Thánh Tutilô sống vào cuối thế kỷ thứ IX dầu thế kỷ thứ X. Thánh nhân được giáo dục tại đan viện Bênêđictô của thánh Gal. Hai người bạn cùng lớp với Tutilô vừa được phong “chân phước”. Cả ba lần lượt trở thành những đan sĩ tại đan viện nơi họ đã một thời cùng nhau cắp sách đến trường. Thánh Tutilô là người có nhiều tài khéo. Thánh nhân vừa là thi sĩ, họa sĩ vẽ chân dung, nhà điêu khắc, nhà hùng biện và kiến trúc sư. Thánh Tutilô cũng là một công nhân cơ khí nữa! Tài năng nổi bật nhất của Tutilô là âm nhạc. Tutilô có thể chơi tất cả các loại nhạc cụ được các đan sĩ biết tới trong phụng vụ. Tutilô và người bạn của ngài là chân phước Nôtkơ đã sáng tác những cung bậc cho các bài đáp ca phụng vụ. Trong tất cả những tác phẩm của Tutilô, chỉ còn sót lại ba bài thơ và một bài thánh ca. Thế nhưng, ngày nay người ta vẫn còn tìm thấy các bức vẽ và các tác phẩm điêu khắc của Tutilô trong nhiều thành phố của Âu châu. Các họa phẩm và các tác phẩm ấy được coi như đồng nhất với thánh Tutilô vì ngài luôn luôn để lại trên những tác phẩm của mình một câu châm ngôn thích hợp. Nhưng không phải vì các tài năng kiệt xuất của mình mà Tutilô được tôn phong hiển thánh. Tutilô là người khiêm tốn chỉ muốn sống cho Thiên Chúa. Ngài biết tôn vinh Thiên Chúa bằng việc sơn vẽ, chạm trổ và sáng tác âm nhạc. Tutilô được tôn phong là “thánh” vì ngài đã khéo dùng đời sống mình để ca ngợi và yêu mến Thiên Chúa. Thánh nhân qua đời năm 915.
Dù chúng ta có nhiều hay ít tài khéo, dù chúng ta có óc thực tế hay không… thì điều quan trọng là hãy cố gắng hết sức có thể bằng chính cuộc sống của mình. Đây chính là cách thức để chứng tỏ tấm lòng chúng ta yêu mến Thiên Chúa.
Con người mơ ước được sống kết hợp với Thiên Chúa đã trở nên một trong số các vị ẩn tu danh tiếng nhất trong thời đại của ngài. Thánh Gioan Ai Cập sinh vào khoảng năm 304. Người ta không được biết nhiều về thời niên thiếu của thánh Gioan ngoài công việc thợ mộc. Khi lên 25 tuổi, Gioan quyết định lìa bỏ thế gian vĩnh viễn để dùng đời sống mình hy sinh, cầu nguyện và tôn thờ Thiên Chúa. Thánh Gioan chính là một trong số những vị tu rừng nổi danh vào thời ấy. Suốt 10 năm trời, Gioan là môn đệ của một ẩn sĩ cao niên đầy kinh nghiệm. Vị ẩn tu thánh thiện này chỉ dạy Gioan cách thức sống cuộc đời đạo đức. Thánh Gioan gọi ngài là “cha linh hồn”. Sau khi vị ẩn sĩ già này qua đời, thánh Gioan trải qua 4 hay 5 năm nữa sống trong các đan viện khác nhau. Thánh nhân muốn làm quen với lối sống và cách thức cầu nguyện của các đan sĩ. Sau cùng, Gioan tìm được một hang đá khá sâu. Khu vực ấy thật yên tĩnh và được bảo vệ thật an toàn khỏi những cơn gió và sức nóng của sa mạc. Gioan chia chiếc hang làm ba phần : một phòng khách, một phòng làm việc và một phòng nguyện nhỏ. Dân cư trong vùng mua thức ăn và những thứ cần dùng cho Gioan. Nhiều người cũng đến nhờ Gioan khuyên bảo về những vấn đề quan trọng. Ngay cả hoàng đế Thêôđôsiô I cũng hai lần đến xin Gioan lời khuyên, một lần vào năm 388 và lần khác năm 392. Những vị thánh danh tiếng như Augustinô và Giêrônimô đã viết sách nói về tinh thần thánh thiện của thánh Gioan. Trong số những khách tới thăm Gioan, có vài người đã trở nên môn đệ của ngài. Họ đã lưu lại nơi ấy và xây cất một nhà nghỉ. Họ trông coi ngôi nhà để nhiều người có thể đến học hỏi sự khôn ngoan nơi vị ẩn sĩ này. Thánh Gioan được ơn tiên đoán những sự việc tương lai. Ngài có thể đoán biết được tâm hồn của những người tìm đến với ngài. Gioan có thể đọc được tư tưởng của họ. Khi Gioan xức dầu thánh trên những người mắc bệnh thể xác, họ thường được chữa lành. Ngay cả khi nổi danh, thánh Gioan vẫn một mực giữ thái độ khiêm tốn và không bao giờ để cho mình được sống thoải mái dễ chịu. Thánh nhân chẳng khi nào dùng bữa trước lúc mặt trời lặn. Thức ăn của Gioan thường là rau quả sấy khô. Ngài không bao giờ dùng thịt hay những thức đã được nấu chín hoặc hâm nóng. Thánh Gioan tin rằng cuộc sống hy sinh hãm mình của ngài sẽ giúp ngài sống kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa. Năm 394, thánh Gioan qua đời trong an bình, hưởng thọ 90 tuổi.
Chúng ta hãy cầu xin thánh Gioan ẩn tu chỉ cho chúng ta cách sống thân mật với Thiên Chúa. Thánh nhân sẽ giúp chúng ta quyết tâm để Thiên Chúa hoạt động trong và qua chúng ta.
Thánh Lugiơ sinh ở Bắc Âu vào thế kỷ thứ VIII. Sau nhiều năm học hành vất vả, ngài được thụ phong linh mục. Lugiơ bắt đầu đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng. Lugiơ rất lấy làm vui sướng khi được chia sẻ những điều ngài đã học biết về Thiên Chúa cho mọi người. Nhiều người ngoại giáo được ơn trở lại và đời sống của các Kitô hữu được cải thiện. Thánh Lugiơ cũng xây cất nhiều nhà thờ và tu viện. Rồi đột nhiên những người man rợ, cũng gọi là những người Xắc-Xông, đến tấn công xứ sở của thánh Lugiơ và đuổi các linh mục đi. Dường như thể tất cả mọi việc Lugiơ đã làm đều ra thất bại. Nhưng thánh nhân không chịu bỏ cuộc. Trước hết, Lugiơ tìm một nơi an toàn cho các môn đệ của mình. Sau đó, Lugiơ tới Roma để bàn hỏi với Đức Thánh cha về việc ngài sắp làm. Hơn 3 năm trời, thánh Lugiơ sống như một đan sĩ tốt lành thánh thiện trong đan viện Bênêđictô. Nhưng Lugiơ không quên được những người dân sống nơi quê hương của ngài. Vừa khi về tới đất nước, thánh Lugiơ tiếp tục lại công việc. Thánh nhân gắng sức hoạt động và đã làm cho nhiều người Xắc-Xông ngoại giáo ăn năn trở lại. Khi được tấn phong giám mục, thánh Lugiơ đã làm gương sáng đặc biệt hơn về lòng mộ đạo và tâm hồn hào hiệp quảng đại. Lần kia, những người ghen ghét Lugiơ tố cáo ngài với vua Samác. Nhà vua cho triệu Lugiơ đến hoàng cung để ngài tự biện hộ cho mình. Lugiơ vâng lời đến hoàng triều. Ngày hôm sau, khi nhà vua cho gọi ngài, Lugiơ nói rằng sau khi cầu nguyện xong thì sẽ đến ngay. Thoạt đầu, vua Samác tỏ vẻ giận dữ, nhưng thánh Lugiơ giải thích rằng mặc dù ngài rất tôn trọng đức vua nhưng ngài phải kính trọng Thiên Chúa trước hết. Lugiơ nói : “Tâu đức vua, xin đừng nổi giận với hạ thần! Vì chính đức vua đã bảo hạ thần phải luôn luôn dành cho Thiên Chúa phần ưu tiên mà!” Đứng trước câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, nhà vua nhận biết rằng Lugiơ rất thánh thiện. Từ đó trở đi, vua Samác tỏ ra rất khâm phục và quý mến Lugiơ. Thánh Lugiơ qua đời nhằm ngày Chúa nhật lễ Lá năm 809. Thánh nhân đã làm tròn bổn phận của ngài trong việc tôn thờ Thiên Chúa cho tới khi nhắm mắt lìa đời.
Thánh Lugiơ đã dồn hết sinh lực của mình phục vụ ơn kêu gọi linh mục. Đức Chúa Giêsu đã dùng thánh nhân để đem nhiều người tới gần Thiên Chúa hơn. Chúng ta có thể năng cầu xin Đức Chúa Giêsu giúp các linh mục sống thánh thiện và quảng đại như thánh Lugiơ.
Đã đến lúc Đức Chúa Giêsu giáng thế. Thiên Chúa sai Tổng lãnh Thiên thần Gabriel đến thành Nazareth, nơi Mẹ Maria đang sống. Tổng lãnh Thiên thần với dung mạo huy hoàng rực rỡ đã tiến vào căn nhà bé nhỏ của Mẹ Maria và trông thấy Mẹ đang cầu nguyện. “Kính chào Bà, hỡi Đấng đầy ân sủng!” – Thiên thần nói – “Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc giữa các người phụ nữ.” Mẹ Maria thật ngạc nhiên khi nghe những lời ca ngợi của sứ thần. “Hỡi Maria, đừng sợ!” – Gabriel trả lời. Rồi Tổng lãnh Thiên thần nói với Mẹ rằng Mẹ sắp sửa trở nên thân mẫu của Đức Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ loài người. Mẹ Maria hiểu được vinh dự mà Thiên Chúa dành ban cho Mẹ thật lớn lao. Và Mẹ đã thưa : “Này tôi là nữ tỳ của Chúa!” Ngay lúc ấy, Mẹ Maria trở nên Mẹ Thiên Chúa và Mẹ vẫn xưng mình là nữ tỳ, là đầy tớ của Người. Mẹ Maria cũng biết rằng khi chấp nhận làm Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ sẽ phải chịu rất nhiều đau khổ. Mẹ nhận biết Mẹ sẽ phải đau khổ khi Con của Mẹ chịu đau khổ. Thế nhưng với tất cả tâm hồn, Mẹ đã thưa lên : “Xin hãy thực hiện nơi tôi như lời sứ thần truyền!”
Trong dịp này, Mẹ Maria đã ban tặng cho chúng ta một mẫu gương khiêm nhượng và vâng phục thật cao cả. Cũng thế, chúng ta hãy bày tỏ lòng mến yêu Thiên Chúa qua việc vâng lời những vị đại diện của Người là cha mẹ và các thầy cô giáo của chúng ta.
Chân phước Đađicô sinh ngày 29/03/1743 ở Cađi thuộc đất nước Tây Ban Nha. Ngài được đặt tên là Giuse Phanxicô. Song thân ngài yêu mến Giáo hội và rất trung thành giữ đạo. Họ lấy làm vui thích khi thấy con trai mình phục vụ và trang hoàng bàn thờ. Cậu bé thường hay quỳ gối cầu nguyện với Đức Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh cả Giuse. Khi đến tuổi khôn lớn, Giuse học giúp lễ tại nhà thờ dòng Capuxinô ngay ở khu phố bên dưới. Giuse học cách yêu mến thánh lễ. Mỗi sáng, Giuse thường đi lễ rất sớm và chờ đợi người ta mở cửa nhà thờ. Ngài không bao giờ bỏ lễ dù chỉ một ngày. Một cha hay một thầy dòng Capuxinô đã tặng cho Giuse một quyển sách nói về đời sống của các thánh dòng Capuxinô. Giuse đã cầm lấy cuốn sách và đọc đi đọc lại nhiều lần. Giuse học từng chuyện một. Giuse yêu mến ngưỡng mộ những vị thánh đã sống cuộc đời khó nghèo và khiêm tốn như Đức Chúa Giêsu. Rồi đến ngày Giuse xin vào dòng tu. Giuse được nhận và được chuyển đến thành Sêvil nước Tây Ban Nha để tham dự khóa huấn luyện, gọi là thời kỳ tập viện. Giuse bắt đầu một đời sống mới với tên gọi mới : thầy Đađicô. Sau nhiều năm chuẩn bị tâm hồn, thầy Đađicô được thụ phong linh mục. Ngài được sai đi rao giảng Tin Mừng của Đức Chúa Giêsu cho dân chúng. Cha Đađicô thích làm công việc này. Những bài giảng thuyết của cha thật rõ ràng, dễ hiểu và ý vị đến nỗi ai ai cũng muốn nghe. Thậm chí họ kéo cả bạn bè cùng tới nghe nữa! Chẳng mấy chốc ngôi thánh đường vắng lặng ngày nào bỗng trở nên quá bé nhỏ và chật hẹp đến nỗi không thể nào chứa hết những nhóm đông người. Khi cha Đađicô thuyết giảng, các lời của cha được truyền lan ra bên ngoài, thường là trong các quảng trường trung tâm thành phố hay nơi các phố sá. Cha Đađicô thích giảng về Thiên Chúa Ba Ngôi. Cha cũng luôn luôn sẵn lòng nghe những lời thú tội của các hối nhân. Cha Đađicô thật sung sướng khi thấy người ta tìm đến với Bí tích Xá Giải. Bất cứ khi nào có thời giờ rảnh, cha Đađicô liền đi thăm nom các trại tù và các bệnh xá. Cha cũng hay ghé thăm những gia đình bị xã hội bỏ quên. Cha Đađicô qua đời năm 1801 và được Đức Thánh cha Lêô XIII tôn phong chân phước năm 1894.
Chân phước Đađicô đã sống một cuộc đời phục vụ dân Chúa thật phi thường. Chúng ta hãy nài xin ngài giúp chúng ta biết khôn ngoan làm cho những điều tốt ảnh hưởng trên đời sống chúng ta. Những ảnh hưởng như thế có thể là những người thánh thiện, những lời chỉ dẫn về đàng thiêng liêng, thánh lễ, các tạp chí hay sách vở đạo đức.
