy, họ không hiểu lời Người nói. Nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh vinh hiển, họ mới hiểu được lời của Người.
Chúng ta hãy lắng nghe điều Chúa Giêsu nói với chúng ta. Người vẫn tiếp tục nói với chúng ta qua Kinh Thánh, qua Đức Thánh cha, các đức giám mục, các linh mục và qua những giảng viên giáo lý trong Hội Thánh của Chúa.
Hôm nay chúng ta cử hành thánh lễ cung hiến một trong những đại thánh đường ở Roma. Thánh đường Đức Maria được xây cất vào thế kỷ thứ IV dưới thời Đức Giáo hoàng Libêriô. Truyện kể rằng chính Đức Mẹ đã chọn nơi này để người ta xây ngôi thánh đường tôn kính Mẹ. Mẹ đã hiện thân ra với đôi vợ chồng sở hữu mảnh đất cũng như với Đức Giáo hoàng, bảo họ rằng khoảnh đất trên ngọn đồi được bao phủ đầy tuyết kia chính là nơi Đức Mẹ đã chọn. Sáng hôm sau, nhằm ngày 05/08, một thời điểm rất nóng trong năm ở Roma, có một lớp tuyết bao phủ ngọn đồi Esquiline. Đôi vợ chồng đã xin dâng phần đất cũng như tiền bạc cần thiết để xây ngôi thánh đường như là món quà dâng kính Đức Mẹ. Thoạt tiên, ngôi thánh đường này mang tên là Vương cung thánh đường Libêriô, theo tên của Đức Giáo hoàng Libêriô. Nó cũng được gọi là thánh đường Đức Mẹ Xuống Tuyết để nhắc nhở sự kiện Đức Mẹ đã chỉ cho biết mảnh đất dành cho việc xây cất. Sau đó, ngôi thánh đường được Đức Thánh cha Sixtô III cung hiến cho Đức Maria sau khi Công đồng chung Êphêsô năm 431 tuyên bố tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Ngôi thánh đường chính là một nhắc nhở tuyệt đẹp về tình yêu và lòng tôn kính mà Giáo hội dành tặng cho Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng “Cả” được thêm vào danh hiệu “Thánh đường Đức Bà” bởi vì đây là ngôi thánh đường đầu tiên được xây cất ở Tây phương để tôn kính Đức Mẹ. Bên trong thánh đường có máng cỏ Bêlem nơi Đức Maria đã đưa nôi Chúa Hài Nhi Giêsu. Điều này biểu lộ lòng tôn kính ngày Chúa Giáng sinh, với bức hình Chúa Hài Nhi nhỏ bằng bạc đang nằm trong máng cỏ.
Giáo hội tôn kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa với những ngôi đền và thánh đường rất đặc biệt để các Kitô hữu có thể đến viếng thăm nhằm bày tỏ lòng yêu mến đối với Đức Mẹ và cầu xin Người ban cho ơn lành. Hành hương đến một trong các đền thờ hay thánh đường này thật là một cảm nghiệm đức tin thú vị.
Thánh Philipphê Bênizi sinh ngày 15/08/1233 tại Florentia, nước Ý. Philipphê trở thành bác sĩ khi mới 19 tuổi, và ngài đã mở một phòng khám bệnh tại quê nhà. Chỉ một năm sau, Philipphê Bênizi bỏ nghề bác sĩ và xin gia nhập hội dòng Tôi Tớ Đức Mẹ. Philipphê Bênizi được thụ phong linh mục tại Siena năm 1258. Chẳng bao lâu, cha Philipphê Bênizi trở nên rất nổi danh vì tài thuyết giảng. Ngài cũng phục vụ hội dòng với chức vụ tập sự và bề trên. Năm 1267, Philipphê Bênizi được bầu làm bề trên tổng quyền của hội dòng dù ngài đã cố gắng từ chối việc đề cử này. Philipphê Bênizi đã chăm chỉ làm việc để thiết lập quy luật của dòng, và người ta rất ngưỡng mộ Philipphê vì đời sống thánh thiện. Cha Philipphê Bênizi cũng được ơn làm nhiều phép lạ. Năm 1268, Đức Thánh cha Clêmentê V qua đời, và cha Philipphê Bênizi là một trong những ứng viên sẽ được chọn lên kế vị. Sợ rằng mình có thể sẽ đắc cử, Philipphê Bênizi đã chạy trốn vào một hang động và ẩn mình cho tới khi đức Grêgôriô X được chọn. Do đức khiêm nhường và lòng yêu mến, cha Philipphê Bênizi đã đem nhiều người trở về với Giáo hội. Ngài cũng là người hay giải hoà. Về cuối đời, cha Philipphê xin từ chức bề trên tổng quyền, và cha đã sống những ngày cuối đời tại một căn nhà khiêm tốn và nghèo khó của dòng. Cha Philipphê Bênizi đã qua đời tại đó vào ngày 22/08/1285. Ngài được tôn phong hiển thánh năm 1671.
Như thánh Philipphê Bênizi, chúng ta hãy cố gắng trau dồi những đức tính đơn thành và khiêm tốn. Những đức tính này giúp chúng ta tin tưởng vào Chúa chứ không vào mình, và cũng với đức tính này, chúng ta sẽ nên gương thánh thiện đích thực cho người khác.
Thánh Phêrô Kim Ngôn sinh trưởng tại một thị trấn nhỏ miền Imola, nước Ý. Ngài sống vào thế kỷ thứ V. Giám mục Cornélio thuộc giáo phận Imola đã dạy dỗ và phong cho Phêrô thừa tác vụ Phó tế. Ngay từ nhỏ, Phêrô đã hiểu được rằng người ta chỉ thực sự vĩ đại khi biết mặc lấy tinh thần của Chúa Kitô và làm chủ các đam mê của mình. Khi Đức Tổng Giám mục Ravenna, nước Ý, qua đời, Đức Thánh cha Sixtô III đã chỉ định Phêrô lên thay thế ngài. Lúc ấy khoảng năm 433. Với cương vị là linh mục và giám mục, thánh Phêrô đã làm việc rất có hiệu quả. Ngài đã loại bỏ hết các thói tục của dân ngoại vốn tồn tại trong giáo phận suốt nhiều năm qua. Ngài nâng đỡ niềm tin của các Kitô hữu trong giáo phận của ngài. Thánh Phêrô nổi danh nhờ tài giảng thuyết. Từ ngữ “Chrysologos” có nghĩa là “lời vàng”. Quả vậy, các bài giảng lễ và các huấn từ của thánh Phêrô thật vắn gọn và súc tích, và sứ điệp của thánh nhân quả thật có giá trị hơn vàng. Thánh Phêrô thuyết giảng với tấm lòng nhiệt thành bốc lửa đến nỗi người ta phải nín thở mỗi khi nghe ngài. Trong các bài giảng của mình, thánh Phêrô khuyến khích mọi người hãy năng đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể hơn. Ngài muốn mọi người nhận thức rằng Mình Thánh Chúa Kitô chính là lương thực hàng ngày nuôi sống linh hồn ta. Đức Tổng Giám mục tốt phúc này cũng ra sức hoạt động cho sự hiệp nhất Giáo hội. Ngài đã giúp người ta phân biệt những điều thuộc và không thuộc đức tin Công giáo. Ngài cũng cố gắng gìn giữ hoà bình. Thánh Phêrô Kim Ngôn qua đời năm 450 tại Imola, quê hương ngài sinh trưởng. Vì những bài giảng thuyết tuyệt vời kèm theo những giáo huấn rất mực sâu sắc, thánh Phêrô Kim Ngôn đã được Đức Thánh cha Bênêđictô XIII tôn nhận là Tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1729. Ngày nay người ta còn giữ lại được khoảng 180 bài thuyết giảng của ngài.
