Thánh Fabianô là Giáo hoàng tử đạo năm 250. Đó là thời kỳ bắt đạo của vua Đêsiô. Các văn gia tiên khởi đã viết rằng Fabianô là một người vĩ đại lạ thường và nổi tiếng thánh thiện. Trong một lá thư ngắn được viết sau cái chết của đức Fabianô, thánh Cyprianô đã giải thích cách thức đức Fabianô được chọn làm Giáo hoàng như sau : Nhóm người họp lại chọn vị Giáo hoàng kế tiếp đã nhận được một dấu lạ là phải chọn Fabianô làm Giáo hoàng. Fabianô là người giáo dân đầu tiên được làm Giám mục, Giáo hoàng và được phúc tử vì đạo. Những di tích của đức Fabianô hiện đang được lưu giữ trong Vương cung Thánh đường thánh Sêbastianô. Hai vị tử đạo này cùng được mừng chung một ngày lễ.
Thánh Sêbastianô trở nên rất nổi danh vào những thế kỷ đầu của Giáo hội sơ khai. Là sĩ quan Roma, ngài được mọi người biết đến vì tấm lòng dũng cảm và tư cách tốt lành. Suốt thời ký bách hại của Điôclêsiô, Sêbastianô đã không chối bỏ đạo Công giáo. Những người bắn cung đã bắn các mũi tên vào thân xác Sêbastianô và bỏ ngài chết ở đó. Khi một bà góa thánh thiện đến táng xác Sêbastianô, bà rất kinh hoàng vì thấy ngài vẫn còn sống. Bà liền đưa Sêbastianô về nhà và băng bó các vết thương cho ngài. Rồi khi Sêbastianô bình phục, bà đã thuyết phục ngài trốn thoát cho khỏi những nguy hiểm của Roma. Nhưng Sêbastianô là một sĩ quan gan dạ. Ngài không đào tẩu. Thậm chí ngài đã tiến lại gần Điôclêsiô và can đảm thuyết phục vua phải ngưng ngay việc bách hại những tín hữu Công giáo. Nhà vua hoảng hồn khi nhìn thấy Sêbastianô vẫn còn sống. Ông không nghe những điều người sĩ quan nói và đã ra lệnh đánh đòn cho đến khi Sêbastianô tắt thở. Thánh nhân qua đời năm 228.
Thánh Fabianô là Giáo hoàng và thánh Sêbastianô là binh sĩ. Các ngài dạy chúng ta rằng Chúa Giêsu yêu thương từng người chúng ta vừa khi chúng ta có mặt trên thế gian này. Như hai thánh Fabianô và Sêbastianô, mỗi người chúng ta cũng có một món quà để trao ban. Món quà ấy là thực hiện vai trò trách nhiệm lớn lao như Fabianô hoặc là một sĩ quan dâng hiến như Sêbastianô. Nhưng điều quan trọng là phải trao ban hoàn toàn như gương sống của các ngài.
Thánh Vinhsơn Saragôza chịu tử đạo ở Tây Ban Nha năm 304, cùng năm với thánh nữ Annê chịu tử đạo ở Roma. Cả hai vị thánh đều là những nạn nhân của cuộc bách hại dã man của vua Đêsiô. Thánh Vinhsơn sinh trưởng ở miền Saragôza, nước Tây Ban Nha. Ngài được thánh Giám mục Valêriô dạy dỗ và được nhận chức phó tế. Thậm chí dù khi Vinhsơn còn rất trẻ, Valêriô cũng nhận ra được những tài năng và đức tính quý báu nơi ngài. Giám mục Valêriô đã mời ngài giảng dạy các môn học về Chúa Giêsu và về Giáo hội. Vua Đasiô đã bắt cả Valêriô lẫn Vinhsơn Saragôza. Ông giam giữ các ngài suốt một thời gian dài nhưng cả hai đã không để cho tinh thần mình sa sút. Cả hai vẫn tin tưởng vào Đức Chúa Giêsu. Rồi, nhà vua trục xuất Valêriô nhưng ông lại dùng nhục hình dã man để tra tấn Vinhsơn. Thánh Vinhsơn nài xin Chúa Thánh Linh ban thêm sức mạnh. Ngài muốn trung thành với Đức Chúa Giêsu dù phải chịu những khổ hình khủng khiếp. Và Thiên Chúa đã ban cho ngài sức mạnh. Thầy phó tế Vinhsơn vẫn bình an trong tất cả mọi đau khổ. Khi những cuộc hành hình tra tấn kết thúc, Vinhsơn được trở về nhà giam nơi ngài đã làm cho một người cai tù ăn năn trở lại. Sau cùng, nhà vua đành nhượng bộ và cho phép giáo dân vào thăm Vinhsơn. Các Kitô hữu đến băng bó vết thương cho ngài. Họ cố gắng làm cho Vinhsơn được thoải mái. Ít lâu sau, Vinhsơn Saragôza qua đời.