Thánh Turibiô Môngrôvêjô sinh năm 1538 tại thành Léon, nước Tây Ban Nha. Ngài là giáo sư đại học và là một quan tòa danh tiếng. Turibiô là một Kitô hữu tốt lành trổi vượt về sự khôn ngoan và lòng trung thực. Một điều bất thường xảy ra làm thay đổi cả cuộc đời của Turibiô Môngrôvêjô là người ta đã xin ngài làm tổng giám mục thành Lima, nước Pêru. Trước hết, Turibiô chưa là linh mục. Thứ nữa, Pêru lại ở tận bên vùng Nam Mỹ xa xôi. Việc này đã xảy ra vì Lima đang cần một tổng giám mục. Nhiều người trong Giáo hội nhận thấy Turibiô có những khả năng và tiêu chuẩn phù hợp với chức vị đáng tín nhiệm trên. Phần Tubiriô thì lại xin được miễn thứ cho vinh dự ấy. Nhưng khi nghe biết tình cảnh đau khổ đáng thương của những người dân xứ Pêru, Turibiô đã không thể từ chối. Ngài muốn giúp đỡ và đem đức tin đến cho họ. Rồi, Turibiô được thụ phong linh mục, giám mục và sau đó đã lên đường trẩy đến Pêru. Với cương vị là tổng giám mục, thánh Turibiô kinh lý qua các miền đất nước. Ngài lội bộ qua những vùng đồi núi băng tuyết. Thánh nhân băng qua những dải cát nóng trên bờ biển. Turibiô xây cất nhiều nhà thờ và bệnh viện. Ngài cũng mở một trường đào tạo các linh mục đầu tiên ở châu Mỹ Latinh. Người ta gọi loại trường học như vậy là đại chủng viện. Turibiô học nhiều tiếng thổ âm khác nhau. Thánh nhân mong muốn giáo dân có thể nghe và hiểu được những bài giảng huấn trong thánh lễ và cáo giải bằng chính ngôn ngữ riêng của họ. Turibiô bảo vệ người dân bản xứ cho khỏi bị những kẻ thống trị đối xử tàn bạo. Thánh Tubiriô Môngrôvêjô yêu mến người dân Pêru. Thánh nhân đã dành trọn phần đời của ngài trong chức vị linh mục và giám mục cho họ. Tubiriô Môngrôvêjô qua đời ngày 23/03/1606, lúc được 68 tuổi. Năm 1726, Đức Thánh cha Bênêđictô XIII đã tôn phong Tubiriô Môngrôvêjô lên bậc hiển thánh.
Chúng ta không muốn bị những người có thế lực lừa gạt cách bất công bởi tiền bạc hoặc những đồ xa xỉ đắt tiền của họ. Mỗi người chúng ta thật quan trọng vì Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người. Chúng ta hãy nài xin thánh Tubiriô Môngrôvêjô giúp chúng ta cư xử với mọi người trong niềm kính trọng và tử tế như ngài.
Vào năm 439, thành phố Cartage bị những đạo quân man rợ chiếm giữ. Bọn chúng là “Những kẻ phá hoại những công trình văn hóa nghệ thuật”. Chúng bắt bớ giám mục và các linh mục và đặt các ngài trên một chiếc bè gỗ lớn cũ kỹ rồi thả nó trôi lênh đênh trên biển cả. Thật chẳng ngờ, chiếc bè của các ngài lại tiến đến hải cảng Napoli và các ngài được cứu vớt. Nhưng suốt 14 năm, thành phố mà các ngài bỏ lại phía sau không hề có một giám mục nào!
Ở Roma, hoàng đế Valentiniano xin Giênsênic, người lãnh đạo “Những kẻ chiếm đoạt”, cho phép ông được chọn một giám mục cho thành Cartage. Giênsênic đồng ý và người ta đã chọn một linh mục trẻ tuổi của thành ấy. Vị linh mục này được “Những kẻ chiếm đoạt” kính trọng và các Kitô hữu yêu mến. Tên gọi của ngài bằng tiếng Latinh là “Đêôgraxia” mà bên tiếng Anh có nghĩa là”Tạ ơn Thiên Chúa”. Giám mục Đêôgraxia đã gắng công hoạt động cho đức tin và cho hạnh phúc sung mãn của dân thành Cartage.
Sau đó, Giênsênic cướp phá Roma. Ông trở về Phi châu với hàng trăm nô lệ gồm đàn ông, đàn bà và con trẻ. Tất cả con cái trong gia đình đều bị bắt cóc và bị phân tán bởi “Những kẻ phá hoại” và “Những người Hồi giáo Bắc Phi”. Giênsênic hoàn toàn làm ngơ chẳng đếm xỉa gì đến những quan hệ máu mủ ruột thịt. Các phần tử gia đình được bán riêng từng người một và bị tách biệt khỏi những người thân yêu.
Giám mục Đêôgraxia nghe biết bi kịch thảm khốc này. Với hết khả năng, ngài mua lại các nô lệ khi những chiếc tàu chở nô lệ cập bến tại hải cảng Cartage. Đêôgraxia thu gom tiền bạc bằng cách bán các vật dụng thánh, lễ phục và những đồ trang trí. Đêôgraxia đã giải thoát được nhiều gia đình. Đêôgraxia tìm nơi sinh sống cho họ. Khi các nhà ở đã chứa đầy người, Đêôgraxia sử dụng hai ngôi thánh đường lớn vào mục đích này. Đêôgraxia sắm cho họ những bộ giường nệm và các vật dụng cần thiết khác để họ có thể cảm thấy thoải mái y như nhà của mình dù đang sống trong môi trường mới lạ.
Giám mục Đêôgraxia qua đời khi mới làm giám mục của thành Cartage được 3 năm. Ngài hoàn toàn mỏi mệt vì đời sống vị tha và các việc bác ái từ thiện. Những người được Giám mục Đêôgraxia giúp đỡ sẽ không bao giờ quên ơn ngài. Đêôgraxia về trời năm 457.
Thánh Giám mục Đêôgraxia giúp chúng ta nhận biết rằng chúng ta không bao giờ được phép định giá cho mạng sống con người. Mỗi một người đều là con của Thiên Chúa, là con của Người Cha rất đáng yêu mến. Chúng ta hãy cầu xin với thánh Đêôgraxia cho cuộc sống con người được tôn trọng hơn. Cách riêng, chúng ta cầu nguyện cho việc quảng bá thông tin đại chúng được ảnh hưởng nhiều đến mọi người.
Thánh Sêrapiôn sống ở Ai Cập vào thế kỷ thứ IV. Đối với Giáo hội và với thánh Sêrapiôn, đó là thời kỳ có những biến động lớn. Khi còn trẻ, Sêrapiôn được hấp thụ một nền giáo dục thâm sâu về khoa Thần học Kitô giáo và các môn học đời. Chỉ trong một thời gian ngắn, Sêrapiôn đã làm giám đốc một trường Kitô giáo danh tiếng dạy khoa Đức Tin ở Alexandria. Sau đó, Sêrapiôn trẩy vào sa mạc sống đời ẩn tu. Ngài gặp một ẩn sĩ danh tiếng là thánh Antôn Ai Cập. Sêrapiôn cố gắng hết sức để học hỏi và bắt chước vị ẩn tu này. Khi qua đời, thánh Antôn đã để lại cho Sêrapiôn một trong những chiếc áo khoác của ngài và Sêrapiôn đã trân trọng giữ gìn nó suốt cuộc đời mình. Thánh Sêrapiôn làm giám mục thành Tơmui, một thành phố thuộc vùng thấp. Năm 347, ngài đi dự buổi hội nghị rất quan trọng của các giám mục ở Sađica. Sêrapiôn tỏ ra là một giám mục rất can đảm. Ngài yêu mến các chân lý đức tin và gắng hết sức bảo vệ chúng khỏi những người muốn phế bỏ niềm tin Kitô giáo. Sêrapiôn làm việc với thánh Athanasiô, một vị giám mục rất can đảm khác. Cả hai cùng trổi vượt về lòng dũng cảm. Các ngài dùng những bài giáo huấn và chữ viết của mình để chống lại những lạc thuyết. Hầu hết các bản giáo huấn của thánh Sêrapiôn đều bị thất lạc. Chúng là những bài bình giảng cũng như cắt nghĩa đức tin và thánh vịnh rất phong phú. Tác phẩm quan trọng nhất của Sêrapiôn, gọi là “Sách Phụng vụ của Giáo hội Chính thống Đông phương”, đã bị thất lạc hàng trăm năm trước. Cuối thế kỷ thứ XIX, nó mới được tìm thấy và được xuất bản. Một vị thánh khác nổi danh vào thời đó, thánh Giêrônimô, nói rằng hoàng đế Constantino đã trục xuất Sêrapiôn. Dường như thánh Sêrapiôn đã mất vào khoảng năm 370 tại nơi ngài bị đày ải.
Thánh Sêrapiôn chỉ cho chúng ta thấy cách thức mà ngài đã sống là trở nên người Kitô hữu đạo đức, can đảm và lương thiện. Thường thì chúng ta không hiểu biết hoặc không bằng lòng với những khả năng chọn lựa của mình. Nhưng nếu muốn được trung thành với Đức Chúa Giêsu và với Giáo hội, đôi lúc chúng ta cũng phải liều mình để chịu khinh chê coi thường. Chúng ta hãy nài xin thánh Sêrapiôn ban cho chúng ta một chút lòng can đảm của ngài.
Thánh Cubơ sống ở nước Anh vào thế kỷ thứ VII. Ngài là một cậu bé chăn chiên nghèo khó, thích chơi đùa với chúng bạn. Cubơ chơi cũng rất khá. Một người trong nhóm bạn bè đã la rầy Cubơ vì tính quá mê chơi. Thật ra, anh bạn nói mà chẳng suy nghĩ gì về bản thân mình cả! Anh ta nói : “Cubơ, sao anh lại có thể phí phạm thời giờ để chơi những trò mà trong khi anh được chọn làm linh mục hay giám mục nhỉ?” Cubơ bối rối và rất xúc động. Ngài phân vân và tự hỏi rồi đây liệu mình sẽ thật là linh mục hay giám mục? Vào tháng 08/651, cậu bé Cubơ 15 tuổi nhận được một cảm nghiệm đạo đức. Cubơ nhìn thấy bầu trời hoàn toàn đen tối. Rồi đột nhiên, một luồng sáng chói lòa xuyên qua nó. Trong luồng sáng là các thiên thần đang mang một quả cầu lửa trên bầu trời. Một thời gian sau, Cubơ biết được ngay trong đêm xảy ra thị kiến, thánh Giám mục Aiđen qua đời. Cubơ không biết làm sao toàn bộ việc này lại liên quan đến mình, nhưng Cubơ đã quyết định về ơn kêu gọi của ngài và đã vào tu trong một đan viện. Cubơ trở thành linh mục và giám mục. Thánh Cubơ đã đi bộ hoặc có khi đi ngựa từ làng này sang thôn nọ, từ nhà này qua nhà kia. Cubơ thăm nom bổn đạo và giúp họ tinh thần. Đặc biệt thánh Cubơ có thể nói tiếng địa phương của những người dân quê vì xưa kia thánh nhân cũng đã từng là một cậu bé chăn chiên nghèo khổ. Cubơ làm phúc bố thí khắp nơi và đem nhiều người về với Thiên Chúa. Cubơ rất vui vẻ, bao dung và quảng đại. Người ta cảm thấy bị lôi cuốn đến với ngài mà không sợ sệt gì. Cubơ cũng là một đan sĩ thánh thiện và chuyên chăm cầu nguyện. Khi được tấn phong giám mục, thánh Cubơ hoạt động rất tích cực nhằm giúp đỡ giáo dân của ngài. Thánh nhân cố gắng thăm nom họ dù phải vất vả hành trình trên những con đường lởm chởm gồ ghề hay trong những thời tiết khắc nghiệt. Đang khi thở hơi cuối cùng, thánh Cubơ khuyên nài các đan sĩ hãy sống an bình và bác ái với mọi người. Thánh nhân qua đời năm 687.
Thánh Cubơ đã vượt ra khỏi bản thân để quảng đại yêu mến bổn đạo của ngài. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh Cubơ giúp chúng ta biết hành động như vậy để không ai cảm thấy buồn sầu hoặc khó chịu khi sống với chúng ta.
Thánh Syrilô Giêrusalem sinh khoảng năm 315 khi một giai đoạn mới bắt đầu hình thành trong giới Kitô hữu. Trước thời điểm ấy, Giáo hội bị các vua chúa bách hại. Hàng ngàn Kitô hữu đã tử vì đạo. Năm 315, hoàng đế Constantinô thừa nhận Công giáo là một đạo hợp pháp. Đây là chuyện thật kỳ lạ nhưng nó cũng chẳng tóm kết được mọi vấn đề rắc rối. Thật ra, suốt những năm sau “Sắc lệnh năm 315” các Kitô hữu lại phải đương đầu với một vấn đề khó khăn mới. Đó là sự lúng túng về điều các Kitô hữu tin và không tin! Trong Giáo hội xuất hiện nhiều giáo thuyết sai lầm gọi là “những lạc thuyết”. Một số linh mục và giám mục trở nên những người rất can đảm sẵn sàng đứng ra bệnh vực những giáo huấn của Giáo hội. Có một vị giám mục như thế tên là Syrilô Giêrusalem. Khi thánh Giám mục Giêrusalem là Maximô qua đời, Syrilô được chọn thay vào chỗ của thánh nhân. Syrilô là giám mục Giêrusalem suốt 35 năm. Trải qua 16 năm trời, Syrilô đã phải sống đời ẩn trốn và lưu đày. Thánh nhân phải chạy ra ngoài thành phố ba lần bởi những người có thế lực muốn Syrilô phải chạy trốn. Họ cố bắt ép Syrilô chấp nhận những học thuyết sai trái về Đức Chúa Giêsu và về Giáo hội. Nhưng Syrilô Giêrusalem đã không bao giờ nhượng bộ. Triều đại của hoàng đế Juliano là kẻ phản đạo bắt đầu từ năm 361. Juliano quyết định xây cất lại đền thờ danh tiếng Giêrusalem. Ông có một chủ đích rõ rệt và chắc chắn trong tâm trí là muốn chứng minh rằng Đức Chúa Giêsu thật sai lầm khi tuyên bố đền thờ Giêrusalem sẽ không được xây dựng lại, và ông quyết chứng minh điều đó. Vì thế, Juliano gom góp thật nhiều tiền của và cung cấp tất cả những thứ vật liệu cần thiết cho việc phục hồi ngôi đền. Nhiều người đã giúp đỡ bằng cách dâng tặng những đồ trang sức và những kim loại quý hiếm. Tuy nhiên, thánh Syrilô đối phó với khó khăn này bằng dáng vẻ bình thản. Thánh nhân tin chắc rằng ngôi đền sẽ không thể nào được hồi phục vì Đức Chúa Giêsu, là Thiên Chúa, đã nói như thế. Vị giám mục yên lặng quan sát hết thảy những vật liệu và nói : “Tôi tin rằng việc này sẽ thất bại!” Và y như dự kiến, đầu tiên một cơn bão, rồi một trận động đất, rồi một vụ hỏa hoạn đã làm cản trở công việc của vua. Cuối cùng, ông vua phải bãi bỏ dự án. Thánh Syrilô Giêrusalem về trời năm 386, lúc khoảng 70 tuổi. Con người khoan dung, dịu dàng và tốt bụng này sống vào thời đại đau buồn và đầy biến động. Dầu vậy, Syrilô Giêrusalem đã không bao giờ đánh mất đi lòng can đảm phát xuất từ Đức Chúa Giêsu. Suốt cả cuộc đời, Syrilô Giêrusalem đã sống trung thành với Thiên Chúa. Syrilô Giêrusalem thật là anh dũng trong việc rao giảng những chân lý về Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người.
Thánh Syrilô Giêrusalem dạy chúng ta rằng Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta những cơ hội để làm điều tốt. Chúng ta hãy nài xin thánh Syrilô Giêrusalem ban cho tấm lòng can đảm để xả thân dù phải gặp cảnh gian nan khốn khó.