Thánh Phêrô Kim Ngôn đã rao giảng một sứ điệp đơn sơ dễ hiểu. Chúng ta hãy nên giống ngài qua việc đem Tin Mừng của Đức Chúa Giêsu ra thực hành với lòng yêu mến và quảng đại. Đó là sứ điệp mà mọi người sẽ hiểu biết và trân quý.
Thánh nữ Matta là chị ruột của Maria và Lazaro. Các ngài sống tại một ngôi làng nhỏ bé tên Bêtania, gần thành phố Giêrusalem. Các ngài là những người bạn rất thân của Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu cũng thường hay đến thăm các ngài. Thật vậy, sách Tin Mừng nói cho chúng ta biết : “Chúa Giêsu yêu Matta, Maria và Lazaro.” Chính thánh nữ Matta đã phục vụ Chúa Giêsu cách rất âu yếm khi Người đến thăm gia đình Matta. Một ngày kia, thánh nữ Matta đang bận sửa soạn bữa ăn cho Chúa Giêsu và các tông đồ của Người. Thánh nữ nhận thấy rằng công việc sẽ dễ dàng hơn nếu cô Maria em ngài phụ giúp ngài một tay. Matta thấy Maria đang ngồi bên chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người. Matta liền đề nghị : “Thưa Thầy, xin Thầy bảo em con giúp con với!” Chúa Giêsu rất hài lòng với công việc phục vụ dễ thương của Matta. Tuy vậy, Người muốn cho Matta hiểu rằng việc nghe Lời Chúa và cầu nguyện thì có tầm quan trọng hơn. Vì thế, Chúa Giêsu đã dịu dàng nói : “Matta, Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện! Chỉ có một chuyện cần mà thôi! Maria em con đã chọn phần tốt nhất!” Lòng tin tưởng mãnh liệt vào Chúa Giêsu của thánh nữ Matta còn được biểu lộ khi em trai Lazaro qua đời. Ngay lúc nghe tin Chúa Giêsu đang đến Bêtania, Matta đã đi ra đón tiếp Người. Matta tin tưởng vào Chúa Giêsu và thốt cách rất tự nhiên : “Lạy Thầy, nếu Thầy ở đây thì em con không chết!” Sau đó, Chúa Giêsu nói với Matta rằng em Lazaro sẽ sống lại. Người nói : “Ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ sống. Con có tin điều đó không?” Và Matta thưa : “Lạy Thầy, vâng, con tin rằng Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa đã đến trong thế gian.” Hôm ấy, Đức Chúa Giêsu đã làm một phép lạ vĩ đại là cho Lazaro sống lại từ cõi chết! Sau đó, Chúa Giêsu lại đến dùng bữa với Lazaro, Matta và Maria. Thánh nữ Matta phục vụ bàn ăn như thường lệ. Tuy nhiên, lần này với một thái độ đáng yêu hơn : Matta đã phục vụ với một trái tim thật vui tươi!
Thánh nữ Matta đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về lòng hiếu khách. Khi chúng ta chào đón hay phục vụ ai, Chúa Giêsu coi đó như là chúng ta làm cho chính bản thân Người. Thánh nữ Matta cũng nêu gương sáng về lòng tin tưởng và niềm trông cậy. Ngài là bạn thân của Chúa Giêsu và ngài biết có thể tin tưởng vào lời Chúa Giêsu đã nói. Xin thánh nữ Matta cũng giúp chúng ta biết tạo mối tương quan thân thiện với Chúa Giêsu như ngài.
Maria Magdalena Matinengo sinh năm 1687, tại Brescia, nước Ý. Thân mẫu Maria qua đời ít lâu sau khi sinh hạ ngài. Lúc còn nhỏ, Maria chịu ảnh hưởng của các vị thánh, và ngài đã cố gắng bắt chước họ trong cầu nguyện và thực hành các việc đền tội. Lên 18 tuổi, Maria Magdalena Metinengo gia nhập hội dòng các nữ tu Capuxinô ngay tại quê nhà. Ngài đã sống một cuộc đời cầu nguyện, đền tội, và Thiên Chúa đã ban cho ngài những ân sủng đặc biệt, kể cả ơn làm được phép lạ. Sơ Maria đặc biệt tận hiến đời mình cho Chúa Giêsu Tử Nạn và thường hay suy ngẫm từng cực hình mà Người đã chịu để cứu chuộc các tội nhân. Nhiều người đã đến với sơ Maria xin lời cầu nguyện, và sơ đã khích lệ cũng như giúp họ nhận ra những điều cần làm để loại bớt những khó khăn trong cuộc sống. Đôi lúc, sơ Maria có thể đọc được những tư tưởng của họ và tiên báo cả những biến cố tương lai. Sơ Maria Magdalena Matinengo phục vụ cộng đoàn qua các chức vụ tập sự và giữ cổng, và chị em cũng chọn ngài làm Mẹ bề trên hai nhiệm kỳ. Maria là người khôn ngoan, quảng đại và có thể làm bất cứ việc gì khi chị em cần đến. Maria Magdalena Matinengo qua đời năm 1737, lúc được 50 tuổi. Ngài được Đức Thánh cha Lêô XIII tôn phong lên bậc chân phước.
Chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu Tử Nạn bằng việc chu toàn thật tốt những nhiệm vụ được trao phó cho mình, nhất là những công việc chúng ta không ưa thích. Thay vì phàn nàn về những chuyện vặt vãnh trong nhà hay việc học ở trường, chúng ta hãy xem đó như các việc đền tội mà các việc này sẽ giúp chúng ta càng ngày càng trở nên giống Chúa Giêsu hơn.
Annô Bransma được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khổ tại Hà Lan vào năm 1881. Năm 17 tuổi, ngài vào tu dòng CátMinh và nhận tên là Titô. Khi còn là tập sinh, Titô đã xuất bản tập sách ngài chuyển ngữ qua tiếng Hà Lan với nhan đề “Thánh nữ Têrêsa thành Avilla”. Titô cũng lập ra tờ tạp chí cho dòng CátMinh, mà sau này đã phục vụ đông đảo các tín hữu Hà Lan. Titô được thụ phong linh mục lúc 24 tuổi. Sau khi du học Roma, ngài trở về Hà Lan và tiếp tục công việc chuyển dịch các tác phẩm của thánh Têrêsa Avilla. Titô lại thiết lập thêm tờ tạp chí truyền bá linh đạo CátMinh và ngài cũng biên tập cho tờ báo địa phương. Từ năm 1923 tới 1942, Titô Bransma dạy triết học. Suốt thời gian này, Titô nổi danh như một phóng viên. Ngài đã thẳng thắn chống lại đảng Quốc xã, chống lại các triết lý và tội ác giết người Do Thái của họ. Titô đã bảo vệ các trường Công giáo và không để cho các sinh viên gốc Do Thái bị đuổi khỏi trường khi Đức Quốc xã chiếm đóng Hà Lan. Lợi dụng tiếng tăm của mình như một phóng viên, Titô Bransma đã thuyết phục các biên tập viên tờ báo Công giáo không xuất bản những tập tin cho đảng Quốc xã. Cảnh sát mật của Đức Quốc xã đã bắt giam Titô Bransma ngày 19/01/1942. Trong lúc ở tù, Titô đã sáng tác văn thơ và viết lại những suy niệm về các chặng đàng Thánh Giá. Vào tháng 6, Titô Bransma được gởi tới trại tập trung Đacô gần Munich, nước Đức. Titô chết vì bị tiêm thuốc độc ngày 26/07/1942. Đến năm 1985, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Titô Bransma lên bậc chân phước.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy yêu thương mọi người – không phân biệt quốc gia, chủng tộc, tôn giáo… vì Thiên Chúa là Cha của hết thảy mọi người. Chúng ta hãy nghĩ về mọi người như là anh chị em của mình. Là những Kitô hữu, chúng ta hãy cố gắng làm những gì có thể để mọi người được đối xử công bằng.