Thánh Vinhsơn Saragôza vẫn vững vàng can đảm trong suốt cuộc bách hại nhờ ảnh hưởng của Valêriô, vị giám mục thánh thiện. Vinhsơn Saragôza đã học được ở nơi vị giám mục này cách thức để trở thành người môn đệ của Đức Chúa Giêsu. Thánh Vinhsơn Saragôza sẽ giúp chúng ta nhận biết và dõi theo gương sáng của tha nhân nếu chúng ta cầu xin ngài.
Thánh Gioan là một nhà quý tộc trung thành với Kitô giáo. Ngài đã dùng của cải và địa vị của mình để giúp đỡ những người nghèo khó. Sau khi người vợ qua đời, Gioan trở thành linh mục, rồi giám mục. Năm 608, Gioan được tấn phong làm thượng phụ giáo chủ thành Alexandria bên Ai Cập. Người ta có thể kỳ vọng gì nơi vị giáo chủ này, là người hiện đang nắm giữ một vị thế quan trọng? Thánh Gioan khi lãnh nhận chức vụ mới đã tập trung vào việc hàn gắn những mối chia rẽ giữa các Kitô hữu. Chính ngài đã nài xin mọi người thực hành một “đức ái không biên giới”. Việc đầu tiên Gioan làm là xin một danh sách liệt kê đầy đủ những “chủ nhân” của ngài. Người ta xin Gioan cho biết lý do, và ngài ám chỉ về những người nghèo khổ. Khi tổng kết lại, số người dân nghèo trong vùng Alexandria có khoảng 7500 người. Và thánh Gioan đã tự nhận làm người bảo trợ mạng sống của họ. Với tư cách thượng phụ giáo chủ, thánh Gioan công bố những khoản luật và ấn hành chính sách canh tân. Ngài có tấm lòng khoan dung và đáng kính nhưng rất cương quyết vững vàng. Gioan đã bỏ ra hai ngày trong tuần, thứ Tư và thứ Sáu, để tiếp chuyện những người ước ao muốn gặp ngài. Họ xếp hàng và nhẫn nại chờ đợi đến lượt mình. Một số người thì giàu có, số khác nghèo khổ và vô gia cư. Nhưng mọi người đều được lãnh nhận cùng một sự ưu ái quan tâm và nhã nhặn lịch thiệp của Gioan. Khi nhận biết trong ngân quỹ của Giáo hội còn 80.000 lượng vàng, thánh Gioan liền phân phát hết thảy cho các bệnh viện và tu viện. Ngài đã lập ra một quỹ từ thiện để nhờ đó những người nghèo khổ có thể nhận được số tiền tương xứng và những phương tiện cần thiết để chu cấp cho bản thân cũng như gia đình của họ. Những người tỵ nạn từ khắp các vùng lân cận cũng được tiếp đón cách nồng hậu. Sau khi những người Ba Tư cướp phá Giêrusalem, thánh Gioan đã gởi tiền bạc và những tiếp tế cần thiết cho các nạn nhân đau khổ. Thậm chí Gioan còn gởi những công nhân Ai Cập xuất sắc đến giúp khôi phục lại các ngôi thánh đường ở đó. Khi dân chúng muốn biết làm thế nào mà thánh Gioan có thể quá vị tha và giàu lòng quảng đại đến như vậy, thì thánh nhân trả lời nghe có vẻ rất ngỡ ngàng : Một ngày kia lúc còn trẻ, Gioan đã nằm mộng. Ngài thấy một cô bé xinh đẹp và nhận ra cô chính là biểu hiện của “lòng Bác Ái”. Cô bé nói với Gioan : “Tôi là nàng công chúa vĩ đại nhất của đức vua. Nếu ngài tin tưởng tôi, tôi sẽ dẫn ngài đến với Đức Chúa Giêsu. Không ai có quyền thế nơi Người như tôi. Hãy nhớ rằng chính vì tôi mà Người đã hóa nên một trẻ thơ để cứu rỗi nhân loại!” Thánh Gioan không bao giờ cảm thấy chán khi nói về thị kiến này. Ngài dịu dàng khuyên bảo những người giàu hãy có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài khuyên những người nghèo khổ hãy biết tín thác vào Thiên Chúa là Đấng luôn luôn hiện diện ở đó và đang sẵn lòng cứu giúp họ. Thánh Gioan qua đời cách an bình thánh thiện vào ngày 11/11/619. Vì lòng bác ái lớn lao mà Gioan được gọi là “Người Hay Bố Thí”.