Chân phước Tôrêlô sinh năm 1202 ở Poppi, nước Ý. Cuộc đời của Tôrêlô khi còn là một cậu trẻ làng quê thật bình dị và chẳng có gì đặc biệt. Nhưng sau cái chết của thân phụ, Tôrêlô bắt đầu thay đổi toàn bộ lối sống. Tôrêlô quan hệ với phường bạn bè say xỉn. Chúng suốt ngày lang thang trong thành phố thay vì làm việc lao động. Tôrêlô thích những đứa bạn mới và gắng sức thu chiếm lòng họ. Thế rồi, vào một ngày kia, đang khi chơi một bộ môn thể thao ngoài trời, một con gà trống đã từ chỗ đậu của nó bay sà xuống. Nó đậu trên cánh tay của Tôrêlô rồi gáy ba hồi dài và lớn tiếng. Tôrêlô xúc động không nói nên lời. Ngài đã chuồn đi và bỏ cuộc chơi. Tôrêlô nghĩ rằng việc con gà trống vừa làm không phải là một chuyện tình cờ. Tôrêlô bị khuyến cáo y như thánh Phêrô ngày xưa. Lối sống vô trách nhiệm của Tôrêlô sẽ dẫn Tôrêlô quay trở về với Đức Chúa Giêsu. Ngay lúc ấy, Tôrêlô quyết định thay đổi cuộc sống. Ngài đến gặp đức đan viện phụ San Phedel và người đã giúp Tôrêlô xưng thú tội lỗi cách sốt sắng. Rồi Tôrêlô đi đến miền rừng núi tĩnh mịch và chọn một nơi gần bên cây cổ thụ. Tôrêlô trải qua 8 ngày cầu nguyện liên lỉ. Vào cuối kỳ, Tôrêlô quyết định sẽ làm một ẩn sĩ. Ngài trở về Poppi và bán tất cả của cải. Tôrêlô chỉ giữ lại số tiền vừa đủ để mua một mảnh đất vuông và nhỏ ở xung quanh cây cổ thụ mà ngài đã tìm thấy trong khu rừng. Bên cạnh cây gỗ đó, Tôrêlô dựng một cái lều và chính tại đây, Tôrêlô đã trải qua phần đời còn lại của ngài. Tôrêlô trồng rau để ăn và múc nước từ dòng suối để uống. Tôrêlô cầu nguyện và sám hối. Đặc biệt nhất là mỗi đêm Tôrêlô chỉ ngủ có 3 giờ đồng hồ. Chân phước Tôrêlô cảm thấy rằng Thiên Chúa muốn ngài làm ẩn sĩ. Đây là điều làm cho Tôrêlô được bình an và thanh thản. Khi còn sống, rất ít người biết được cuộc đời ẩn tu của Tôrêlô. Chỉ có một người bạn biết được đời sống tu rừng kín ẩn của Tôrêlô mà thôi. Sau khi sống trên 50 năm như một ẩn sĩ, chân phước Tôrêlô qua đời năm 1282, lúc vừa tròn 80 tuổi.
Chân phước Tôrêlô dạy chúng ta hãy chiếm thủ lấy số phận đời đời một cách nghiêm túc bằng chính đời sống của ngài. Mỗi người đều phải chết và bị Thiên Chúa phán xét. Con đường chúng ta chọn lựa để sống chính là con đường chúng ta sẽ trải qua hạnh phúc đời đời.
Thánh Zacaria là tu sĩ dòng thánh Bênêđictô ở Hy Lạp. Ngài sống vào thế kỷ thứ VIII. Zacaria được chọn làm hồng y rồi giáo hoàng. Vào thời đại của Zacaria, đã xảy ra một cuộc đấu tranh trên khắp nước Ý. Thánh Giáo hoàng Zacaria nắm giữ việc xây dựng hòa bình và cứu lấy người dân thoát khỏi những cuộc chinh chiến thảm khốc. Đôi lúc, thánh Zacaria đã liều mạng sống mình để làm việc này. Chính vì thánh Zacaria thật hiền lành và tử tế nên các nhà lãnh đạo đã thực hiện điều ngài yêu cầu. Dù là kẻ thù, Zacaria cũng vẫn làm ơn và đối xử với họ bằng tấm lòng hết sức quảng đại. Thánh nhân không bao giờ trả thù họ. Khi Giáo hoàng Zacaria biết được những người thuộc phái Lômba sắp sửa tấn công thành Roma, ngài liền xin đi gặp vị lãnh đạo của họ. Rồi Đức Giáo hoàng Zacaria và Liut Prand, người cầm đầu phái Lômba, đã gặp gỡ nhau. Bất cứ điều gì họ thảo luận với nhau thì kết quả hai bên đều nhất trí đồng tình. Liut Prand bỏ đi kế hoạch xâm lược của ông. Ông cũng trao trả lại tất cả lãnh thổ mà ông đã chiếm lấy trong vùng đó trên 30 năm về trước. Thậm chí ông đã cho phóng thích tất cả các tù nhân. Và Liut Prand ký một hiệp ước 20 năm bảo đảm cho người dân Roma sẽ không bị những người thuộc phái Lômba tấn công. Thánh Zacaria cũng được mọi người biết đến như một người cha đích thực đối với những người nghèo khổ. Ngài xây dựng nhà cửa cho họ và cho những lữ khách. Trái tim yêu thương của Zacaria không thể nằm yên khi thấy người ta đau khổ. Lần kia, Zacaria nghe biết có một vài thương gia đã mua các nô lệ ở Roma và sẽ đem bán họ tại Phi châu. Thánh nhân liền cho gọi những thương gia ấy đến và quở trách họ vì tội quá ác độc. Rồi, ngài trả cho họ giá tiền họ đã mua các nô lệ và thả các nô lệ tự do. Khi thánh Zacaria qua đời năm 752, hết thảy mọi người đều buồn bã thương tiếc vì đã mất đi một người cha đầy nhân hậu và thánh thiện.
Thánh Zacaria được mọi người yêu mến và kính phục vì ngài đã không để ý đến bản thân mình. Thánh nhân chỉ quan tâm đến những nhu cầu của người khác. Chúng ta hãy nài xin thánh Zacaria chỉ cho chúng ta biết cách sống quảng đại và vị tha.
Thánh nữ Matilđa sinh khoảng năm 895. Ngài là con gái của một bá tước người Đức. Lúc còn rất trẻ, cha mẹ của Matilđa đã xếp đặt việc hôn nhân của ngài với một chàng quý tộc tên là Henri. Sau đám cưới chẳng bao lâu, Henri làm vua nước Đức. Khi trở thành hoàng hậu, Matilđa sống cuộc đời khiêm tốn đơn sơ với những giờ kinh nguyện hằng ngày. Ai trông thấy Matilđa thì đều phải chân nhận rằng Matilđa thật tốt lành và rất nhân hậu. Matilđa giống một hiền mẫu hơn là một nữ hoàng. Matilđa thích thăm nom và an ủi những người đau yếu. Matilđa giúp đỡ các tù nhân. Matilđa đã không để cho mình bị hư hỏng bởi quyền cao chức trọng nhưng đã cố gắng đến với những người nghèo túng hoạn nạn. Vua Henri nhận thấy hoàng hậu của ông là một người vĩ đại lạ thường. Nhiều lần ông nói với Matilđa rằng sở dĩ ông được là một người khá hơn và là một quốc vương tốt hơn là vì nhờ có Matilđa làm vợ. Dù cho cuộc hôn nhân của hai người bị xếp đặt đi nữa, Henri và Matilđa vẫn thật lòng yêu nhau. Matilđa được tự do sử dụng vàng bạc của vương quốc làm việc bác ái và Henri chẳng bao giờ tra hỏi Matilđa về điều đó. Thật ra, Henri dần dần ý thức hơn về những nhu cầu cần thiết của thần dân. Henri nhận thấy ông có quyền giảm bớt nỗi đau khổ cho dân chúng nhờ chức vị của ông. Hai người sống đời đôi bạn thật hạnh phúc suốt 23 năm. Rồi vua Henri qua đời một cách bất ngờ khoảng năm 936. Hoàng hậu đã đau khổ rất nhiều vì sự mất mát này. Rồi ngay lúc ấy, Matilđa đã đoan hứa chỉ sống cho riêng mình Thiên Chúa. Vì thế, Matilđa xin linh mục dâng thánh lễ cầu cho linh hồn của vua Henri. Rồi Matilđa trao cho vị linh mục tất cả đồ trang sức ngài đang mang. Matilđa làm như thế để cho biết rằng từ lúc này trở đi, Matilđa có ý từ bỏ mọi sự thế gian. Dù là một vị thánh, Matilđa cũng đã phạm một lỗi nặng. Matilđa biệt đãi Henri hơn Otto trong việc tranh đấu lên ngôi vua. Và Matilđa đã hối hận vì chuyện này. Matilđa đền bù khuyết điểm bằng cách chấp nhận những đau khổ xảy đến mà không kêu ca phàn nàn chi. Trải qua những năm đền tội và làm việc bác ái, thì đến năm 968, thánh nữ Matilđa qua đời trong an bình. Thánh nữ được chôn cất bên cạnh người chồng thân yêu của ngài.
Như thánh nữ Matilđa, chúng ta hãy học cách dâng lên những đau khổ nhỏ mọn để đền bù vì những làm lỗi và khuyết điểm của chúng ta.
Thánh nữ Êuphrasia được sinh ra ở thế kỷ thứ V trong một gia đình Công giáo gốc. Thân phụ Êuphrasia, là người thuộc dòng dõi hoàng tộc, qua đời khi Êuphrasia mới được 1 tuổi. Nhà vua trông nom săn sóc Êuphrasia và thân mẫu ngài. Khi lên 7, thân mẫu đưa Êuphrasia sang Ai Cập. Ở đó, họ sống trong một ngôi nhà lớn tọa lạc gần bên một nữ đan viện. Êuphrasia bị hấp dẫn bởi các nữ tu. Ngài năn nỉ thân mẫu cho phép mình được phục vụ Thiên Chúa trong đan viện mà các chị nữ tu thánh thiện đang sống. Mới chỉ là một cô bé vậy mà Êuphrasia không lìa bỏ ý tưởng hoặc quên mất lời thỉnh cầu của mình. Chẳng bao lâu sau đó, thân mẫu dẫn Êuphrasia đến đan viện và trao gởi Êuphrasia cho đan viện mẫu chăm sóc. Năm tháng trôi qua! Khi thân mẫu Êuphrasia qua đời, nhà vua nhắc nhớ Êuphrasia rằng cha mẹ đã hứa gả Êuphrasia cho một nghị sĩ trẻ tuổi. Tuy nhiên, Êuphrasia chỉ muốn được thuộc trọn về một mình Đức Chúa Giêsu mà thôi. Vì vậy, Êuphrasia đã viết một lá thư hết sức cảm động cho nhà vua. Trong đó ngài nói : “Con thuộc về Đức Chúa Giêsu và con không thể trao thân gởi phận mình cho bất cứ một ai khác. Ước muốn duy nhất của con là được thế gian quên đi hoàn toàn. Con khiêm tốn nài xin bệ hạ đem phân phát cho người nghèo khó tất cả phần tài sản cha mẹ con để lại cho con. Con cũng xin bệ hạ trao trả lại tự do cho tất cả những người nô lệ của gia đình con!” Nhà vua thấy lá thư của Êuphrasia quá cảm động đến nỗi ông đã đọc to lên cho tất cả mọi nghị sĩ cùng nghe. Rồi vua thực hiện mọi điều Êuphrasia xin. Êuphrasia sống phần đời còn lại của mình trong chốn tu viện. Êuphrasia chẳng bao giờ nuối tiếc vì Thiên Chúa đã chọn ngài làm nữ tu. Êuphrasia qua đời năm 420.
Thật là sung sướng hạnh phúc khi chúng ta có những quần áo đẹp và nhiều của cải tiện nghi đáng kể. Nhưng đừng bao giờ chúng ta quên rằng cuộc sống này còn có điều quan trọng hơn thế nữa. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Êuphrasia giúp chúng ta biết quý trọng tha nhân không vì họ có cái gì nhưng vì họ là ai.
Thánh nữ Phina được sinh tại San Giêminianô, một thị trấn nhỏ thuộc nước Ý. Song thân Phina từng có một thời rất khá giả nhưng sự rủi ro đã làm cho họ phải tan gia bại sản. Sêraphina (hay Phina như gia đình vẫn thường quen gọi) là con gái của họ. Phina rất xinh đẹp và có tính tình vui vẻ hoạt bát. Phina có tấm lòng bao dung quảng đại. Mỗi ngày Phina dành ra nửa phần ăn tối cho một ai đó trong thị trấn có tình cảnh nghèo khổ hơn mình. Suốt ngày, Phina may vá và dệt vải để phụ giúp gia đình trả nợ. Vào buổi tối, Phina thường dành ra một thời gian dài để cầu nguyện với Đức Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Thân phụ Phina qua đời lúc ngài còn rất trẻ. Lại nữa, Phina phải chịu một chứng bệnh làm cho thân thể bị tê liệt và biến dạng. Phina hầu như không thể cử động được và phải nằm liệt suốt 6 năm trên những tấm ván gỗ. Nỗi đau đớn xâm chiếm toàn thể thân xác Phina. Cách duy nhất Phina có thể chịu đựng là hướng tâm trí lên Đức Chúa Giêsu lúc Người bị đóng đinh thập giá. Phina thì thầm : “Lạy Chúa Giêsu, con xin kết hợp những đau khổ của con với những nỗi thống khổ của Chúa!” Thỉnh thoảng, khi cơn đau lên đến cùng cực, Phina nói : “Ôi Chúa Kitô! Không phải là những nỗi đau của con nhưng chính sự thống khổ của Chúa làm con đau đớn!” Mỗi ngày, thánh nữ Phina bị bỏ lại trên giường hàng giờ vì thân mẫu ngài phải đi làm hoặc đi xin ăn. Những người láng giềng biết tình cảnh của Phina, nhưng các chỗ viêm nhức của Phina lại bốc mùi hôi thối quá đến nỗi người ta đành phải cáo lỗi không dám đến thăm ngài. Rồi bất ngờ, thân mẫu của Phina cũng lìa đời. Giờ đây, cô gái bị bỏ lại mồ côi một mình. Chỉ có một người hàng xóm, người bạn Bêlđia tốt bụng của Phina, đến chăm sóc ngài. Bêlđia cố gắng lưu tâm săn sóc Phina hết sức có thể nhưng Phina cũng thường bị bỏ rơi. Rõ ràng là Phina không thể sống lâu hơn được nữa. Phina không muốn làm mất đi nhiệt tâm của mình. Một người kia đã đề cập với Phina về những đau khổ khủng khiếp mà thánh Grêgôriô Cả đã bền tâm chịu đựng. Phina liền dâng hiến tấm thân cho thánh nhân. Người ta nói rằng ngày kia, đang khi Phina rên rỉ đau đớn, thì thánh Grêgôriô Cả đã hiện ra với ngài. Thánh nhân nói một cách đầy nhân hậu : “Hỡi con, trong ngày lễ kính cha, Chúa sẽ ban cho con được an nghỉ!” Lễ kính thánh Grêgôriô Cả trong lịch cũ được cử hành ngày 12/03 bởi thánh nhân qua đời ngày 12/03/604. Vì thế, ngày 12/03/1253, thánh Grêgôriô Cả đã đến đưa Phina về quê trời.
Thánh nữ Phina giúp chúng ta biết quý trọng ý nghĩa và giá trị đau khổ của Kitô giáo. Chúng ta cũng có thể thấy được giá trị của việc viếng thăm những người già nua, đau ốm, bị bỏ rơi. Chúng ta hãy nài xin thánh Phina ban cho chúng ta một trái tim biết nhạy cảm đối với những ai đang cô đơn hoặc sầu khổ.