Giuse Malof sinh năm 1828 tại Lebanon. Gia đình Giuse rất nghèo, và thân phụ Giuse đã qua đời khi ngài còn rất nhỏ. Giuse và các anh chị em được nuôi dạy bởi thân mẫu và người cậu. Vì được hấp thụ một nền giáo dục chân thành nên Giuse và các anh chị em đã cảm hiểu và yêu mến đức tin của mình cách rất tha thiết. Nơi nhà thờ, Giuse tham gia giúp lễ và ca đoàn. Ở nhà tư, Giuse giúp chăn giữ chiên cừu và dành nhiều thời giờ để cầu nguyện cũng như suy ngẫm một mình. Guise có hai người cậu đi tu, và ngài thích viếng thăm các cậu để bắt chước lối sống của các cậu. Khi Giuse lên 23, ngài đã xin vào một tu viện và nhận tên là Sabel. Khấn dòng xong, Sabel theo học triết học và thần học. Sau đó, Sabel được thụ phong linh mục và ngài đã sống cuộc đời cầu nguyện, hãm mình đền tội và chăm chỉ làm việc. Đó là những công việc Sabel Malof rất ưa thích và ngài cảm thấy rất hạnh phúc. Năm 1866, Sabel lui vào trong một ẩn am sống cuộc đời biệt lập. Sabel cảm thấy Thiên Chúa mời gọi mình sống thân mật với Người qua lối sống này. Và Sabel đã sống trong căn phòng nhỏ bé đó suốt 23 năm, dành hầu hết thời giờ để cầu nguyện và dâng thánh lễ. Dù là cố gắng sống ẩn mình, nhiều người vẫn tìm đến với thánh nhân để xin ngài cầu nguyện và khuyên bảo. Năm 1898, Sabel Malof đã bị đột quỵ đang lúc cử hành thánh lễ. Ngài được đưa về phòng và không thể dâng lễ được nữa. Sabel Malof qua đời 8 ngày sau đó, vào dịp lễ Giáng Sinh. Ngôi mộ của ngài đã biến thành địa điểm hành hương. Trong năm 1950, mỗi ngày có khoảng 15.000 người đã đến kính viếng mộ ngài. Đức Thánh cha Phaolô VI đã phong thánh cho Sabel Malof vào năm 1977.
Khi cầu nguyện, chúng ta làm một việc rất quan trọng và hữu ích không chỉ cho riêng bản thân chúng ta mà còn cho toàn thể thế giới. Khi gặp những khó khăn hay vấn đề nan giải, chúng ta hãy noi gương thánh Sabel Malof và hãy dùng những phương thế thích hợp cho riêng mình.
Césaré Rossi sinh năm 1559 tại Brindisi, nước Ý. Brindisi là một phần lãnh thổ của tiểu quốc Napoli. Césaré nhận tên là Laurenso khi trở thành một tu sĩ dòng Capuxinô Phanxicô lúc 16 tuổi. Sau đó, ngài được gửi tới trường đại học Paris để học các môn thần học, triết học và Kinh Thánh. Laurenso cũng học các tiếng Latinh, Hy Lạp, Hipri, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Syria nữa. Sau khi thụ phong linh mục, thánh Laurenso Brindisi đã trở thành một thầy dạy danh tiếng. Vì biết nhiều ngoại ngữ, thánh Laurenso đã có thể tiếp cận với nhiều người khác nhau. Rồi Laurenso được sai đi thiết lập tu viện của dòng tại Áo. Vua nước Áo, Rudolph II, không muốn cho hội dòng đến đất nước của ông, nhưng sự quan tâm và dịu dàng của thánh Laurenso đối với các bệnh nhân dịch tả đã khiến cho hoàng đế Rudolph cuối cùng phải ưng thuận. Tiếp đến, hoàng đế lại xin thánh Laurenso Brindisi thuyết phục các ông hoàng nước Đức chinh phạt quân Thổ, vì Thổ đang tìm cách chinh phục nước Hungary. Và Laurenso đã thuyết phục được các ông hoàng bên Đức. Tuy nhiên, các thống lãnh đã nài xin thánh Laurenso cùng họ ra trận để chiến đấu và chiến thắng. Khi binh lính thấy lực lượng đông đảo và hùng hậu của quân Thổ, chân tay họ đã bủn rủn và muốn bỏ cuộc. Vì thế, thánh Laurenso đã phải cưỡi ngựa đi trước đoàn quân. Laurenso chỉ được trang bị bằng một cây Thánh Giá duy nhất. Rồi các binh sĩ Đức lấy lại nhuệ khí và họ đã chiến đấu rất can đảm. Cuối cùng, quân Thổ hoàn toàn bị bại trận. Thánh Laurenso Brindisi được hoan hô nhiệt liệt, nhưng ngài chẳng bao giờ tự hào vì đã thành công. Laurenso Brindisi đặt tin tưởng nơi Chúa là Đấng đã ban cho ngài chiến thắng. Năm 1602, thánh Laurenso Brindisi được cử làm tổng đại diện của hội dòng. Thánh nhân đã làm việc, giảng dạy và viết sách để truyền bá Tin Mừng. Thánh nhân cũng thực hiện những cuộc đàm phán hoà bình quan trọng tại Munich ở Đức và Madrit ở Tây Ban Nha. Các vị lãnh đạo của những nơi này đã lắng nghe Laurenso Brindisi và kết quả rất thành công. Sau đó thánh Laurenso Brindisi trải qua một cơn bạo bệnh. Thánh nhân đã kiệt lực đang khi du lịch trong cái nóng mùa hè khắc nghiệt. Laurenso Brindisi qua đời đúng vào ngày kỷ niệm sinh nhật của ngài, 22/07/1619. Laurenso Brindisi được Đức Thánh cha Lêô XIII tôn phong hiển thánh năm 1881. Đến năm 1959, Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII đã ban tặng thánh Laurenso Brindisi danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh.
Cầu nguyện là bí quyết để thành công trong cuộc sống. Chúng ta hãy nài xin thánh Laurenso Brindisi giúp chúng ta mỗi ngày biết dành ra một chút thời giờ để trò chuyện với Thiên Chúa.