Đôi khi chúng ta dễ bị cám dỗ phải chiếm cho được “địa vị đứng đầu”. Khi có những tư tưởng và thái độ như thế, chúng ta hãy cầu xin với thánh Gioan Bố Thí. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân san sẻ cho chúng ta tấm lòng bao dung quảng đại của ngài.
Thánh Phaolô sống cùng thời với Đức Chúa Giêsu. Nhưng như chúng ta biết, các ngài chưa bao giờ gặp mặt nhau. Lúc đầu, Phaolô có tên là Saolô. Khi còn trẻ, ngài là một thanh niên sáng dạ thông minh sống theo đạo luật Do Thái. Lớn lên, Phaolô bách hại những người đi theo Đức Chúa Giêsu. Chúng ta đọc thấy Cuộc Trở Lại thật ngạc nhiên của Saolô (nơi những chương 9, 22, 26) trong sách Tông đồ Công Vụ. Điều gì đã xảy ra? Vào một ngày kia, đang lúc Phaolô hành trình tới thành Đamát để lùng bắt nhiều Kitô hữu hơn, thình lình một luồng sáng lớn chiếu thẳng vào ngài. Khi té xuống đất, Saolô nghe thấy một giọng nói : “Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại ta?” Saolô trả lời : “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Và giọng nói ấy đáp : “Ta là Giêsu. Người mà ngươi đang bách hại!” Saolô kinh ngạc và bối rối. Sau vài giây, Saolô hỏi : “Ngài muốn tôi làm gì?” Chúa Giêsu đáp : “Hãy đi tới Đamát và ở đó ngươi sẽ biết phải làm gì!” Ngay chính giờ phút ấy, nhờ quyền năng của Thiên Chúa, Saolô đã được hồng ân tin nhận Đức Chúa Giêsu. Yếu ớt và run sợ, Saolô xin các đồng bạn của ngài giúp đỡ. Họ đã dẫn Saolô vào thành Đamát. Ánh sáng khi nãy đã làm lóa mắt Saolô. Giờ đây, chính trong lúc mù quáng mà Saolô có thể “nhìn thấy” sự thật. và Chúa Giêsu đã đích thân gặp gỡ Saolô, mời gọi Saolô hoán cải cuộc đời. Saolô trở nên người yêu đặc biệt của Đức Chúa Giêsu. Sau khi chịu phép Thanh Tẩy, Saolô chỉ suy tưởng đến việc giúp cho mọi người nhận biết và yêu mến Đức Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc. Chúng ta biết được Saolô là nhờ bởi tên gốc tiếng Roma của ngài : Phaolô. Ngài được gọi là “tông đồ”. Ngài đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng. Ngài đã làm cho rất nhiều người nhận biết và tin theo Đức Chúa Giêsu. Phaolô đã làm việc và chịu đau khổ vì Chúa. Nhiều lần những kẻ thù đã cố tìm cách giết ngài, nhưng không gì có thể ngăn cản được Phaolô. Lúc về già, có lần ngài bị tống giam và bị tuyên án tử, nhưng thánh Phaolô vẫn vui sướng chịu đựng cho dù phải chết vì Chúa Kitô. Vị tông đồ cao cả này đã viết nhiều thư rất hay cho các tín hữu. Những thư này trong Kinh Thánh được gọi là những Thánh Thư, được trích đọc ở phần phụng vụ Lời Chúa trong Thánh lễ.
Sự trở lại của thánh Phaolô tông đồ rất quan trọng cho đời sống của Giáo hội. Chúng ta được nhắc nhớ rằng Thiên Chúa cũng đang kiếm tìm chúng ta. Người tìm chúng ta dọc theo con đường Đamát của mỗi người. Người mời gọi chúng ta hãy từ bỏ mọi sự trong cuộc sống để chỉ giữ lại mình Người. Chúng ta có nhận ra Người như Phaolô đã nhận ra không? Chúng ta có sẵn lòng trở nên những môn đệ đích thực của Đức Chúa Giêsu như thánh Phaolô không? Chúng ta hãy nài xin thánh Phaolô giúp đỡ chúng ta.