Thánh Êulôgiô sống vào thế kỷ thứ IX. Gia đình ngài rất có thế giá ai cũng biết đến, và Êulôgiô được hấp thụ một nền giáo dục thật tuyệt vời. Khi học những bài học, Êulôgiô cũng học luôn gương sáng của các thầy giáo. Êulôgiô thích đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Việc đọc Kinh Thánh giúp Êulôgiô yêu mến Lời Chúa. Êulôgiô muốn mang Tin Mừng của Chúa Kitô đến cho mọi người. Khi trưởng thành, Êulôgiô làm linh mục và làm hiệu trưởng của một trường danh tiếng. Lúc này, các tín đồ Hồi giáo đã nắm quyền cai trị đất nước Tây Ban Nha. Họ chống báng Công giáo. Đầu tiên, họ cố gắng làm cho các Kitô hữu chối bỏ đức tin. Những giáo dân nào từ chối không chịu thay đổi tôn giáo liền bị tống giam. Thậm chí một vài người đã bị giết chết. Êulôgiô và đức Giám mục của ngài cũng bị giam tù cùng với nhiều Kitô hữu khác. Trong chốn lao tù, Êulôgiô đọc Kinh Thánh lớn tiếng để khuyến khích các tù nhân. Khi họ nghe Lời Chúa, họ không còn cảm thấy sợ chết vì Đức Chúa Giêsu nữa. Suốt thời gian này, thánh Êulôgiô viết một cuốn sách phấn khích các Kitô hữu thà chết còn hơn là chối bỏ đức tin thánh thiện của mình. Chính thánh Êulôgiô cũng muốn được là một vị tử đạo hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng thay vào đó, ngài lại bị mời ra khỏi tù. Ngay khi vừa được tự do, thánh Êulôgiô bắt đầu giảng dạy và hoán cải nhiều tâm hồn. Những người bắt giam Êulôgiô trước đây quá tức giận đến nỗi họ lại bắt giữ ngài lần nữa. Trước mặt quan tòa, Êulôgiô can đảm tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Êulôgiô bị họ kết án và ngài đã hiến dâng mạng sống mình cho Đức Chúa Giêsu. Êulôgiô về trời năm 859.
Chúng ta hãnh diện về những vị anh hùng thời chiến của đất nước chúng ta. Chúng ta mơ ước được làm những việc cả thể như họ đã làm. Cuộc sống của thánh Êulôgiô nhắc nhở chúng ta cũng rất có thể tự hào về những vị anh hùng của đức tin. Chúng ta hãy cố gắng trở nên giống họ.
Thánh Simplixiô làm Giáo hoàng năm 468. Đôi lúc, người ta nghĩ rằng hình như chỉ có một mình ngài là đang ra sức để cố gắng chấn chỉnh lại những thói lệ xấu đang hiện diện khắp nơi mà thôi. Những kẻ chiến thắng đã nắm quyền cai trị các địa hạt rộng lớn. Thậm chí quân xâm lăng chiếm giữ cả Roma. Dân chúng đói khổ lầm than. Họ bị những cựu quan chức Roma đàn áp và cướp bóc. Cảnh nghèo túng rình mò lảng vảng trên các đường phố và tước đi niềm an vui của mọi người. Dù sao thì những kẻ cai trị mới đã không đòi phải đóng sưu nộp thuế. Giáo hoàng Simplixiô cố tìm mọi cách để khuyến thiện và nâng đỡ đàn chiên của ngài. Simplixiô luôn hiện diện ở đó để nâng đỡ họ dù những cố gắng của ngài xem ra thật nhỏ bé và chẳng đáng kể gì. Và vì có tâm hồn thánh thiện, Giáo hoàng Simplixiô đã không bao giờ chán nản tuyệt vọng. Hơn cả những lời nói, Simplixiô giảng dạy họ bằng chính gương mẫu đời sống thánh thiện của ngài. Bởi là Giáo hoàng, thánh Simplixiô đã phải rất đau khổ vì một nguyên do khác nữa. Một số bổn đạo của Simplixiô ngoan cố quyết giữ những quan điểm sai lạc của họ. Rồi, hết sức đau buồn, thánh Simplixiô đã phải đuổi họ ra khỏi Giáo hội. Ngài thật nhân hậu và khiêm tốn khi sửa dạy những con chiên làm điều sai quấy. Thánh Simplixiô ở trong chức vụ Giáo hoàng được 15 năm và 11 tháng. Rồi Thiên Chúa đã gọi ngài về lãnh nhận phần thưởng do những lao nhọc vất vả của ngài. Năm 483, thánh Simplixiô qua đời và được mai táng tại vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Roma.
Chúng ta được thánh Simplixiô nhắc nhớ rằng khi mang giữ trách nhiệm thì đòi cần phải có lòng can đảm. Chẳng có sự gì trong cuộc đời này xảy ra theo như cách chúng ta mong muốn. Chúng ta hãy học hỏi để chấp nhận những trường hợp đau khổ hoặc những hoàn cảnh khó chịu xảy đến với chúng ta. Một vài người dường như có vẻ cố ý đặt ra những chướng ngại hầu cản ngăn chúng ta thực hiện những việc tốt lành. Khi ấy, chúng ta hãy cầu nguyện với thánh Simplixiô. Chúng ta hãy khẩn xin thánh nhân giúp chúng ta biết sống như ngài và không bao giờ chán nản thất vọng.
Thánh nữ Phanxica Roma sinh năm 1384. Song thân của ngài là những người giàu có nhưng họ đã dạy cho Phanxica biết quan tâm đến tha nhân và sống đời Kitô hữu tốt lành. Phanxica là một cô bé thông minh lanh lẹ. Phanxica cho cha mẹ biết khi lên 11 tuổi thì sẽ đi tu. Nhưng thay vào đó, họ lại khuyến khích Phanxica nghĩ tưởng đến chuyện kết hôn. Theo truyền thống, họ chọn cho Phanxica một thanh niên trẻ trung, tốt lành làm chồng. Khi ấy, Phanxica chỉ mới được 13 tuổi! Thánh nữ Phanxica và người chồng của ngài, ông Lôrenzô Ponzianô, đã say mê tha thiết yêu nhau. Dù cho cuộc hôn nhân được sắp đặt, họ đã sống đời đôi bạn thật hạnh phúc bên nhau suốt 40 năm. Lôrenzô rất khâm phục người vợ và người chị họ Vannôza của mình. Cả hai cùng cầu nguyện hằng ngày và làm các việc sám hối cho Giáo hội của Chúa. Lúc ấy, Giáo hội đang gặp nhiều thử thách gian truân. Phanxica và Vannôza cũng thăm viếng người nghèo. Họ chăm sóc những người đau ốm. Họ mang lương thực và củi đốt cho những người cần dùng. Các phụ nữ giàu có khác được gợi hứng bởi gương sáng của họ cũng hy sinh đời sống mình và phục vụ nhiều hơn. Phanxica lợi dụng mọi dịp để tăng triển đời sống cầu nguyện. Thánh nữ thực sự sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong cuộc đời của ngài. Thánh nữ Phanxica và Lôrenzô là những người giàu lòng từ bi trắc ẩn. Các ngài biết phải chịu đau khổ là thế nào! Các ngài đã mất hai trong ba người con vì cơn bệnh dịch. Điều này làm cho các ngài dễ nhạy cảm hơn trước những tình cảnh khó khăn của dân nghèo. Trong suốt những cuộc chiến giữa giáo hoàng hợp lệ và các giáo hoàng đối cử, Lôrenzô đã dẫn dắt những đạo quân bảo vệ Đức Giáo hoàng đích thực. Đang lúc chiến đấu tại sa trường, các kẻ thù của Lôrenzô đã cướp phá tài sản của ngài. Dầu vậy, Phanxica cũng thu quén được một phần ngôi biệt thự của gia đình đã bị hư hỏng và dâng cho bệnh viện sử dụng. So sánh những khó khăn xảy đến cho gia đình của Phanxica Roma, thì những cư dân sống trên đường phố vẫn hoạn nạn túng bấn hơn rất nhiều. Sau đó, Lôrenzô bị thương trở về nhà và được chính người vợ yêu quý của mình chữa trị. Ông qua đời năm 1436. Thánh Phanxica Roma dùng 4 năm còn lại của đời mình sống trong hội dòng mà ngài đã giúp thành lập. Thánh nữ Phanxica Roma mất ngày 09/03/1440. Ngài được Đức Thánh cha Phaolô V tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1608.
Thánh nữ Phanxica Roma thật hết lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Ngài nhận biết được cách tốt nhất để chứng tỏ tình yêu thương ấy là cầu nguyện cho Giáo hội. Những cách khác là trông nom chăm sóc gia đình và quan tâm đến những người nghèo khổ. Chúng ta hãy nài xin thánh Phanxica Roma giúp chúng ta biết cách thể hiện tình yêu của mình đối với Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Chúa.
Perpêtua và Phêlixita sống ở thành phố Cartage, Bắc Phi vào thế kỷ thứ III. Đây là thời gian các Kitô hữu bị bách hại khốc liệt bởi hoàng đế Septimô Sêrêvô. Perpêtua 22 tuổi là con gái của một nhà quý tộc giàu có. Khi lớn lên, Perpêtua nhận được mọi thứ ngài muốn. Nhưng Perpêtua hiểu được mình yêu mến Đức Chúa Giêsu và đức tin Kitô giáo của mình hơn bất cứ sự gì thế gian ban tặng. Vì lý do này, Perpêtua coi mình như một tù nhân đang trên đường đến nơi hành quyết. Thân phụ của Perpêtua là một người ngoại giáo. Ông đã làm mọi điều có thể hầu có thể thuyết phục cô con gái của ông từ bỏ đức tin Công giáo. Ông dùng thế lực cưỡng ép Perpêtua hãy cứu lấy mạng sống của ngài. Nhưng Perpêtua không chịu nhượng bộ dù biết rằng sẽ phải bỏ lại người chồng và đứa con yêu quý.
Phêlixita, người hầu gái của Perpêtua, là một nô lệ thuộc Kitô giáo. Thánh nữ và Perpêtua là hai người bạn rất thân. Các ngài cùng có chung một niềm tin và tình yêu dành cho Đức Chúa Giêsu. Phêlixita cũng sẵn lòng hy sinh đời sống mình vì Đức Chúa Giêsu và vì đức tin. Do bởi điều này, Phêlixita cũng nhận thấy bản thân mình chính là tù nhân trên đường hành quyết. Phêlixita là một người vợ trẻ. Đang khi chịu tù vì đức tin, thánh nữ cũng trở nên một người mẹ. Đứa trẻ bé bỏng được một phụ nữ Công giáo tốt lành nhận làm con nuôi. Phêlixita cảm thấy thật sung sướng hạnh phúc vì giờ đây mình có thể chịu tử vì đạo.
Perpêtua và Phêlixita tay nắm tay cùng anh dũng đối diện với phúc tử đạo. Các ngài bị thú dữ dày xéo và sau đó bị xử trảm. Các ngài mất vào khoảng năm 202.
Các thánh tử đạo thật trung thành với Chúa Kitô đến nỗi các ngài đã thực hiện những hy sinh lớn lao. Thậm chí các ngài đã từ bỏ mạng sống mình vì Người. Chúng ta cũng hãy nài xin hai thánh Perpêtua và Phêlixita giúp chúng ta vui vẻ chấp nhận những hy sinh nhỏ bé xảy đến trong đời sống thường ngày.
Sinh năm 1380, Nicolette được đặt tên để tỏ lòng tôn kính thánh Nicola Myra. Song thân yêu quý đặt cho ngài tên hiệu Côlét (Colette) ngay từ khi thánh nữ còn là đứa trẻ sơ sinh. Thân phụ của Côlét làm nghề thợ mộc tại nơi mà trước đây từng là một tu viện ở thị trấn Picardi. Âm thầm và chăm chỉ, Côlét là người rất hữu ích trong việc giúp đỡ thân mẫu quán xuyến việc nhà. Cha mẹ Côlét chú ý theo dõi việc ham thích cầu nguyện và bản tính nhạy cảm, đáng yêu của Côlét. Khi thánh nữ Côlét lên 17 tuổi, song thân qua đời. Người thiếu nữ này được đặt dưới sự quản nhiệm của đan viện phụ đan viện nơi thân phụ ngài đã giúp việc ngày xưa. Côlét đã xin và nhận được một túp lều dựng gần nguyện đường của đan viện. Và Côlét sống ở đó. Thánh nữ dùng thời giờ để làm việc hy sinh và cầu nguyện cho Giáo hội của Đức Chúa Giêsu. Càng ngày càng có nhiều người nhận biết về người thiếu nữ thánh thiện này. Họ đến thăm và xin Côlét lời khuyên về những vấn đề quan trọng. Họ biết Côlét khôn ngoan bởi vì thánh nữ sống gần gũi thân mật với Thiên Chúa. Côlét tiếp đón mọi người với tấm lòng thân ái dịu dàng. Sau mỗi cuộc thăm viếng, Côlét đã cầu nguyện để những người khách của thánh nữ tìm lại được bình an tâm hồn. Thánh nữ Côlét là hội viên của dòng Ba Phanxicô. Thánh nữ biết luật dòng thánh Clara sống theo lối thánh Phanxicô. Họ được đặt tên theo danh xưng của thánh Clara, vị sáng lập của họ, cũng là môn đệ của thánh Phanxicô. Trong thời của Côlét, dòng thánh Clara cần phải quay trở về mục đích chính yếu của dòng. Thánh Phanxicô Assisie đã hiện ra với thánh Côlét và xin thánh nữ canh tân hội dòng. Hẳn là Côlét rất đỗi ngạc nhiên và lo sợ trước một nhiệm vụ khó khăn như thế! Nhưng thánh nữ đã tin tưởng vào ơn Thiên Chúa. Thánh Côlét hành trình đến các nữ tu viện. Ngài giúp các nữ tu sống khó nghèo và chuyên cần cầu nguyện hơn. Đời sống của thánh nữ Côlét gợi hứng cho các nữ tu dòng thánh Clara. Côlét có lòng sùng kính đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Côlét cũng hay dùng thời giờ để suy ngẫm về cuộc Khổ Nạn và Sự Chết của Đức Chúa Giêsu. Thánh nữ rất yêu mến Đức Chúa Giêsu và ơn kêu gọi tu trì của ngài. Thánh nữ Côlét được ơn biết chính xác thời điểm và nơi chốn ngài sẽ chết. Thánh nữ qua đời tại một trong những tu viện ở Ghent, Flander vào năm 1447, lúc được 67 tuổi. Năm 1807, Côlét được Đức Thánh cha Piô VI tôn phong lên bậc hiển thánh.
Thánh nữ Côlét khuyên dạy chúng ta rằng cho dù chúng ta bị yêu cầu làm những công việc khó khăn, chúng ta cũng vẫn có thể tìm được niềm vui như ngài. Chúng ta hãy thực hiện việc này bằng cách mỗi ngày liên kết mật thiết hơn với Thiên Chúa.