Vị thánh này sống ở thế kỷ thứ I. Những điều chúng ta biết về thánh nhân được trích từ các tài liệu và bài giảng của hai thánh Bêđa và Phêrô Kim Ngôn. Thánh Apôllinariô sinh tại Antiôkia. Ngài là môn đệ của thánh Phêrô. Thánh Phêrô đã đặt Apôllinariô làm giám mục và sai ngài tới truyền giáo tại Ravenna, nước Ý. Ở đó, Apôllinariô đã làm cho nhiều người trở về với Giáo hội bằng gương sáng đời sống thánh thiện cũng như bằng những lời ngài rao giảng. Nhân danh Đức Kitô, thánh Apôllinariô có thể chữa lành những người đau bệnh. Thánh Apôllinariô làm giám mục trong thời trị vì của hoàng đế Vespasianô. Vì những cuộc bách hại các Kitô hữu, Apôllinariô đã bị đi đày 4 lần. Thực sự, không chắc Apôllinariô đã bị chết vì đức tin, nhưng thánh nhân đã bị giam cầm và bị hành hạ rất nhiều lần trong suốt 20 năm làm giám mục giáo phận Ravenna. Thánh nhân được dân chúng tôn nhận như vị thánh tử đạo bởi những cuộc bách hại ngài chịu vì Chúa Kitô, thậm chí dù ngài đã làm ơn cứu sống những người bách hại ngài.
Các thánh tử đạo là những chứng nhân của Chúa Kitô và của Tin Mừng. Hết thảy chúng ta cũng được mời gọi để trở nên những chứng nhân của Chúa qua cuộc sống đức tin. Đời sống của thánh Apôllinariô cho chúng ta biết các thánh tử đạo không chỉ là những người làm chứng cho Chúa Kitô vì đã dám hy sinh mạng sống, mà các ngài còn trung thành sống Tin Mừng của Chúa suốt trọn cuộc đời, ngay cả trong những nghịch cảnh đau thương.
Phêrô Tôrô sinh năm 1912 tại đảo Papua, thuộc Tân Guinéa. Thân phụ ngài giữ chức trưởng làng, đã mời những nhà truyền giáo tới dạy dỗ dân làng. Cha mẹ của Phêrô là những tín hữu nhiệt thành, hay giúp đỡ những người nghèo khổ và mồ côi trong làng. Vào độ tuổi niên thiếu, Phêrô rất ham thích cầu nguyện và viếng Thánh Thể. Cha xứ và thân phụ của Phêrô, nhận thấy niềm tin và những khả năng nơi Phêrô, đã khích lệ Phêrô trở thành một giáo lý viên. Hầu hết công việc rao giảng Tin Mừng ở Tân Guinéa được thực hiện bởi các giảng viên giáo lý. Vai trò chủ yếu của họ là hướng dẫn các anh chị em tân tòng, tổ chức các buổi cầu nguyện và chăm sóc những người đau yếu tật nguyền. Phêrô được giao cho công việc phục vụ trong làng. Ngài đã tổ chức các nhóm cầu nguyện và dạy các lớp giáo lý. Phêrô rất am hiểu Kinh Thánh, luôn luôn mang bên mình một quyển Phúc Âm và ngài dựa vào đó để cắt nghĩa các bài học giáo lý. Đức tính hiền hậu và sự quan tâm chân thành đối với mọi người trong bộ tộc đã lôi kéo nhiều người đến với Phêrô. Họ nói rằng Phêrô đã thực hiện hết mọi điều ngài giảng dạy. Vào ngày 11/11/1936, Phêrô Tôrô kết hôn với Paula La Varpit, một thiếu nữ Công giáo ở ngôi làng cạnh bên. Họ đã có với nhau tất cả 3 người con. Phêrô là người chồng và là người cha thật dễ thương và tuyệt vời. Mỗi ngày Phêrô cùng cả gia đình họp nhau đọc kinh và cầu nguyện chung. Vào tháng 03/1942, trong Đại Thế chiến thứ II, người Nhật đã chiếm lấy hòn đảo nhỏ bé này. Sau một thời gian khoan nhượng với tôn giáo, người Nhật đã hạn chế các hoạt động truyền giáo. Chẳng bao lâu, tất cả các nhà truyền giáo, cả Công giáo lẫn Giám Lý hội đều bị bắt giam. Khi vị linh mục ở làng của Phêrô bị ép phải ra đi, ngài đã bắt tay Phêrô và nói : “Cha trao công việc của cha lại cho con. Con hãy cẩn thận chăm sóc những người này. Đừng để họ lãng quên Thiên Chúa!” Phêrô Tôrô đã thực hiện kỹ càng điều đó. Ngài và các giảng viên giáo lý khác đã giúp giữ cho đức tin Công giáo luôn được sống mãi. Phêrô cũng học được một ít tiếng Nhật và ngài có thể làm quen với các giới chức hải quân Nhật. Nhưng sau khi quân cảnh nắm quyền, họ tưởng là các Kitô hữu đã cầu nguyện cho quân Nhật bại trận. Và họ đã cấm chế các hình thức phụng vụ Công giáo. Rồi một sắc chỉ được ban hành, bắt buộc dân chúng phải quay về với phong tục cổ truyền là người đàn ông được phép lấy nhiều vợ. Phêrô đã công khai phản đối điều lệnh này. Phêrô Tôtô tiếp tục tổ chức các buổi họp nhau cầu nguyện, nhưng với các nhóm nhỏ hơn để tránh sự chú ý. Ngài khuyến khích cộng đoàn xứ đạo hãy trung thành cầu nguyện để giữ vững đức tin. Đó là công việc của Phêrô với tư cách là giảng viên giáo lý. Rồi Phêrô Tôrô bị quân cảnh Nhật bắt giữ trong khi đang tổ chức các nhóm cầu nguyện. Gia đình Phêrô đến nhà giam hàng ngày để đem thức ăn cho ngài. Các giới chức lãnh đạo Công giáo và Giám Lý hội của các bộ tộc khác đã tìm cách giải thoát Phêrô nhưng không được. Phêrô Tôrô nói với họ : “Anh em chớ lo lắng! Tôi là một giảng viên giáo lý. Nếu tôi chết, tôi sẽ chết vì đức tin!” Vào tháng 07/1945, một bác sĩ Nhật đã tiêm vào Phêrô Tôrô một mũi thuốc làm chết người. Một người bạn tù quan sát từ xa đã thông báo cho các tù nhân khác hay tin Phêrô Tôrô đã chết. Rồi người ta đã gọi gia đình của Phêrô đến lấy xác và an táng ngài. Nhóm người họp nhau tiễn biệt Phêrô trong đám tang giản dị này đã tôn kính Phêrô Tôrô như một vị thánh tử đạo. Sau khi điều tra, Giáo hội đã chấp nhận và Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn Phêrô Tôrô lên bậc chân phước ngày 17/01/1995.
Chân phước Phêrô Tôrô đã khiêm tốn nhận mình chỉ là một giảng viên giáo lý và chỉ chu toàn bổn phận của mình, nhưng ngài đã trung thành với bổn phận ngay cả trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Niềm tin của Phêrô Tôrô thật quyết liệt và trong sáng, và ngài đã anh dũng bảo vệ niềm tin ấy. Chân phước Phêrô Tôrô đã là một tấm gương trung kiên cho những học viên giáo lý của ngài. Ngài cũng nêu gương sáng cho mỗi người chúng ta học hỏi.