Thánh Gioan Giuse Thánh Giá sinh ở miền Nam nước Ý vào ngày lễ Đức Mẹ Mông Triệu năm 1654. Gioan Giuse là một quý tộc trẻ tuổi nhưng lại ăn mặc giống như người nghèo. Ngài làm điều đó chỉ vì muốn sống khó nghèo như Đức Chúa Giêsu. Năm lên 16 tuổi, Gioan Giuse vào tu dòng thánh Phanxicô Khó Khăn. Ngài rất ham thích sống cuộc đời vị tha như Đức Chúa Giêsu. Điều này khiến Gioan Giuse làm nhiều việc hy sinh cách vui vẻ. Mỗi đêm Gioan Giuse chỉ ngủ ba giờ đồng hồ và chỉ ăn uống rất đơn sơ giản dị. Rồi, Gioan Giuse được thụ phong linh mục. Gioan Giuse làm bề trên tu viện Santa Lucia ở Napoli, nơi ngài đã sống hầu như cả cuộc đời lâu dài ở đó. Cha Gioan Giuse luôn luôn đòi làm những công việc nặng nhọc nhất. Ngài vui vẻ chọn làm những phần việc mà không ai muốn làm. Thánh Gioan Giuse có một tính tình rất đáng yêu nhưng ngài đã không gắng công lôi kéo sự chú ý của bất kỳ ai. Thay vì đợi cho người ta nhận ra những ân lộc của mình và tiến đến với mình thì Gioan Giuse đã đi đến với tha nhân trước. Hết thảy mọi anh em linh mục và tu sĩ đều xem Gioan Giuse là một linh mục đáng quý. Thánh nhân cũng đặc biệt yêu mến Đức Thánh Trinh Nữ Maria và cố gắng giúp cho người khác cũng yêu mến Đức Mẹ. Vị linh mục yêu mến Thiên Chúa nhiều đến độ dù ngã bệnh ngài cũng vẫn tiếp tục làm việc. Thánh Gioan Giuse qua đời ngày 06/03/1734, ngài được Đức Thánh cha Piô VIII tôn phong lên bậc hiển thánh.
Tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân của thánh Gioan Giuse Thánh Giá thật quảng đại. Thánh nhân mời gọi chúng ta hãy vượt thắng sự ích kỷ hẹp hòi để giữ chúng ta lại trên cuộc hành trình đến với Thiên Chúa. Chúng ta hãy cố gắng cư xử với mọi người bằng tấm lòng tử tế và tôn trọng nhau trong sự bình đẳng dù chúng ta có thể yêu thích một số người này hơn một số người kia.
Thánh Casimia sinh năm 1458, là con trai của Casimia IV, vua nước Ba Lan. Casimia là một trong 13 người con. Với sự hướng dẫn của bà mẹ rất mực đạo hạnh và cũng là người thầy tận tâm tận lực, Casimia nhận được một nền giáo dục thật tuyệt vời. Khi lên 13 tuổi, Casimia có cơ hội làm vua nước láng giềng Hungari nhưng ngài đã từ chối. Casimia dùng phần thời giờ còn lại của ngài để sống những lý tưởng Kitô giáo. Casimia sống rất vui vẻ, hòa mình và thân ái với mọi người. Ẩn dưới lớp mặt bên ngoài của cuộc sống bận rộn, Casimia đã cố gắng hết sức để trau dồi đời sống thiêng liêng bên trong. Casimia thường hay ăn chay và ngủ dưới nền nhà để sám hối đền tội. Ngài cầu nguyện mỗi ngày, đôi khi ngay cả giữa đêm khuya thanh vắng. Casimia yêu thích việc cầu nguyện và tưởng niệm về cuộc Thương Khó của Đức Chúa Giêsu. Casimia nhận ra đây là phương thế tuyệt hảo để học biết và yêu mến Đức Chúa Giêsu hơn. Casimia cũng yêu mến Đức Mẹ Đồng Trinh Maria với một mối tình thật đặc biệt. Để tôn kính Đức Mẹ, Casimia đã năng đọc đi đọc lại bài thánh ca ý vị. tên của bài ca là : “Ngày ngày, hãy hát mừng Mẹ Maria!” Sau này người ta đã chôn táng thánh Casimia cùng với bản viết tay bài hát ấy của ngài. Tuy sức khỏe của Casimia không được khá lắm nhưng ngài có tính khí thật can đảm và mạnh mẽ. Casimia luôn luôn làm điều ngài nhận biết là phải. Thậm chí đôi khi Casimia đề nghị với thân phụ của ngài, là quốc vương, hãy cai trị thần dân cách công bằng hơn. Casimia luôn luôn bày tỏ việc này với tấm lòng hết sức kính trọng nên vua cha đã làm theo những gì ngài nói. Thánh Casimia có một tình yêu và niềm tôn trọng đặc biệt đối với đức trinh khiết. Song thân Casimia đã tìm cho ngài một thiếu nữ đức hạnh trẻ đẹp để làm bạn đường. Tuy thế, Casimia đã quyết định dâng hiến trọn vẹn trái tim của ngài cho một mình Thiên Chúa. Đang khi ở Lithuania trong chuyến công tác phục vụ cho đất nước này, Casimia đã ngã bệnh vì chứng lao phổi. Ngài qua đời lúc vừa được 26 cái xuân xanh. Đức Thánh cha Lêô X đã tôn phong Casimia lên bậc hiển thánh năm 1521.
Thánh Casimia giúp chúng ta nhận biết rằng dù thân xác chúng ta không được tráng kiện, chúng ta vẫn có thể mạnh mẽ trong tính cách của mình. Chúng ta luôn có thể ủng hộ và bệnh vực lẽ phải với cách thức thân thiện tử tế.
Thánh nữ Catarina Đrêxel sinh ngày 26/11/1858 ở Philadelphia thuộc tiểu bang Pensylvania, nước Mỹ. Thân mẫu Catarina qua đời khi Catarina còn rất nhỏ. Thân phụ Catarina kết hôn lần hai với một người đàn bà tuyệt vời tên là Emma. Bà dưỡng dục Luy, đứa con riêng của họ. Bà cũng là một người mẹ đáng yêu đối với hai cô gái nhỏ của Đrêxel do cuộc hôn nhân trước. Chúng tên là Elisabeth và Catarina. Các bé gái có tuổi thơ ấu thật dễ thương. Dù gia đình giàu có, các bé cũng được dạy bảo phải có lòng yêu thương đối với người đồng loại. Cách riêng, các bé được chỉ dạy phải quan tâm đến những người nghèo khổ. Đây là cách thức biểu lộ lòng yêu mến của các bé đối với Thiên Chúa. Khi khôn lớn, Catarina là một tín hữu Công giáo rất năng động. Catarina rất rộng rãi trong việc sử dụng thời giờ và tiền bạc của mình. Catarina nhận thấy rằng Giáo hội có nhiều nhu cầu cần thiết. Catarina dành hết mọi khả năng cũng như tài sản của mình để săn sóc những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Việc làm Catarina dâng cho Đức Chúa Giêsu là sống giữa những người Mỹ gốc Phi và những người Mỹ bản xứ. Năm 1891, Catarina lập một cộng đoàn thừa sai mới, gọi là dòng Các Chị Em Tôn Sùng Bí Tích Thánh Thể. Catarina được mọi người biết đến với danh hiệu là Mẹ Catarina. Các nữ tu trong dòng của Mẹ Catarina đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm chính yếu của đời sống. Họ dâng hiến tình yêu và khả năng của mình để phục vụ những người Mỹ gốc Phi và những người Mỹ bản xứ. Sau đó, Mẹ Catarina nhận được phần gia sản của gia đình Mẹ và Mẹ đã dùng số tiền ấy cho những công việc bác ái cao cả. Mẹ và các nữ tu của Mẹ mở các trường học, các nữ tu viện và các cộng đoàn truyền giáo. Năm 1925, họ thiết lập trường đại học Savie ở New Orleans. Suốt cả quãng đời đại thọ và hữu ích, Mẹ Catarina đã dùng hàng triệu đôla của phần tài sản mà gia tộc Đrêxel để lại cho những công việc cao cả mà Mẹ và các nữ tu dòng Mẹ đã làm cho người nghèo. Mẹ tin rằng Mẹ đã gặp Đức Chúa Giêsu đang hiện thân thật sự trong Bí tích Thánh Thể. Vì vậy, Mẹ cũng tìm gặp Người trong những người Mỹ gốc Phi và những người Mỹ bản xứ mà Mẹ đã phục vụ với đầy tình thương mến. Mẹ Catarina Đrêxel về trời ngày 03/03/1955, hưởng thọ 97 tuổi. Ngày 01/10/2000, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Mẹ Catarina Đrêxel lên bậc hiển thánh.
Mẹ Catarina Đrêxel đã dạy chúng ta một bài học thật quý. Chúng ta có thể dùng đời sống mình để chăm sóc bản thân ta và lo cho sự thoải mái riêng của mình. Tuy nhiên, sống như Mẹ Catarina Đrêxel thật ích lợi hơn nhiều. Vì với cách này, chúng ta có thể giúp đỡ nhiều người khác.
Bá tước Carôlô Flander được thần dân trong tiểu quốc của ngài gọi là “nhân hậu”. Họ đặt cho Carôlô Flander cái tên đó bởi vì họ thấy ngài thực sự đúng như vậy. Carôlô Flander là con trai của thánh vương Canut, vua nước Đan Mạch. Lúc vua cha bị ám sát năm 1086, Carôlô mới được 5 tuổi. Khi lớn lên, Carôlô cưới Magaritta, một thiếu nữ trẻ đẹp tốt lành làm vợ. Carôlô là nhà lãnh đạo có tính khí ôn hòa, hiền dịu và công bằng. Thần dân rất tín nhiệm Carôlô và luật lệ của ngài. Carôlô cố gắng trở nên tấm gương sáng mà ngài mong muốn thần dân noi theo. Một số quý tộc đã tố cáo Carôlô hành xử bất công vì chuyện ưu đãi và bênh vực người nghèo hơn người giàu. Carôlô tử tế trả lời rằng : “Đó là vì tôi quá biết những hoàn cảnh khó khăn của người nghèo và niềm kiêu hãnh của người giàu!” Những người nghèo khổ trong vương quốc được nuôi ăn hàng ngày tại lâu đài của Carôlô. Carôlô Flander ra lệnh cho những người giàu trồng cấy các vụ mùa để thần dân có nhiều của ăn với giá cả phải chăng. Một số nhà giàu đã cố tích trữ lúa thóc để bán với giá đắt đỏ. Carôlô “nhân hậu” nghe biết điều đó liền lập tức bắt họ phải bán với giá bình thường. Carôlô đã khiển trách một người cha có uy thế lớn và các con ông vì những sách lược bạo hành của họ. Và họ liền cấu kết với một nhóm kẻ thù nhỏ đang muốn hãm hại Carôlô. Mỗi sáng, bá tước Carôlô đi chân không đến tham dự thánh lễ và thường tới nhà thờ thánh Đônasianô rất sớm. Ngài làm việc này với tinh thần sám hối và đền tội. Carôlô mong muốn đào sâu hơn đời sống thiêng liêng của ngài với Thiên Chúa. Các kẻ thù biết Carôlô thường cầu nguyện một mình trước giờ lễ. Có nhiều người yêu mến Carôlô đã lo lắng cho tính mạng của ngài. Họ báo cho Carôlô biết quãng đường dẫn đến nhà thờ Đônasianô có thể đưa ngài tới chỗ chết. Nhưng Carôlô đáp lời họ rằng : “Chúng ta luôn luôn ở giữa những nguy hiểm, nhưng chúng ta thuộc về Thiên Chúa!” Rồi vào một buổi sáng kia, đang khi cầu nguyện một mình trước bức ảnh Đức Mẹ, Carôlô Flander đã bị các kẻ thù tấn công và giết chết. Carôlô Flander được phúc tử vì đạo năm 1127.
Nếu chúng ta muốn làm một việc có ý nghĩa, chúng ta hãy noi gương bắt chước chân phước Carôlô Nhân Hậu. Ngài đã để cho tình yêu Đức Chúa Giêsu ảnh hưởng trên đời sống thường nhật của ngài. Mỗi sáng khi rời khỏi nhà thờ, Carôlô thật sự bắt đầu “sống thánh lễ”. Chúng ta cũng hãy nài xin chân phước Carôlô Nhân Hậu giúp chúng ta biết sống như ngài.
(Chép từ “Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ Mỗi Ngày”
của Susan Helen Wallace, FSP)
thay đổi nội dung bởi: augustino.nghia, 01-09-2012 lúc 12:35 PM
Thánh Giáo hoàng này là vị tiền nhiệm của thánh Giáo hoàng tương lai Grêgôriô Cả (sống từ năm 540 đến năm 604). Thánh Grêgôriô Cả viết rằng, khi người cô của ngài, là thánh nữ Tarsila đang hấp hối thì Giáo hoàng Phêlích II đã hiện ra với cô. Ngài vẫy tay chào cô rồi ngài về thiên đàng. Vậy thánh Giáo hoàng Phêlích II là ai? Và trong cuộc đời, những sự kiện thực tiễn nào đã làm cho Phêlích II nên thánh? Dù không có nhiều chi tiết lắm nhưng chúng ta cũng biết được Phêlích là người Roma. Ngài có tấm lòng tử tế đôn hậu và can đảm ngay trong những thời buổi khó khăn bất ổn. Phêlích II lên ngôi giáo hoàng năm 483. Vì những giáo huấn sai lầm mà nhiều nhóm người trong Giáo hội đã tự phân chia. Những nhân tố liên quan đến chính trị đã gây nhiều khó khăn cho sứ vụ của vị giáo hoàng này. Nhưng Phêlích vẫn một mực tỏ ra can đảm trong việc bảo vệ các chân lý đức tin và quyền lợi của Giáo hội. Nhiều người sánh ví Phêlích II với thánh Giáo hoàng Lêô Cả (về trời năm 461). Thánh Giáo hoàng Phêlích II có một lối quan sát chung thật chính xác. Thánh nhân đã cố gắng nắm bắt và giải quyết nhiều vấn đề của Giáo hội nơi những miền khác nhau trên thế giới. Thánh Phêlích II làm giáo hoàng được 9 năm. Người ta sẽ tưởng nhớ đến thánh nhân như ngài đã luôn luôn trung thành với Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Thánh Giáo hoàng Phêlích II qua đời năm 492.
Chẳng bao lâu hết thảy chúng ta sẽ nhận thức rõ được rằng cuộc sống phải có sự đóng góp và chia sẻ những trách nhiệm, những ràng buộc của nó. Đôi khi chúng ta nghĩ mình không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ người nào hoặc vật gì có thể hạn chế chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta hãy cầu khẩn với thánh Phêlích II và xin ngài ban cho tấm lòng khoan dung quảng đại và can đảm trung thành với những điều chúng ta đã cam kết.
Hai vị thánh người Pháp này là anh em ruột sống vào thế kỷ thứ V. Khi còn trẻ, thánh Rômanô được mọi người mến mộ vì ngài rất tốt lành. Ngài có một lòng ham ước nên thánh rất mãnh liệt. Từ khi nhận thức được trên thế giới này người ta quá dễ dàng quên lãng và coi thường Thiên Chúa, thánh Rômanô quyết định sống cuộc đời mai danh ẩn tích. Trước tiên, Rômanô bàn hỏi với một đan sĩ thánh thiện, rồi ngài tiến hành điều ngài đã quyết định. Rômanô đem theo một cuốn sách. Đó là cuốn Đời sống của các Giáo phụ nơi hoang mạc của tác giả Cassiô. Rômanô cũng mang theo hạt giống để gieo trồng và một ít dụng cụ. Với những thứ dự trữ này, Rômanô vào miền rừng có những dãy núi thuộc giải Jura giữa Thụy Sĩ và Pháp. Rômanô tìm thấy một cây linh sam to lớn và thế là ngài định cư ở dưới gốc cây này. Rômanô dùng thời giờ cầu nguyện và đọc sách. Ngài cũng gieo trồng và chăm nom khu vườn của ngài, một quang cảnh thiên nhiên yên tĩnh đầy thú vị. Chẳng bao lâu sau đó, người em trai Lupixinô đến xin nhập cuộc với ngài. Rômanô và Lupixinô khác tính nhau. Rômanô thì nghiêm nghị với bản thân mình. Tuy vậy, ngài rất tử tế, hiền lành và đầy tình thông cảm hiểu biết người khác. Lupixinô thì khó khăn nghiêm khắc với chính mình và thường đối xử như vậy với cả tha nhân. Tuy nhiên, Lupixinô có ý tốt. Hai anh em hiểu nhau và chung sống với nhau rất hòa hợp. Rồi có nhiều thanh niên đến xin gia nhập với các ngài. Họ cũng muốn trở nên những đan sĩ. Vì thế các ngài xây cất hai đan viện. Rômanô và Lupixinô, mỗi người là đan viện phụ của một đan viện. Các đan sĩ sống cuộc đời khó khăn và giản dị. Họ cầu nguyện nhiều và hy sinh làm việc cách vui vẻ. Họ ăn năn sám hối để củng cố ơn gọi của mình. Họ vất vả làm việc đồng áng để tăng thêm thực phẩm và luôn luôn giữ luật thinh lặng. Họ quyết định sống như thế vì mối quan tâm chính yếu của họ là kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Lối sống này giúp họ dễ hướng về cùng đích siêu nhiên. Thánh Rômanô về trời năm 460. Người em trai của ngài, thánh Lupixinô, qua đời năm 480.
Thánh Rômanô và thánh Lupixinô, cả hai đều là những vị thánh dù các ngài có những cá tính khác nhau. Chúng ta hãy học nơi hai vị thánh điểm này là tất cả chúng ta đều có những ân sủng và những tài năng mà chúng ta có thể dùng để đem người khác đến gần Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa kiếm tìm là tấm lòng sẵn sàng hy sinh của chúng ta.
Thánh Pôphiriô sinh vào thế kỷ thứ V trong một gia đình quý tộc giàu có. Khi lên 25 tuổi, Pôphiriô rời khỏi gia đình. Pôphiriô đến Ai Cập để vào tu trong một đan viện. Sau 5 năm, Pôphiriô hành trình tới Giêrusalem. Pôphiriô muốn viếng thăm những nơi mà Đức Chúa Giêsu đã ở khi Người sống trên dương thế. Pôphiriô được ấn tượng sâu sắc của thánh địa. Lòng yêu mến Chúa Giêsu làm cho ngài ý thức cách sâu xa những nỗi khổ đau của những người dân quê nghèo khó trong thành Thessalonica mà Pôphiriô chưa bao giờ cảm nghiệm được cái nghèo là làm sao! Giờ đây, Pôphiriô vẫn làm chủ tất cả gia sản song thân để lại cho mình. Tuy vậy, chẳng bao lâu, Pôphiriô xin người bạn Marcô đến Thessalonica bán hết mọi thứ cho ngài. Ba tháng sau, Marcô cầm tiền trở về. Thế rồi Pôphiriô bố thí tiền bạc cho những người thực sự cần dùng nó. Lên 40 tuổi, Pôphiriô trở thành linh mục và được trao cho công việc giữ gìn các thánh tích của Thánh Giá Chúa Giêsu. Sau đó, Pôphiriô được bổ nhiệm làm giám mục thành Gaza. Ngài nỗ lực hoạt động để lôi kéo người ta tin vào Đức Chúa Giêsu và chấp nhận đức tin. Nhưng những vất vả khó nhọc của Pôphiriô chỉ sinh hiệu quả rất chậm và vì vậy, đòi hỏi Pôphiriô nhiều kiên nhẫn, Đa số các cư dân lúc đó bị vướng vào những mê tín dị đoan và những tập tục của dân ngoại. Cho dù Pôphiriô có thể ngăn chặn được nhiều thói tục này nhưng thánh nhân cũng đã gặp phải những kẻ thù làm cho ngài hết sức đau khổ. Cũng có những tín hữu Công giáo ngưỡng mộ và yêu mến Pôphiriô cách đặc biệt. Họ cầu nguyện và hy sinh cho ngài. Họ nài xin Thiên Chúa bảo vệ Pôphiriô. Giám mục Pôphiriô đã dùng nhiều năm để củng cố cộng đoàn Kitô hữu. Ngài rao giảng mọi điều Giáo hội ủy thác. Pôphiriô qua đời năm 420.
Tấm gương của vị thánh này thách đố chúng ta đừng liên can đến những điều mê tín dại dột. Những bùa ngải ma thuật và các vấn đề tương tự như thế chẳng có giá trị gì. Thiên Chúa trông nom chăm sóc chúng ta và ban cho chúng ta mọi trợ giúp cần thiết nếu chúng ta thành tâm cầu xin Người.
Thánh Xêsariô Nazianzênô sống vào thế kỷ thứ IV tại đất nước mà ngày nay gọi là Thổ Nhĩ Kỳ. Thân phụ ngài là giám mục thành Nazianzênô. Lúc đó, các giám mục và linh mục có thể được phép kết bạn. Anh trai của Xêsariô là thánh Grêgôriô Nazianzênô, bạn thân của thánh Basiliô. Ngoài việc là một vị thánh, Grêgôriô Nazianzênô còn là một văn gia rất có thế giá trong thời Giáo hội sơ khai. Ngày nay người ta hiện vẫn còn đọc các tác phẩm ngài viết. Cả Xêsariô và Grêgôriô đều nhận được một nền giáo dục xuất sắc tuyệt vời. Nhưng trong lúc Grêgôriô Nazianzênô muốn trở thành một linh mục thì Xêsariô lại muốn làm một bác sĩ y khoa. Cả hai cùng đi học để thực hiện những mục đích của mình. Thánh Xêsariô Nazianzênô tốt nghiệp y khoa tại thành Constantinop. Chẳng bao lâu ngài trở nên một lương y khoa nội rất danh tiếng và đáng tín nhiệm. Thật ra, hoàng đế Constantino, sống ở Constantinop, muốn vời Xêsariô đến làm bác sĩ riêng của ông. Xêsariô Nazianzênô cám ơn hoàng đế nhưng từ chối cách dịu dàng. Ngài muốn trở về Nazianzênô, quê thành của ngài. Tuy nhiên, một thời gian sau, Xêsariô Nazianzênô lại được gọi lên Constantinop phục vụ hoàng đế. Đây là thời kỳ lịch sử, thời kỳ Julianô bỏ đạo. Người bỏ đạo là người chối bỏ niềm tin vào Kitô giáo. Người đàn ông này đã ban bố nhiều khoản luật chính thức chống đối các Kitô hữu. Tuy thế, ông rất sẵn lòng miễn chuẩn cho Xêsariô vì ngài là một lương y giỏi. Julianô đã cố gắng dụ dỗ thuyết phục vị bác sĩ chối bỏ đức tin. Xêsariô được ban tặng những địa vị, tiền của hối lộ và những đặc ân ưu đãi. Thân phụ và người anh trai của Xêsariô Nazianzênô đã khuyên ngài hãy khước từ những tặng ân đó. Họ đề nghị Xêsariô nên trở về quê nhà để hành nghề thầy thuốc. Năm 368, thánh Xêsariô Nazianzênô gần như bị thiệt mạng trong một trận động đất. Tuy ngài đã thoát nạn bình an nhưng biến cố ấy đã làm cho thánh nhân suy yếu trầm trọng. Xêsariô Nazianzênô cảm thấy như Thiên Chúa nói với ngài hãy sống đời cầu nguyện, xa lánh sự náo nhiệt và xu nịnh của triều đình. Và thế là Xêsariô Nazianzênô đã phân chia của cải mình cho các người nghèo. Thánh nhân bắt đầu sống cuộc đời chay tịnh và cầu nguyện. Thánh Xêsariô Nazianzênô qua đời sau đó ít lâu vào năm 369. Người anh của Xêsariô Nazianzênô, thánh Grêgôriô, đã thuyết giảng trong thánh lễ an táng ngài.
Hết thảy chúng ta đều có một ơn kêu gọi riêng biệt trong cuộc đời. Thiên Chúa đã trao ban những ân sủng cho chúng ta để chúng ta thực hiện cách mỹ hảo ơn gọi đó. Như thánh Xêsariô Nazianzênô, chúng ta cần biết khôn ngoan lắng nghe những người chúng ta tin cậy. Chúng ta cũng cần phải từ chối nghe theo những người muốn dùng tài năng hay trình độ hiểu biết của chúng ta vào những mục đích sai trái.
Suốt những ngày đầu của Giáo hội sơ khai, hoàng đế Valêriô bách hại các Kitô hữu thật khốc liệt. Ông đã cho hành quyết thánh Cyprianô vào tháng 09/258. Viên thống đốc Roma, người tuyên án Cyprianô, đã tự vẫn ít lâu sau đó. Viên tân thống đốc Sôlôn, suýt là nạn nhân cuộc nổi dậy của một mưu đồ nhằm vào con người ông. Dường như ông nghi ngờ âm mưu phục thù cho cái chết của thánh Cyprianô nên đã bắt giữ 8 người vô tội. Hết thảy đều là Kitô hữu, đa số là giáo sĩ. Các ngài đã từng là môn đồ trung thành của thánh Cyprianô. Các Kitô hữu được đem xuống những hầm ngục tối. Các ngài nhận thấy những người mà các ngài quen biết cũng có mặt ở đó. Môi trường nhơ bẩn và ẩm thấp bao quanh các ngài. Các ngài nhận ra rằng chẳng bao lâu nữa mình sẽ đối diện với cái chết và đời sau. Các Kitô hữu bị giam giữ nhiều tháng trong tù. Các ngài đã làm việc suốt ngày và thường không nhận được thức ăn và nước uống mà không hiểu tại sao. Vì lý do nào đó mà ở trong những điều kiện dã man như thế, cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé vẫn liên kết và giúp đỡ lẫn nhau. Những giáo dân đã che chở bảo vệ các giám mục, linh mục và các thầy phó tế, là những mục tiêu đáng chú ý cho lòng độc ác của hoàng đế. Khi người ta điệu các Kitô hữu đến nơi hành quyết, mỗi người đều được phép nói vài lời cuối cùng. Môngtanô, có dáng người cao to khỏe mạnh, đã can đảm phát biểu trước tất cả đám đông Kitô hữu. Ngài nói với họ hãy trung thành với Đức Chúa Giêsu và thà chết còn hơn là chối bỏ đức tin. Luxiô, với vóc người nhỏ bé mảnh mai, bước tới nơi hành quyết cách khoan thai nhẹ nhàng. Ngài bị yếu nhược bởi những tháng tù khắc nghiệt. Thật ra, Luxiô đã phải tựa vào hai người bạn giúp ngài đến vị trí mà người đao phủ đang chờ sẵn. Những giáo dân đứng quan sát đã kêu to lên và nài xin thánh nhân hãy thương đến họ khi được về thiên đàng. Đang khi từng người trong số những Kitô hữu lần lượt bị chém đầu, đám đông càng lúc càng trở nên can đảm hơn. Họ đã khóc thương những người phải chịu cảnh bất công như thế! Nhưng họ cũng vui mừng vì nhận biết rằng trên thiên đàng, các vị tử đạo này sẽ cầu phúc cho họ. Thánh Môngtanô, Luxiô và những người bạn của các ngài đã chịu tử đạo năm 259.
Người ta nhận biết các Kitô hữu tiên khởi qua tấm lòng quảng đại và tình yêu thương họ trao cho nhau. Các ngài đã đặt những nhu cầu của tha nhân lên trước những đòi hỏi của bản thân, và đã cố gắng hết mình để vượt qua sự ích kỷ hẹp hòi. Chúng ta hãy nghĩ về một đôi lần nào đó trong cuộc đời của mình khi chúng ta cần quảng đại hơn và bớt ích kỷ hơn trong việc bắt chước các Kitô hữu tiên khởi.
Thánh Pôlycapô sinh vào khoảng giữa những năm 70 – 80. Ngài trở thành Kitô hữu khi các môn đệ của Đức Chúa Giêsu mới chỉ là số ít người. Thực ra, thánh Pôlycapô là môn đệ của một trong các tông đồ đầu tiên là thánh Gioan. Pôlycapô giảng dạy cho người ta biết tất cả mọi điều ngài đã học được nơi thánh Gioan. Pôlycapô làm linh mục rồi giám mục thành Smina (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Thánh Pôlycapô là giám mục thành Smina suốt nhiều năm. Các Kitô hữu đều nhận thấy Pôlycapô là một mục tử thánh thiện và can đảm. Những Kitô hữu ở thời đại của Pôlycapô phải giáp mặt với sự bách hại và giết chóc dưới triều đại hoàng đế Marêô Aurêliô. Có ai đó đã phản bội trao nộp Pôlycapô cho các nhà cầm quyền. Khi người ta đến bắt Pôlycapô, thánh nhân đã mời họ cùng dùng bữa với ngài trước hết, rồi sau đó, thánh nhân xin họ để ngài cầu nguyện một lát. Quan tòa đã thúc ép giám mục Pôlycapô hãy cứu lấy mình khỏi chết bằng cách nguyền rủa Đức Chúa Giêsu. “Tôi đã phục vụ Chúa Giêsu suốt cả đời tôi,” – thánh nhân trả lời – “và Người chưa bao giờ đối xử bất công với tôi điều gì. Làm sao tôi lại có thể nguyền rủa Vua tôi, Đấng đã chết vì tôi?” Sau đó, binh lính trói tay thánh Pôlycapô lại sau lưng. Rồi họ đặt vị giám mục già trên một đống lửa nóng bừng bừng. Nhưng ngọn lửa không làm hại Pôlycapô. Sau đó, một người trong đám lính lấy ngọn giáo đâm vào trái tim ngài. Và thế là, vào năm 155, Pôlycapô đã tử vì đạo. Mãi mãi Pôlycapô được ở với Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã phục vụ cách hết sức can đảm.
Thánh Pôlycapô được mời gọi để bênh vực Đức Chúa Giêsu đến mất cả mạng sống mình. Chúng ta có thể không phải hy sinh mạng sống của mình cho Đức Chúa Giêsu như các thánh tử đạo. Dù biết rằng nếu muốn được như thánh Pôlycapô, chúng ta sẽ phải thực hiện những chọn lựa thích hợp. Khả năng lựa chọn của chúng ta cũng sẽ quyết định loại ngôn ngữ chúng ta sử dụng, cách thức chúng ta cư xử với gia đình, người thân, với hàng xóm, bạn bè. Chúng ta sẽ chọn là loại Kitô hữu nào?