Ngày 18 tháng Bảy THÁNH CAMILLO LELLIS (Bổn mạng các bệnh nhân và Quan thầy của giới y tá)
Thánh Camillo Lellis sinh tại thành Napoli, nước Ý vào năm 1550. Cuộc sống thơ ấu của Camillo không mấy tốt đẹp. Tuổi thanh niên Camillo gia nhập quân đội và mắc phải thói cờ bạc. Nết xấu này làm cho Camillo lúc 24 tuổi phải nghèo xơ nghèo xác. Vì muốn thay đổi cuộc đời, Camillo đã xin vào tu trong dòng Capuxinô ở thành Napoli. Thế nhưng Camillo không thể tuyên khấn ở trong dòng được bởi cái chân của ngài bị thương trong một trận chiến hồi ngài là quân nhân mà cho tới nay vẫn không thể chữa trị được. Và thay vào đó, Camillo bắt đầu đi chăm sóc các người đau ốm trong thành phố Roma, rồi ngài đã trở thành giám đốc bệnh viện thánh Giacôbê. Vị hướng dẫn tinh thần của Camillo, thánh Philipphê Nêri (lễ kính ngày 26/05), là một linh mục rất thánh thiện ở Roma. Cha Philipphê đã giúp Camillo học làm linh mục. Sau đó, Camillo được thụ phong. Cha Camillo quyết định thành lập một nhóm đạo đức tình nguyện chăm sóc những người đau ốm. Cùng với hai người phụ tá, Camillo đã thiết lập một hội dòng chuyên lo cho những người đau bệnh, gọi là dòng Camêlô. Các tu sĩ Camêlô phục vụ trong các bệnh xá ở Roma và Napoli, cũng như giúp các nạn nhân mắc bệnh dịch tả trên các boong tàu ở hải cảng Roma. Camillo cùng các anh em linh mục và tu sĩ dòng ngài cũng đến với những người nghèo, người bệnh không ai chăm sóc. Các ngài đã liều mạng sống mình để đem an vui và hy vọng đến cho những bệnh nhân mắc bệnh lây nhiễm. Với thời gian, hội dòng phát triển và có thêm nhiều thành viên mới. Thánh Camillo Lellis cũng gởi người tới giúp các binh lính bị thương tại Hungary và Croatia. Đây là đơn vị y khoa đầu tiên có mặt trên chiến trường. Thánh Camillo Lellis qua đời tại Roma ngày 14/07/1614 sau một cơn bệnh lâu dài. Ngài được phong thánh năm 1746. Đức Thánh cha Lêô XIII đã đặt thánh Camillo Lellis làm thánh bổn mạng của các bệnh nhân. Đức Thánh cha Piô X thì tôn ngài làm thánh quan thầy của giới y tá.
Thánh Camillo Lellis đã ước muốn phục vụ Thiên Chúa nhưng ý tưởng ban đầu của thánh nhân lại không thực hiện được. Thay vì buông xuôi mọi sự, thánh nhân đã cố gắng xoay xở để tìm một giải pháp khác. Đặt mình dưới sự hướng dẫn của thánh ý Thiên Chúa, thánh Camillo Lellis đã thực hiện được giấc mơ là trở thành linh mục. Chúng ta không biết được chính xác Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì, nhưng nếu chúng ta cứ mở lòng đón nhận Ngài và phục vụ Ngài trong những anh chị em của chúng ta, thì lúc ấy Thiên Chúa sẽ thực hiện kế hoạch đặc biệt của Ngài trong cuộc đời chúng ta.
(Chép từ “Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ Mỗi Ngày” của Susan Helen Wallace, FSP)
Thánh Lêô IV sống vào thế kỷ thứ IX. Thánh nhân sinh tại thành Roma và đã sống trọn cuộc đời tại thành phố này. Lêô được giáo dục tại tu viện dòng thánh Bênêđictô tọa lạc gần vương cung thánh đường thánh Phêrô. Lêô được thụ phong linh mục và đã thi hành sứ vụ của mình tại vương cung thánh đường thánh Gioan Latêranô. Lêô rất ư nổi danh và được cả hai Đức Giáo hoàng ngưỡng mộ. Đức Grêgôriô IV truyền chức phó tế, và Đức Sêgiô II đặt Lêô làm Hồng y. Những lời đồn đại về cuộc xâm lăng của quân man di Saraxen đã làm cho người dân Roma hoảng sợ. Họ không muốn bị đi đày mà không có Giáo hoàng. Cả các Hồng y cũng vậy. Họ đã nhanh chóng chọn một vị lên kế nhiệm Đức Sêgiô II. Và vị kế nhiệm được lịch sử biết đến đó chính là Đức Thánh cha Lêô IV. Với cương vị là Giáo hoàng, thánh Lêô IV đã cho sửa lại các bức tường của thành phố. Những bức tường này đã bị quân Saraxen tấn công và làm hỏng hồi năm ngoái. Thánh nhân đã phục hồi nhiều ngôi thánh đường và đã đưa nhiều thánh tích trở về Roma. Ngài bắt đầu chương trình canh tân hàng giáo sĩ. Thực ra, thánh nhân đã triệu tập hội nghị các linh mục Roma vào năm 853. Ngài đã duyệt y 42 điều luật nhằm giúp các linh mục sống nhiệt thành hơn, ham mộ cầu nguyện hơn và vui sướng hơn với sứ vụ thánh thiện của mình. Có vài giám mục đã làm cho Đức Thánh cha Lêô IV phải đau khổ vì gương xấu. Họ công khai chống đối Giáo hoàng và không chịu thay đổi lối sống. Dù cho Giáo hoàng Lêô bị lăng nhục cách nào thì ngài vẫn nhẫn nại và cương quyết. Thánh nhân vẫn không chịu để cho những khó khăn hay lo lắng nào thắng lướt ngài. Lêô vẫn tiếp tục dâng hiến thời giờ và sức lực cho Chúa Giêsu và Giáo hội. Ngài yêu thích những kinh nguyện hay trong phụng vụ, và ngài đã khuyến khích nền thánh nhạc và thánh ca phụng vụ. Dân chúng yêu mến thánh Lêô. Trong cuộc đời của mình, hình như Lêô đã làm một phép lạ. Người ta kể rằng ngài đã dập tắt một đám cháy khủng khiếp ở Roma chỉ bằng một dấu Thánh Giá. Đức Thánh cha Lêô IV tiếp tục phục vụ Giáo hội với niềm hăng say phấn khởi cho đến tận giây phút sau cùng. Thánh nhân về trời ngày 17/07/855.
Thánh Giáo hoàng Lêô IV đã sống trong một thời đại hoảng loạn. Thánh nhân đã gặp nhiều khó khăn và thử thách nhưng ngài đã luôn luôn bình thản và vui tươi. Mỗi khi nóng giận, chúng ta hãy nài xin thánh Giáo hoàng Lêô IV giúp chúng ta biết tin cậy vào Thiên Chúa để tìm được niềm vui và bình an đích thực.
CátMinh là ngọn núi trông xuống vùng đồng bằng Galilê. Đó là một ngọn núi danh tiếng bởi vì tiên tri Êlia, vị tiên tri sống trước thời Chúa Giêsu, đã được sinh ra tại đây. Và tiên tri Êlia cũng đã làm phép lạ ở đó. Chương thứ 18 trong sách Các Vua quyển thứ I kể rằng Êlia đã đương đầu chống lại 450 nhà tiên tri của vị thần Baal. Bằng lời cầu nguyện, Êlia đã xin Thiên Chúa làm một phép lạ để minh chứng rằng Thiên Chúa của Êlia là Thiên Chúa chân thật. Và Thiên Chúa đã nhận lời Êlia cầu xin. Sau đó nhiều thế kỷ, vào thế kỷ thứ XIII, có một nhóm tu sĩ Âu châu bắt đầu đến sống trên núi CátMinh. Họ tôn kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, với tước hiệu Đức Mẹ núi CátMinh. Vì lý do này mà người ta gọi họ là các cha dòng Đức Mẹ CátMinh. Đây là lý do dòng CátMinh được thành lập. Đức Thánh cha Hônôriô III phê chuẩn tu luật của hội dòng vào năm 1226. Vào năm 1247, Simon Stock, một linh mục gốc Anh, trở thành bề trên của tất cả mọi tu sĩ CátMinh. Ngài đã giúp hội dòng phát triển và thích nghi với thời đại. Ngài đã hướng dẫn hội dòng bắt chước kiểu mẫu của ĐaMinh và của Phanxicô. Vào ngày 16/07/1251, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Simon Stock và trao cho thánh nhân Áo Đức Bà Nâu (còn gọi là Áo Đức Bà Camêlô). Lúc ấy, Đức Mẹ hứa sẽ bảo trợ những ai mang áo thánh này. Và nhiều phép lạ đã xảy ra để minh chứng cho lời Đức Mẹ đã nói. Thánh Piô XX, được bầu làm giáo hoàng từ năm 1903 tới năm 1914, nói rằng người ta cũng nhận được những phúc lành tương tự như thế nếu họ mang ảnh đeo thay Áo Đức Bà. Ảnh đeo này một mặt có hình Đức Mẹ Camêlô và mặt kia có hình Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Simon Stock qua đời tại Bordeaux, nước Pháp vào năm 1265.
Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, cũng chính là Mẹ của mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy nài xin Mẹ giúp đỡ để ngày càng trở nên giống Chúa Giêsu hơn. Mẹ sẽ bảo vệ chúng ta trong cuộc sống và giúp đỡ chúng ta khi lâm tử. Chúng ta có thể bày tỏ lòng tôn kính Mẹ bằng việc mang Áo Đức Bà Nâu hay ảnh đeo thay Áo Đức Bà.
Vào giữa những năm 1642 và 1649, thánh Isaac Giogiơ và Các Bạn Tử Đạo đã từ Pháp trẩy tàu sang vùng Đất Mới để rao giảng Tin Mừng. các ngài đã bị những người Mohawk giết hại đang khi rao giảng Lời Chúa cho những người Indiens Huron. 10 năm sau khi thánh Isaac qua đời. Kateri Têkakwitha được sinh ra ngay tại ngôi làng mà thánh Isaac đã tử vì đạo, (chúng ta cử hành thánh lễ kính thánh Isaac và Các Bạn Tử Đạo vùng Bắc Mỹ ngày 19/10). Têkakwitha sinh tại Auriesville, New York vào năm 1656. Thân mẫu ngài là một Kitô hữu người Mỹ gốc Algonquin. Thân phụ ngài là tù trưởng của dân Mohawk, chưa gia nhập đạo. Cha mẹ và anh trai của Têkakwitha đã chết vì căn bệnh đậu mùa khi Tekakwitha mới lên 4 tuổi. Cũng căn bệnh này đã hủy hoại vẻ đẹp và làm cho khuôn mặt của Têkakwitha bị biến dạng. Người chú, cũng là tù trưởng của dân Mohawk, đã nuôi nấng Têkakwitha. Đây là cách thế Tekakwitha gặp gỡ các nhà truyền giáo. Vào một dịp kia, chú của Têkakwitha tiếp đón 3 nhà truyền giáo thuộc dòng Tên. Têkakwitha được nghe những lời chỉ dạy về đức tin. Rồi ngài được chịu phép Thanh Tẩy vào Chúa nhật Phục Sinh năm 1676. Đó cũng là dịp Têkakwitha nhận tên thánh Kateri, nghĩa là Catarina. Ngôi làng Têkakwitha đang sống chưa phải là ngôi làng Công giáo. Thực sự, chẳng có Kitô hữu nào sống trong căn nhà của Têkakwitha. Việc Têkakwitha chọn lối sống độc thân đã làm cho những người Indiens phật lòng. Họ đã lăng mạ Têkakwitha và có vài người đã phẫn nộ vì Têkakwitha không chịu làm việc trong ngày Chúa nhật. Nhưng Kateri vẫn giữ vững lập trường của mình. Ngài đã đọc kinh Mân Côi mỗi ngày, ngay cả khi bị người ta giễu cợt. Kateri đã nhẫn nại chấp nhận và âm thầm chịu đựng. Cuộc sống của Kateri càng trở nên khó khăn vì sự bách hại của những người cùng làng. Sau hết, Kateri đã trẩy tới sống tại một ngôi làng Công giáo gần Montrieux. Tại đây, vào ngày lễ Chúa Giáng Sinh năm 1677, Kateri đã được Rước lễ lần đầu. Và đó là một ngày hồng phúc! Cha Phêrô Côlônec, một linh mục thuộc dòng Tên, đã hướng dẫn đời sống thiêng liêng cho Kateri suốt 3 năm sau đó. Kateri và một phụ nữ Irôquơ tên Anastasia đã sống đời Kitô hữu rất quảng đại và phấn khởi. Vào ngày 25/03/1679, Kateri đã tuyên lời khấn tự giữ mình đồng trinh. Ngài chỉ mới được 24 tuổi khi phải lìa thế ngày 17/04/1680. Sau đó đúng 300 năm, vào ngày 22/06/1980, Kateri Têkakwitha được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước. Người ta đã đặt cho Kateri Têkakwitha một tên gọi rất dễ thương, “bông hoa huệ của những người Mohawk”.
Chân phước Kateri Têkakwitha đã nhận được hồng ân đức tin vào Chúa Giêsu qua những hy sinh gian khó của các vị thừa sai. Chúng ta cũng hãy cảm tạ Chúa Giêsu vì Người đã sai các thừa tác viên đem Tin Mừng đến cho chúng ta. Họ là ai? Là ông bà, cha mẹ, người thân, cha xứ, giáo lý viên… Chúng ta hãy nài xin chân phước Kateri Têkakwitha dạy chúng ta sống biết ơn qua việc chia sẻ đức tin của mình cho những người khác.