Thánh Phêrô là thủ lĩnh của các Tông đồ và là giám mục đầu tiên của Roma. Đức Chúa Giêsu nói với ngài : “Con là Phêrô, và trên Đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” (Mt 16,18). Sau khi Đức Chúa Giêsu về trời, thánh Phêrô bắt đầu rao giảng Tin Mừng. Ngài hướng dẫn một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé nhưng phát triển. Đầu tiên, thánh Phêrô hoạt động ở Giêrusalem và Antiôkia, hai thành phố lớn ở Đông phương. Sau đó, thánh nhân đến rao giảng Tin Mừng ở Roma, thủ đô của thế giới Công giáo. Tại sao thánh Phêrô phải thực hiện nhiệm vụ lớn lao của mình đối với Thiên Chúa? Người Thầy của Phêrô đã bị người ta đóng đinh nhưng sau đó đã sống lại. Ai sẽ tin được điều đó? Những người ngoại giáo Roma độc ác sẽ làm át đi tiếng nói của Phêrô dù ngài có thuộc hạng người trung thành thế nào đi nữa! Nhưng Chúa Thánh Linh vẫn hiện diện sống động trong thánh Phêrô. Ngài can đảm tiếp tục sứ mệnh mà Đức Chúa Giêsu đã ủy thác cho ngài. Phêrô không bao giờ chối bỏ Chúa của mình nữa! Phêrô không bao giờ đặt lợi ích riêng của cá nhân mình lên trên sự thiện hảo của Giáo hội nữa! Lễ Kính Ngai Tòa Thánh Phêrô ở Roma nhắc nhở chúng ta rằng thánh Phêrô thiết lập cộng đoàn Kitô hữu trong thành phố ấy. Chiếc ghế đặc biệt này là biểu hiện cho quyền bính mà Đức Chúa Giêsu đã trao cho thánh Phêrô. Trước đây, các vua chúa ngồi trên ngai vàng và cai trị dân chúng. Ngai tòa của thánh Phêrô cũng là biểu tượng cho quyền lực xuất phát từ Chúa Giêsu để cai trị Giáo hội. Thánh Phêrô đã chết vì đức tin, nhưng trải qua các thời đại, luôn luôn có một giám mục Roma. Ngài được gọi là Giáo hoàng. Đức Giáo hoàng cai trị toàn thể Giáo hội như thánh Phêrô nhân danh Đức Chúa Giêsu. Chúng ta cũng gọi đấng kế vị thánh Phêrô là Đức Thánh cha.
Chúng ta yêu mến và tôn kính Đức Thánh cha. Ngài là hiện thân của Đức Chúa Giêsu trên trần gian này. Chúng ta có thể luôn luôn cầu nguyện cho Đức Thánh cha của chúng ta. Chúng ta cũng có thể xin Thiên Chúa ban cho ngài sức mạnh, ánh sáng và an ủi.
Thánh Phêrô Đamianô sinh năm 1007. Khi còn rất nhỏ, Phêrô Đamianô đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ. Phêrô được một người anh lớn nhận cho ở trọ. Anh này đã lăng mạ chửi rủa và hay bỏ đói ngài. Một người anh khác cùng tên Đamianô, thấy hoàn cảnh thực tế của người cậu em, đã dẫn ngài về nhà riêng của mình. Thế rồi, cuộc đời của Phêrô chuyển sang một bước ngoặt hoàn toàn mới. Phêrô được quan tâm và được đối xử yêu thương. Phêrô rất biết ơn người anh đến nỗi khi trở thành tu sĩ, ngài đã lấy tên là Đamianô theo người anh yêu quý của mình. Đamianô cung cấp cho Phêrô ăn học và khuyến khích việc học của em. Cuối cùng, Phêrô thành tài và đã giảng dạy tại đại học khi mới ở độ tuổi 20! Người ta đều biết Phêrô là một giáo sư ưu tú. Nhưng Thiên Chúa đã hướng dẫn Phêrô bằng những phương cách mà chính thánh nhân cũng không thể nào hiểu được. Thánh Phêrô Đamianô sống trong thời đại mà nhiều người trong Giáo hội quá bị chi phối bởi những mục đích trần tục. Phêrô nhận thấy rằng Giáo hội thánh thiện có ân sủng từ Chúa Giêsu hầu cứu chuộc tất cả mọi người. Ngài mong ước Giáo hội chiếu giãi sự thánh thiện của Chúa Giêsu. Sau 7 năm giảng dạy, Phêrô Đamianô đã quyết định đi tu. Ngài muốn sống phần đời còn lại của ngài trong cầu nguyện và sám hối. Phêrô Đamianô sẽ cầu nguyện và hy sinh để nhiều người trong Giáo hội trở nên thánh thiện. Rồi Phêrô gia nhập đan viện của thánh Rômualđô. Phêrô Đamianô viết quy luật cho các tu sĩ. Ngài cũng viết tiểu sử về thánh Rômualđô, vị sáng lập thánh thiện của họ. Phêrô Đamianô cũng viết nhiều tác phẩm thần học để giúp người giáo dân đào sâu thêm lòng tin của mình. Đan viện phụ của Phêrô Đamianô đã hai lần sai ngài đến các đan viện lân cận. Ngài khuyến khích các đan sĩ thực hành những cải cách canh tân nhằm giúp họ dễ kết hợp thân mật hơn với Thiên Chúa. Các đan sĩ rất biết ơn Phêrô Đamianô vì ngài thật có lòng tốt và đáng kính trọng. Sau cùng, từ đan viện, Phêrô Đamianô được gọi làm giám mục và hồng y. Suốt quãng đời của mình, Phêrô Đamianô được sai làm những nhiệm vụ quan trọng cho nhiều Đức Thánh cha. Năm 1072, thánh Phêrô Đamianô qua đời. Đến năm 1828, Phêrô Đamianô được tôn phong làm Tiến sĩ Hội thánh vì ngài là nhà vô địch trong việc bảo vệ chân lý và kiến tạo hòa bình. Thi sĩ Đantê (1265 – 1321) đã nhận định sự cao cả của thánh Phêrô Đamianô. Trong vở kịch thơ Diệu Kỳ, thi sĩ đặt thánh Phêrô Đamianô trên “tầng trời thứ bảy”. Đó là nơi mà Thiên Chúa dành cho những người thánh thiện, những người ham thích suy niệm và chiêm ngưỡng Thiên Chúa.
Nhiều năm thơ ấu của thánh Phêrô Đamianô thật buồn thảm và kém may mắn, nhưng Phêrô Đamianô đã học biết cách tìm kiếm Thiên Chúa bằng sự tin cậy trẻ thơ. Phêrô Đamianô dùng những ân lộc của mình để làm cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người được yêu mến và trân trọng hơn. Chúng ta hãy cầu xin thánh Phêrô Đamianô chỉ cho chúng ta biết cách sống quảng đại với Thiên Chúa.
Thánh Êusêriô sinh vào thế kỷ thứ VIII tại thành phố Orlander, nước Pháp. Êusêriô được hấp thụ một nền giáo dục Kitô giáo. Câu nói trích trong thư thứ Nhất của thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Côrintô : “Thế gian mà chúng ta xem thấy đây đang qua đi” (1Cor 7,31) đã gây cho Êusêriô một ấn tượng rất sâu sắc. Câu nói ấy giúp Êusêriô nhận ra rằng cuộc sống của chúng ta trên trái đất này thật rất ngắn ngủi, thiên đàng và hỏa ngục mới là nơi vĩnh cửu. Ngài quyết định tìm kiếm những niềm vui thiên đàng bằng cách chỉ sống cho riêng mình Thiên Chúa. Năm 714, thánh Êusêriô rời bỏ gia đình giàu có của ngài và vào tu trong đan viện Benedicto. Êusêriô đã trải qua 7 năm ở đó sống liên kết mật thiết với Thiên Chúa. Năm 721, sau khi người cậu là giám mục giáo phận Orlander qua đời, Êusêriô được chọn thay vào chức vị này. Êusêriô tuy lúc ấy mới chỉ được 25 cái xuân xanh nhưng rất khiêm tốn. Ngài không muốn rời xa đan viện thân yêu của ngài. Nước mắt giàn dụa, thánh Êusêriô xin đặc ân được ở lại một mình với Thiên Chúa trong đan viện. Nhưng sau cùng, Êusêriô đã chấp nhận vì lòng yêu mến đức vâng lời. Êusêriô là vị giám mục khôn ngoan, thánh thiện. Thánh nhân đã giúp ích nhiều cho các linh mục và bổn đạo trong giáo phận của ngài. Carôlô Máctel, một nhân vật đầy quyền lực thuộc phe chính trị, thường hay lấy một số tiền của Giáo hội để ủng hộ và giúp đỡ những cuộc chiến tranh của ông. Và bởi giám mục Êusêriô nói cho Carôlô biết điều đó là sai, Carôlô đã tống giam Êusêriô vào tù. Êusêriô bị trục xuất lần thứ nhất đến Cologne, rồi đến một pháo đài gần Lieuseux. Nhưng viên thống đốc coi sóc Êusêriô đã lợi dụng tấm lòng hiền lành và khiêm nhượng của vị giám mục để thu dụng các kẻ thù của ông. Sau đó ít lâu, ông lặng lẽ giải thoát vị giám mục khỏi cảnh tù đày và gởi ngài vào một tu viện. Ở đây, trong sự thanh vắng, thánh nhân đã dùng cả quãng thời gian còn lại để cầu nguyện cho đến khi qua đời năm 743.
Chúng ta hãy suy nghĩ về lời khuyên tốt lành của thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Côrintô : “Thế giới của chúng ta đây đang qua đi.” Những lời này sẽ giúp chúng ta suy nghĩ nhiều hơn về mục đích vĩnh hằng của mình là thiên đàng.
Thánh Barbatô sinh năm 612 tại miền Benevento, nước Ý. Barbatô được hấp thụ nền giáo dục Kitô giáo, và vì thế, Barbatô có một đời sống đạo hạnh tốt lành. Barbatô sống đức tin của mình cách nghiêm túc và đặc biệt là ngài rất thích đọc Kinh Thánh. Barbatô được thụ phong linh mục ngay khi vừa đủ tuổi. Sau đó ngài được bổ nhiệm làm linh mục chánh xứ. Nhưng đời sống của một chủ chăn thật không được dễ dàng thoải mái! Một số người không thích Barbatô nói động đến lối sống của họ. Thánh Barbatô khuyên dụ họ hãy sống tốt hơn. Ngài nhắc họ hãy ăn năn hối cải những tội lỗi của họ. Có vài người đã tức giận. Họ hành hạ làm khổ Barbatô và cuối cùng ép buộc Barbatô phải rời khỏi xứ đạo. Vị linh mục trẻ hối hận. Ngài trở về Benevento nơi ngài sinh trưởng. Ở đây, Barbatô được tiếp đón rất nồng hậu. Nhưng cũng có những khó khăn nơi thành phố này. Nhiều người theo đạo Công giáo vẫn giữ lại những ngẫu tượng trong nhà của họ. Họ thấy thực là điều khó khi phải bỏ đi những bùa ngải ấy. Họ tin vào quyền phép ma thuật. Thánh Barbatô rao giảng chống lại những mê tín dị đoan này. Nhưng do họ vẫn cương quyết giữ lấy những ngẫu tượng của họ, nên thánh Barbatô báo cho họ biết vì tội lỗi này, thành phố của họ sẽ bị quân thù tấn công, và đã xảy ra đúng như vậy. Về sau, dân thành từ bỏ lầm lỗi của họ và hòa bình đã trở lại. Rồi, thánh Barbatô được tấn phong làm giám mục. Thánh nhân vẫn tiếp tục công việc cải hóa đoàn chiên của ngài. Ngày 29/02/682, thánh Barbatô qua đời, thọ 70 tuổi.
Cũng như thánh Barbatô, các cha xứ của chúng ta muốn chúng ta trở nên tốt lành để được vào thiên đàng. Chúng ta hãy cố gắng lắng nghe và vâng theo lời khuyên dạy của các ngài.
Bảy vị thánh này sống vào thế kỷ thứ XIII ở thành phố Florencia, nước Ý. Mỗi vị có một lòng yêu mến rất đặc biệt đối với Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Các ngài là những thành viên năng động của Hiệp hội Đức Trinh Nữ Maria. Cách thức các ngài trở thành những người lập dòng Tôi Tớ thật đặc biệt. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, khi 7 anh em đang chìm đắm trong cầu nguyện thì Đức Mẹ đã hiện ra với các ngài. Đức Mẹ gợi hứng cho các ngài từ bỏ thế gian và sống cho riêng mình Thiên Chúa. Sau nhiều năm sống như các ẩn sĩ, các ngài đến gặp đức giám mục và xin đức giám mục một luật sống để tuân giữ. Vị giám mục khuyến khích các ngài hãy cầu nguyện và xin Đức Mẹ soi sáng hướng dẫn. Rồi một ngày kia Đức Mẹ lại hiện đến với các ngài, mình vận một áo dòng màu đen, bên cạnh là một thiên thần mang theo một cuộn giấy với những hàng chữ : “Những Tôi Tớ Đức Mẹ”. Trong thị kiến này, Đức Mẹ nói rằng Đức Mẹ đã chọn các ngài làm tôi tớ của Người. Đức Mẹ xin các ngài mang tu phục màu đen. Và đây chính là bộ tu phục các ngài đã vận từ năm 1240. Các ngài cũng bắt đầu sống cuộc đời tu trì theo luật dòng thánh Augustinô. Các ngài giúp nhau yêu mến và phục vụ Thiên Chúa. Sáu người trong nhóm được thụ phong linh mục. Tên của 6 vị là : Bôphiliô, Amađêô, Hiuzơ, Sôstơn, Manêtô và Buônagiunta. Vị sáng lập thứ bảy, Alêxis, ở lại làm tu sĩ vĩnh viễn. Với lòng khiêm nhường, ngài đã không chọn làm linh mục. Có nhiều anh em đã đến xin gia nhập Hiệp hội của các ngài. Các ngài được biết đến dưới danh hiệu “Những Đầy Tớ Của Đức Mẹ” hay “Những Người Tôi Tớ”. Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ được Tòa thánh Vatican chấp nhận năm 1259. Bảy vị sáng lập thánh thiện này đã được Đức Thánh cha Lêô XIII tôn phong hiển thánh năm 1888.
Như bảy vị thánh này, chúng ta hãy yêu mến Đức Mẹ và xin Người giúp chúng ta mỗi khi gặp gian nan thử thách.
Thánh Ônêsimô sống vào thế kỷ thứ I. Ngài là một nô lệ ăn cắp của chủ mình và chạy trốn đến Roma. Nơi đây, Ônêsimô gặp vị đại tông đồ là thánh Phaolô, hiện đang là tù nhân vì đức tin. Phaolô đã đón nhận Ônêsimô với tấm lòng nhân hậu và yêu thương của một người cha tốt lành. Phaolô giúp Ônêsimô nhận ra việc ăn cắp của chủ là hành vi sai trái. Và hơn thế nữa, ngài đã hướng dẫn Ônêsimô đón nhận đức tin Công giáo. Sau khi trở nên Kitô hữu, Ônêsimô được Phaolô gửi về cho chủ nhân của Ônêsimô, ông Philêmôn, là bạn thân của Phaolô. Nhưng Phaolô không sai người nô lệ trở về một mình mà không bảo vệ anh ta. Phaolô đã “trang bị” cho Ônêsimô một lá thư ngắn gọn nhưng đầy thế giá. Phaolô hy vọng rằng lá thư của ngài sẽ làm cho Ônêsimô, người bạn mới quen biết của ngài được hài lòng. Phaolô viết cho cụ Philêmôn rằng : “Tôi nài xin cho Ônêsimô, người con yêu dấu của tôi. Tôi gởi nó lại cho anh. Xin anh hãy tiếp nhận nó như tấm lòng của tôi vậy!” Lá thư cảm động đó chúng ta gặp thấy ở trong Kinh Thánh Tân Ước. Cụ Philêmôn đã nhận lá thư của Phaolô và lời chỉ bảo của ngài. Khi Ônêsimô trở về với người chủ của mình, ngài được trả tự do. Sau đó, Ônêsimô trở lại với Phaolô và nên người giúp việc trung thành của Phaolô. Thánh Phaolô đặt Ônêsimô làm linh mục và giám mục. Người nô lệ năm xưa đã dâng hiến phần đời còn lại của mình để rao giảng Tin Mừng là Lời đã làm thay đổi toàn bộ đời sống của ngài. Người ta cho rằng trong thời gian Giáo hội bị bách hại, Ônêsimô đã bị xiềng đến Roma và bị ném đá.