Thánh Gioan Gaulbêtô sinh tại thành Florentia, nước Ý, vào cuối thế kỷ thứ X. Ngài và thân phụ đã phải choáng váng rụng rời khi nghe tin Hugh, người em trai duy nhất của Gioan bị sát hại. Người gây ra án mạng được cho là bạn thân của Hugh. Bị thân phụ thúc giục và bị thúc đẩy bởi cơn nóng giận, Gioan bắt đầu tìm cách để trả thù cho cái chết của em trai mình. Gioan cảm thấy danh dự của ngài tùy thuộc vào chuyện đó. Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, Gioan Gaulbêtô đã giáp mặt với kẻ sát nhân trong một lối đi hẹp của thành phố. Gioan rút gươm ra khỏi vỏ và bắt đầu xông vào kẻ giết người. Bấy giờ kẻ giết Hugh đã quỳ xuống dưới chân Gioan. Anh làm dấu Thánh Giá trên mình và, nhân danh tình yêu của Chúa Giêsu chịu tử hình thập giá, anh xin Gioan tha thứ. Với một cố gắng lạ thường, Gioan Gaulbêtô đã hạ gươm xuống! Ngài ôm hôn kẻ thù rồi đi về phía cuối đường. Khi tới nhà thờ của một tu viện nọ, Gioan Gaulbêtô đã bước vào và đến quỳ trước bức tượng Chúa Chịu Nạn. Ngài xin Chúa tha tội cho mình. Rồi một phép lạ đã xảy ra! Chúa Kitô trên Thánh Giá đã cúi đầu chào Gioan Gaulbêtô. Dường như Chúa nói với Gioan rằng Chúa rất hài lòng vì hành động Gian tha thứ cho kẻ thù. Lúc ấy, Gioan Gaulbêtô cũng cảm thấy tội lỗi mình được tha. Một sự biến đổi bao phủ lấy Gioan Gaulbêtô khiến ngài đi thẳng tới gặp vị bề trên của tu viện ấy và xin gia nhập cộng đoàn. Khi thân phụ của Gioan nghe biết việc này, ông tuyên bố sẽ đốt cháy cả tu viện nếu con trai ông không trở về nhà. Các tu sĩ lo lắng không biết phải làm gì? Gioan Gaulbêtô liền giải quyết vấn đề bằng cách cắt tóc và mượn một bộ tu phục của một tu sĩ. Ngài mặc áo vào và ra gặp thân phụ. Quá khâm phục trước nghĩa cử dấn thân của con mình, người cha đã để cho Gioan ở lại. Thánh Gioan Gaulbêtô về sau lại muốn sống cuộc đời khắc khổ hơn. Ngài đã ra đi và lập một hội dòng cho riêng mình. Thánh Gioan Gaulbêtô là kiểu mẫu cho việc bắt chước lối sống giản dị của Chúa Giêsu. Thánh nhân cũng hết lòng quan tâm tới những người nghèo khổ đến xin ngài giúp đỡ tại cổng tu viện. Thiên Chúa đã ban cho Gioan Gaulbêtô ơn làm phép lạ và ơn hướng dẫn tâm hồn người khác. Ngay cả thánh Giáo hoàng Lêô IX cũng đến với Gioan Gaulbêtô để xin lời khuyên bảo. Thánh Gioan Gaulbêtô về trời ngày 12/07/1073. Đến năm 1193, Đức Thánh cha Cêlmentê III đã tôn phong Gioan Gaulbêtô lên bậc hiển thánh.
Ngay cả những tội nặng nề nhất cũng có thể được Thiên Chúa tha thứ. Nếu chúng ta tha thứ cho những người mắc lỗi với chúng ta, Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho những lỗi phạm của chúng ta. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Gaulbêtô giúp chúng ta có được trái tim tha thứ như ngài.
Thánh nữ Ursula Juliani sinh tại nước Ý vào năm 1660. Ngay từ thiếu thời, thánh nữ đã ham ước sống cuộc đời thánh thiện. Dù cho thân phụ muốn Juliani kết hôn, nhưng năm lên 17 tuổi, Juliani đã xin vào dòng nữ Capuxinô. Và ngài nhận tên là Veronica. Năm 37 tuổi, dì Veronica bắt đầu cảm thấy có sự đau đớn trong thân thể mình, đó là những thống khổ mà Chúa Kitô đã chịu trong suốt cuộc tử nạn đau thương của Người. Sau đó, Veronica được nhận Năm Dấu Thánh của Chúa Giêsu. Đức Giám mục, sau khi điều tra về các vết đinh ở tay và chân của Veronica, đã tuyên bố đó là tặng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Dì Veronica tận hiến đời mình để sống chiêm niệm và cầu nguyện. Dì cũng nhận một nhiệm vụ quan trọng là tập sư. Với cương vị tập sư, Veronica hướng dẫn các nữ tập sinh trong tu viện. Veronica thi hành chức vụ này suốt 34 năm. Rồi chị em trong dòng chọn thánh nữ làm bề trên, và Veronica đã hướng dẫn hội dòng suốt 11 năm sau cùng của cuộc đời ngài. Lúc về già, cha giải tội của thánh nữ Veronica trao cho ngài nhiệm vụ ghi lại những kinh nghiệm thiêng liêng. Veronica qua đời ngày 09/07/1727. Ngài được phong thánh năm 1839 và được coi là một trong những nhà thần bí lớn nhất của thế kỷ thứ XVIII.
Thánh nữ Veronica Juliani rất trung thành trong công việc chia sẻ những đau khổ của Chúa Kitô. Cách tuyệt hảo nhất để thực hiện lòng trung thành này là năng đọc sách về cuộc khổ nạn của Chúa trong Tin Mừng. Điều này sẽ thúc đẩy chúng ta sống thánh thiện, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân nhiều hơn.
Ngày hôm nay, Giáo hội cử hành thánh lễ tôn kính các vị tử đạo Trung Hoa. Các ngài là những người đã nêu gương anh dũng trong đời sống đức tin Kitô giáo dọc theo lịch sử của đất nước này. Thánh Augustino Zhao Rong, đã anh dũng tử đạo để minh chứng đức tin, là một trong số 122 tín hữu Công giáo đã hy sinh suốt từ năm 1648 đến năm 1930. Vào năm 1815, một giám mục tên Gioan Grabiel Dufresse bị bắt. Lúc ấy, việc thực hành đạo Kitô bị coi là một hành vi chống lại luật lệ của đất nước Trung Hoa. Một anh lính Trung Hoa canh giữ Đức Giám mục rất đỗi khâm phục ngài bởi sự bình thản và lòng kiên nhẫn đối với cuộc bách hại. Sau khi Giám mục Dufresse bị giết, người lính này đã xin gia nhập Giáo hội. Anh được chịu phép Thanh Tẩy và nhận tên là Augustino. Sau này, Augustino gia nhập chủng viện và học làm linh mục. Thụ phong linh mục chẳng bao lâu, Augustino cũng bị bắt vì là Kitô hữu. Người ta đã tra tấn Augustino dữ dội hầu làm cho ngài chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Thế nhưng, những đau khổ ấy lại chỉ giúp cho Augustino Zhao Rong thêm can đảm và làm xác tín hơn niềm tin của ngài. Augustino Zhao Rong bị lên án tử và tên ngài được ghi vào danh sách các tín hữu Trung Hoa anh dũng đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin của mình. Danh sách các vị anh hùng này bao gồm 76 giáo dân, một số em thiếu nhi thậm chí mới 7 tuổi, 8 chủng sinh, 24 linh mục và 6 giám mục. Trong số này, có 88 vị là người gốc Trung Hoa và 34 vị là các nhà truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng các vị đã nhận Trung Hoa là quê hương của mình.
Chúng ta hãy noi gương thánh Augustino Zhao Rong và Các Bạn Tử Đạo Trung Hoa. Như các ngài, chúng ta hãy sống niềm tin của mình cách vui tươi. Chúng ta hãy can đảm sống cho sự thật dù đôi lúc đó không phải là điều dễ thực hiện.
Pier Giorgiô Frassati sinh ngày 06/04/1901 tại thành phố Turino, nước Ý. Cha của ngài, ông Alfredo, là nhà sáng lập và là giám đốc tờ báo Italia, đồng thời ông cũng là một chính trị gia. Mẹ của Pier Giorgiô, bà Ađêlaiđê, là một họa sĩ. Ông bà Frassati không phải là một mẫu cha mẹ lý tưởng chút nào. Ông Alfredo thì chống đối con cái và bà Ađêlaiđê thì có tính bối rối và hay phê phán. Họ tham dự thánh lễ chỉ vì đó là một bổn phận. Từ thuở nhỏ, Pier Giorgiô đã rất nhạy cảm với những nhu cầu của người khác. Ngày kia, có một bà hành khất nghèo khó tới gõ cửa nhà của gia đình Frassati. Bà ôm trong vòng tay một đứa trẻ không mang giầy. Không chút do dự, cậu nhỏ Pier Giorgiô lúc ấy 4 tuổi liền cởi ngay giầy đang mang ở chân ra và trao cho đứa bé nghèo khổ kia. Pier Giorgiô có đời sống đạo hạnh hơn cha mẹ. Lên 14 tuổi, ngài bắt đầu tham dự thánh lễ và rước lễ hầu như mỗi ngày. Pier Giorgiô gia nhập dòng Ba ĐaMinh do bị lôi cuốn bởi linh đạo vừa chiêm niệm vừa hoạt động của hội dòng này. Sứ vụ của Pier Giorgiô là chăm lo cho những người nghèo khổ. Ngài tới những căn nhà dơ bẩn của những người nghèo lưu lại bên giường của những bệnh nhân và luôn luôn tâm niệm rằng mình đang thăm viếng Đức Kitô. Dù gia đình khá giả, Pier Giorgiô cũng chỉ ra đi làm việc bác ái với hai bàn tay trắng. Ngài không muốn sử dụng tài sản của gia đình. Bạn bè của Pier Giorgiô nhận biết ngài như một người tinh nghịch, ham thích leo núi và trượt tuyết. Pier Giorgiô cũng là người hoạt động cho công bằng xã hội, tham gia các nhóm ủng hộ tôn giáo và chống lại chủ nghĩa phát-xít. Và Pier Giorgiô đã phải vào tù sau một trong nhiều lần biểu tình, tại đây Pier đã dùng nhiều thời giờ để đọc kinh Mân Côi và khích lệ bạn bè. Đến năm 1925, Pier Giorgiô bị lây nhiễm bại liệt từ một bệnh nhân của ngài. Vào tháng 6, Pier Giorgiô bị ốm nặng nhưng ngài vẫn âm thầm chịu đựng, vì cùng lúc ấy tại gia đình Frassati, bà ngoại của ngài đang hấp hối. Pier Giorgiô cho biết là bị cảm sốt nhưng gia đình chẳng quan tâm nhiều tới ngài. Khi bà ngoại qua đời, chẳng ai biết được là Pier Giorgiô cũng sắp lìa bỏ thế gian này mà về cùng Chúa. Thân mẫu Pier, không đi dự lễ tang bà ngoại mà ở nhà với Pier, đã trách cứ Pier vì bị cảm cúm vào thời điểm bất tiện như thế. Nhưng chẳng bao lâu, bà nhận ra rằng con trai mình thật bị bệnh rất nặng chứ không phải chỉ là cảm sốt qua loa như bà tưởng. Ba ngày sau, Pier Giorgiô về trời! Những giờ phút cuối đời của Pier Giorgiô diễn ra trong bầu khí thinh lặng cầu nguyện, và ngài đã để lại những chỉ dẫn sau cùng trong việc giúp đỡ người nghèo, những người luôn hiện diện trong trái tim của Pier. Thế rồi, buổi sáng ngày 04/07/1925, Pier Giorgiô đã an bình ra đi sau khi lãnh nhận Bí tích Xức Dầu bệnh nhân. Khi ấy, Pier Giorgiô được 24 tuổi. Ít lâu sau cái chết của Pier Giorgiô, gia đình Frassati rất đỗi sửng sốt khi thấy từng đám người chen chúc nhau tới nhà thờ để tham dự thánh lễ an táng Pier Giorgiô. Họ là những người nghèo khổ mà Pier Giorgiô đã giúp đỡ trong cuộc đời vắn vỏi của ngài. Họ đến để bày tỏ tấm lòng tôn kính đối với vị ân nhân trẻ tuổi rất đặc biệt này. Pier Giorgiô được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước năm 1990.
Chân phước Pier Giorgiô Frassati đã đặt Đức Kitô làm trung tâm cuộc đời của ngài. Thay vì cảm thấy buồn tủi vì gia đình không hiểu mình, Pier Giorgiô đã dồn mọi quan tâm để lo cho những người kém may mắn hơn ngài. Với việc làm này, Pier Giorgiô là chứng nhân đích thực của niềm vui Tin Mừng. Chúng ta hãy nài xin chân phước Pier Giorgiô Frassati giúp chúng ta cũng biết chia sẻ niềm vui của mình cho người khác.
Trước đây, do số tài liệu có trong tay quá hiếm hoi nên Nghĩa Già chỉ có thể chia sẻ với các em và các bạn một ít mẩu chuyện các Thánh của Thiên Chúa. Nay đã sưu tầm được hầu như gần đủ hết chư Thánh và Chân phước còn thiếu trong năm, giờ xin lại được chia sẻ tiếp với cả Nhà… Dĩ nhiên trong quá trình chép lại không tránh khỏi những thiếu sót không đáng có, rất mong mọi người thể tất cho. Chân thành cám ơn.
Xin Thiên Chúa là Cha Toàn năng, qua lời bầu cử của chư vị thánh nhân nam nữ của Người, ban muôn phúc lành cho Gia đình chúng ta.
------------------------------------------------
Ngày 03 tháng Giêng THÁNH GIƠ-NOA
Thánh nữ Giơ-noa sinh vào khoảng năm 422 tại Nantê, một ngôi làng nhỏ cách thành phố Pari khoảng bốn dặm. Khi còn rất trẻ, thánh Giơ-noa đã mơ ước dâng hiến đời mình cho Đức Chúa Giêsu. Sau khi cha mẹ qua đời, Giơ-noa trẩy đến sống với bà ngoại. Hàng ngày, thánh nữ dành thời giờ để cầu nguyện. Ngài sống rất gần gũi mật thiết với Đức Chúa Giêsu và muốn giới thiệu sự tốt lành của Chúa cho mọi người. Thánh nữ Giơ-noa có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài đã cố gắng hết sức mình để làm những việc tốt cho tha nhân. Khi người dân Pari sắp phải chạy trốn khỏi địch quân khủng khiếp đến tấn công họ, thánh nữ liền tiến lên phía trước. Ngài phấn khích dân thành hãy tin cậy vào Chúa. Ngài nói rằng nếu họ ăn năn sám hối, họ sẽ được thứ tha. Dân thành đã làm theo lời Giơ-noa nói và đột nhiên quân giặc Hung Nô hung hãn đã không tấn công thành phố nữa. Không chỉ trong những khi cần thiết mà suốt cả cuộc đời, thánh nữ Giơ-noa đã thực thi lòng yêu mến và tuân phục đối với ý muốn của Thiên Chúa. Và ngài luôn luôn cố gắng bồi đắp cho hoàn hảo hơn lên mãi. Can đảm và trung thành với Chúa Giêsu là những tặng ân đặc biệt trong chứng từ thánh nữ Giơ-noa để lại cho mỗi người chúng ta.
Một trong những cách thế tối hảo để giúp đỡ quê hương đất nước là cầu nguyện cho các vị lãnh đạo. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa hướng dẫn họ vì thiện ích chung của tất cả mọi người.
(Chép từ “Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ Mỗi Ngày” của Susan Helen Wallace, FSP)