Nếu đã lỡ làm cho ai bị tổn thương trong bất cứ cách nào, chúng ta hãy cố tìm dịp xin lỗi ngay. Thiên Chúa sẽ hài lòng khi thấy chúng ta biết nhận lỗi, và Người sẽ chúc lành cho chúng ta như đã chúc lành cho Ônêsimô.
Thánh Faustinô và thánh Giôvita là hai anh em ruột sống ở Brescia nước Ý. Các ngài là những thành viên trong số những Kitô hữu tử đạo tiên khởi. Các ngài đã chịu đau khổ suốt cuộc bách hại của vua Hadrianô ở thế kỷ thứ II. Hồi còn niên thiếu, Faustinô và Giôvita rất được mọi người biết đến vì lòng mộ mến tôn giáo của mình. Các ngài cũng làm nhiều việc bác ái Kitô giáo. Các ngài cùng nhau giúp đỡ những người gặp cảnh khó khăn nghèo túng. Đức giám mục giáo phận Brescia đã truyền chức linh mục cho các ngài và các ngài bắt đầu rao giảng khắp nơi cho cả người giàu lẫn người nghèo. Các ngài đã hy sinh hết mình để đem nhiều linh hồn về cho Thiên Chúa. Bởi vì lúc ấy đang là thời kỳ bắt đạo nên người ta rất dễ hoang mang lo sợ. Nhưng đối với Faustinô và Giôvita thì không thế, các ngài chẳng hề sợ hãi những binh lính dù những người này thực sự đã giết hại nhiều Kitô hữu. Khi nhà vua nghe biết Faustinô và Giôvita dám công khai giảng dạy, vua liền ra lệnh bắt giam các ngài và cho lính tra tấn hành hạ các ngài. Vua hy vọng rằng nhục hình sẽ làm cho các ngài phải im lặng. Thế nhưng dù phải chịu đau khổ, hai linh mục vẫn cương quyết rao giảng về Chúa Giêsu. Các ngài vẫn giữ tư thế cầu nguyện ngay cả trong chốn lao tù khủng khiếp ấy. Các ngài thật sự sẵn lòng hiến dâng hết những đau khổ của mình cho Thiên Chúa. Faustinô và Giôvita đã khích lệ nhau hãy cứ can đảm dù có phải chết vì Đức Chúa Giêsu như các thánh tử đạo. Cả hai anh em vẫn một lòng cương quyết giữ vững niềm tin và tình yêu đối với Chúa Giêsu cho tới lúc chịu tử đạo. Chúng ta không biết được chính xác ngày về trời của các ngài. Tuy nhiên, tấm gương anh dũng của các thánh Faustinô và Giôvita thật là một ký ức thiêng liêng và là một hiệu lệnh đánh thức tất cả mọi người chúng ta.
Thiên Chúa hài lòng biết bao khi thấy anh chị em chúng ta giúp nhau học hỏi về đức tin của mình. Như thánh Faustinô và thánh Giôvita, anh chị em hãy khuyên bảo nhau yêu mến và sống cho Đức Chúa Giêsu.
Alexandrina sinh năm 1522 trong một gia đình họ Rixi ở Florencia, nước Ý. Lúc lên 13 tuổi, Alexandrina vào tu dòng nữ Đa Minh. Khi là nữ tu, Alexandrina chọn tên Catarina. Ngay lúc còn trẻ, Catarina đã có một tình yêu thâm sâu đối với cuộc khổ nạn của Đức Chúa Giêsu. Thánh nữ thường hay suy ngẫm về những nỗi thống khổ của Chúa. Chúa Giêsu đã ban cho thánh nữ đặc ân lớn lao là được mang những thương tích của Chúa trong mình. Và Catarina rất đỗi sung sướng lãnh nhận mọi đau đớn nơi những vết thương này. Thánh nữ Catarina Rixi rất có lòng cảm thương đối với các linh hồn tội nghiệp đang phải đau khổ trong chốn luyện hình. Thánh nữ nhận thấy họ đang khao khát mong mỏi được ở với Thiên Chúa trên thiên đàng biết bao. Thánh nữ cũng nhận thấy thời gian trong luyện ngục dường như kéo dài đến vô tận. Thánh Catarina cầu nguyện và làm việc sám hối thay cho họ. Lần kia, Chúa cho thánh nữ biết có một người đang ở luyện ngục. Catarina đã đặc biệt dâng hiến tình yêu của mình để chịu đau khổ thay cho linh hồn ấy. Thiên Chúa đã chấp nhận lời khấn xin của Catarina và thánh nữ đã phải chịu đau khổ dữ dội suốt 40 ngày. Sau một cơn đau bệnh kéo dài, thánh nữ Catarina Rixi đã qua đời vào độ tuổi 68. Đó là ngày 02/02/1590. Catarina Rixi được Đức Thánh cha Clemente XII tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1747.
Chúng ta có thể giúp đỡ các linh hồn đáng thương trong luyện ngục bằng những lời cầu nguyện như thánh nữ Catarina Rixi đã làm. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ chóng được hưởng nhan thánh Chúa. Khi ở trên thiên đàng, chắc chắn họ sẽ lại cầu bầu cùng Chúa cho mỗi người chúng ta.
Thánh Mêlêsiô được kêu gọi coi sóc Giáo hội Chúa Kitô ở thế kỷ thứ IV. Những cuộc bách hại thảm khốc của người Roma đã qua, và vào năm 315, hoàng đế Constantino đã thừa nhận Kitô giáo là một tôn giáo hợp pháp. Vậy, điều gì đã làm cho sứ vụ của giám mục Mêlêsiô trở nên khó khăn? Có nhiều cơn giông tố đã tích tụ bên trong Giáo hội. Một số người tin nhận theo Công giáo, số khác theo bè rối Ariô. Ariô là bè rối phủ nhận thiên tính của Đức Chúa Giêsu. Một số người đã tin vào sự nhầm lẫn này bởi vì lúc đó sự việc chưa được các giới chức trong Giáo hội phân định rõ ràng. Giám mục Mêlêsiô yêu mến Giáo hội và luôn luôn theo sát những giáo huấn của Đức Chúa Giêsu. Ngài tin nhận Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và hiểu rằng Giáo hội sẽ phải tuyên bố cách minh bạch Đức Chúa Giêsu là ai. Năm 361, Mêlêsiô được chọn làm giám mục thành Antiôkia. Những người theo bè rối Ariô không hài lòng. Suốt 20 năm, Mêlêsiô là một giám mục kiên nhẫn và giàu lòng bác ái, nhưng những người không chấp nhận Mêlêsiô đã gây cho ngài nhiều sự khó khăn. Mêlêsiô đã thường phải chạy trốn vì họ muốn chiếm lấy chức vị giám mục giáo phận của ngài. Nhưng thánh Mêlêsiô là một giám mục nghiêm túc đích thực, ngài đã hết sức nhẫn nại chịu đựng để sớm trở về. Khi hoàng đế Valenxiô băng hà năm 378, bè rối Ariô cũng ngưng lại những cuộc bách hại Giáo hội. Năm 381, Công đồng Constantino danh tiếng, một Công đồng chung cho cả Giáo hội toàn cầu được triệu tập. Các giám mục muốn bàn về những chân lý đức tin quan trọng. Giám mục Mêlêsiô được trao cho trách vụ khai mạc Công đồng và trực tiếp chủ tọa các buổi họp. Và ngài đã qua đời ở đó, tại một trong các buổi họp trước sự thương tiếc của tất cả các giám mục. Các vị thánh danh tiếng như thánh Gioan Christômô và thánh Grêgôriô Nysê đã tham dự đám tang của ngài cùng với tất cả các giám mục tại Công đồng. Dân thành Constantino cũng đổ dồn về tòa Giám mục. Thánh Grêgôriô Nysê đã thuyết giảng trong thánh lễ an táng. Ngài nói về vị giám mục hiền lành đầy nhân hậu giống Chúa Kitô mà mọi người đều yêu mến. Sau cùng, ngài kết luận : “Ai yêu mến Giáo hội thì cũng yêu mến thánh Mêlêsiô!” Thánh Grêgôriô Nysê cũng đã đề cập đến sự bình thản và nụ cười rạng rỡ tràn đầy niềm hy vọng của giám mục Mêlêsiô, cả đến giọng nói đáng yêu và phong thái dịu dàng của ngài. Thánh Mêlêsiô về trời ngày 12/02/381.
Giám mục Mêlêsiô luôn luôn thân thiện và tốt bụng với hết thảy mọi người. Nhiều người cho rằng đời sống của thánh nhân tuy nghiêm nghị nhưng chưa bao giờ mất đi sự hiền từ nhã nhặn. Đây là tiêu chuẩn thực tế minh chứng lòng tốt của Mêlêsiô. Đây cũng là cách thế chứng tỏ tình yêu của thánh nhân đối với Đức Chúa Giêsu. Với những cố gắng bé nhỏ, chúng ta cũng có thể làm được như vậy.
Vào ngày 11/02/1858, một Bà Đẹp đã hiện ra lần đầu tiên với Benadette Sobiro lại Lộ Đức (Lourdes), nước Pháp. Benadette là một bé gái đau yếu gầy còm. Gia đình cô quá nghèo đến nỗi họ phải sống trong một hầm chứa mà trước đây nó là nhà giam. Tuy đã lên 14 nhưng Benadette vẫn chưa thể biết đọc biết viết! Tuy không thể nào nhớ được những bài học giáo lý nhưng Benadette lại là một cô bé rất ngoan. Benadette yêu mến Thiên Chúa nhiều lắm. Dù trí nhớ kém cỏi nhưng Benadette vẫn hết sức cố gắng học hỏi mọi điều về Thiên Chúa. Benadette cũng sống trong sạch và vâng lời nữa! Bà Đẹp mà Benadette xem thấy vận một chiếc áo dài trắng với một khăn thắt lưng màu xanh nhạt. Bà đội một chiếc lúp màu trắng phủ từ đầu xuống tới chân. Trên hai bàn chân có hai bông hồng vàng rất dễ thương. Hai tay chắp lại trước ngực và có một tràng chuỗi đeo trên bàn tay phải. Dây chuyền và Thánh Giá của cỗ chuỗi óng ánh tựa vàng ròng. Bà Đẹp đáng yêu khuyến khích Benadette lần chuỗi Mân Côi. Bà hiện ra tất cả 18 lần với Benadette. Bà xin Benadette nói cho mọi người hãy cầu nguyện, hãy ăn năn sám hối và đọc kinh Mân Côi để cầu cho các tội nhân. Trong lần hiện ra cuối cùng, Benadette hỏi Bà Đẹp là ai và Bà đã trả lời : “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội!” Bà chính là Đức Trinh Nữ Maria, mẹ Thiên Chúa. Người ta đã xây cất một vương cung thánh đường tại nơi Benadette trông thấy Đức Mẹ. Dù những lần hiện đến của Đức Mẹ đã xảy ra hơn 100 năm trước, thì bây giờ ở nơi ấy các phép lạ hiện vẫn còn đang tiếp tục xảy ra. Nhiều bệnh nhân được ơn chữa lành. Người què được đi. Người mù được thấy. Những người đau khổ cô đơn tìm được niềm hy vọng. Ở đó, nơi Đức Mẹ đã hơn một lần hiện ra với thánh nữ Benadette, Đức Mẹ cũng đang bày tỏ lòng yêu thương của Người đối với tất cả chúng ta.
Mỗi ngày, chúng ta hãy cố gắng đọc kinh Mân Côi để tôn kính Đức Mẹ. Nhờ lời kinh nguyện này, chúng ta lãnh nhận được hết mọi ân sủng cần thiết cho bản thân và cho những người chúng ta yêu mến.
Trước đây, do số tài liệu có trong tay quá hiếm hoi nên Nghĩa Già chỉ có thể chia sẻ với các em và các bạn một ít mẩu chuyện các Thánh của Thiên Chúa. Nay đã sưu tầm được hầu như gần đủ hết chư Thánh và Chân phước còn thiếu trong năm, giờ xin lại được chia sẻ tiếp với cả Nhà… Dĩ nhiên trong quá trình chép lại không tránh khỏi những thiếu sót không đáng có, rất mong mọi người thể tất cho. Chân thành cám ơn.
Xin Thiên Chúa là Cha Toàn năng, qua lời bầu cử của chư vị thánh nhân nam nữ của Người, ban muôn phúc lành cho Gia đình chúng ta.
------------------------------------------------
Ngày 03 tháng Giêng THÁNH GIƠ-NOA
Thánh nữ Giơ-noa sinh vào khoảng năm 422 tại Nantê, một ngôi làng nhỏ cách thành phố Pari khoảng bốn dặm. Khi còn rất trẻ, thánh Giơ-noa đã mơ ước dâng hiến đời mình cho Đức Chúa Giêsu. Sau khi cha mẹ qua đời, Giơ-noa trẩy đến sống với bà ngoại. Hàng ngày, thánh nữ dành thời giờ để cầu nguyện. Ngài sống rất gần gũi mật thiết với Đức Chúa Giêsu và muốn giới thiệu sự tốt lành của Chúa cho mọi người. Thánh nữ Giơ-noa có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài đã cố gắng hết sức mình để làm những việc tốt cho tha nhân. Khi người dân Pari sắp phải chạy trốn khỏi địch quân khủng khiếp đến tấn công họ, thánh nữ liền tiến lên phía trước. Ngài phấn khích dân thành hãy tin cậy vào Chúa. Ngài nói rằng nếu họ ăn năn sám hối, họ sẽ được thứ tha. Dân thành đã làm theo lời Giơ-noa nói và đột nhiên quân giặc Hung Nô hung hãn đã không tấn công thành phố nữa. Không chỉ trong những khi cần thiết mà suốt cả cuộc đời, thánh nữ Giơ-noa đã thực thi lòng yêu mến và tuân phục đối với ý muốn của Thiên Chúa. Và ngài luôn luôn cố gắng bồi đắp cho hoàn hảo hơn lên mãi. Can đảm và trung thành với Chúa Giêsu là những tặng ân đặc biệt trong chứng từ thánh nữ Giơ-noa để lại cho mỗi người chúng ta.
Một trong những cách thế tối hảo để giúp đỡ quê hương đất nước là cầu nguyện cho các vị lãnh đạo. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa hướng dẫn họ vì thiện ích chung của tất cả mọi người.
(Chép từ “Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ Mỗi Ngày” của Susan Helen Wallace, FSP)