Ngoài việc là những thánh nhân và là những giám mục trong Giáo hội sơ khai, Timôthêô và Titô còn có vài điểm giống nhau nữa. Cả hai đều nhận lãnh ơn đức tin do lời rao giảng của thánh Phaolô. Thánh Timôthêô sinh ở Lycaonia thuộc vùng Tiểu Á. Thân mẫu ngài là người Do Thái và thân phụ ngài là người dân ngoại. Khi Phaolô đến Lycaonia giảng dạy thì Timôthêô, thân mẫu và bà ngoại của ngài, tất cả đều trở nên những Kitô hữu. Sau nhiều năm, Phaolô trở lại và nhận thấy Timôthêô đã khôn lớn. Phaolô cảm thấy Chúa muốn gọi Timôthêô làm tông đồ truyền giáo cho Chúa nên đã mời Timôthêô cộng tác với mình rao giảng Tin Mừng. Sau đó, Timôthêô rời bỏ cha mẹ, nhà cửa và đi theo Phaolô. Ngài cùng chia sẻ đau khổ với Phaolô. Các ngài vui mừng ra đi mang Lời Chúa đến cho mọi người. Timôthêô là tông đồ yêu quý đặc biệt của Phaolô, và Phaolô xem ngài như đứa con nhỏ của mình. Timôthêô đã cùng Phaolô đi khắp nơi cho tới khi được đặt làm giám mục thành Êphêsô. Rồi Timôthêô ở đó coi sóc đoàn chiên của ngài. Như Phaolô, Timôthêô cũng được phúc tử đạo. Thánh Titô là người ngoại giáo. Ngài cũng là môn đệ của Phaolô. Titô có tâm hồn quảng đại và đức tính chăm chỉ. Ngài rất vui sướng khi được cùng với Phaolô rao giảng Tin Mừng trong những chuyến mục vụ. Vì Titô rất đáng tín nhiệm nên Phaolô đã trao phó cho ngài “công việc rao giảng” cho các cộng đồng Kitô hữu. Titô giúp họ kiện toàn đức tin trong Chúa Giêsu Kitô. Ngài có thể kiến tạo hòa bình khi có những cuộc cãi vã hoặc tranh chấp giữa các tín hữu. Titô có ơn đặc biệt trong việc hòa giải. Phaolô rất quý trọng ơn này nơi Titô và ngài chân nhận đó là công việc của Chúa Thánh Linh. Ngài hay sai Titô đi dàn xếp những vấn đề khó khăn. Khi Titô xuất hiện giữa những Kitô hữu đang bất bình cãi vã nhau, thì họ liền hối hận và lại làm hòa. Họ xin Titô tha thứ và hứa sẽ đền bù những thiệt hại đã gây ra cho nhau. Khi hòa bình được tái lập, Titô trở về và thuật lại cho Phaolô nghe những thành quả tốt đẹp. Điều này đã làm cho Phaolô và những Kitô hữu tiên khởi vui mừng hạnh phúc. Thánh Phaolô đã đặt Titô làm giám mục vùng quần đảo Crêta, nơi ngài định cư cho tới khi qua đời.
Thánh Timôthêô và thánh Titô đã dâng hiến cả cuộc đời, thời giờ và sức lực của mình cho Chúa Giêsu. Các ngài là những môn đệ đích thực của thánh Phaolô. Người ta rất dễ không mộ mến vì quá quen hoặc không để tâm đến những người như vậy. Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện cho hết thảy mọi người đang rao giảng Tin Mừng như Phaolô, Timôthêô và Titô.
Vị thánh này được sinh vào khoảng năm 500 tại nước Anh. Lúc còn trẻ, Gilda đã bắt đầu thực tập lối sống hy sinh, vị tha. Ngài làm điều này nhằm giúp bản thân sống kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa. Gilda rất nghiêm túc thực hiện những lời cam kết của mình. Ngài cảm thấy phải có trách nhiệm cầu nguyện và hy sinh cho các tội nhân sống trong thời đại của ngài. Gilda viết những bài giảng thúc giục người ta bỏ đàng tội lỗi. Ngài hối thúc họ hãy từ bỏ đời sống xấu xa. Vì lòng ao ước điều thiện quá mãnh liệt nên những bài viết của Gilda đôi lúc có vẻ như quá khe khắt. Thật ra, Gilda chẳng có ý lên án ai mà chỉ van xin người ta trở về với Thiên Chúa mà thôi! Thánh Gilda là người có tinh thần tu đức sống đời ẩn khuất, Gilda chọn lối sống thinh lặng và cầu nguyện vì ngài muốn trốn thoát khỏi thế giới ồn ào náo nhiệt. Gilda chọn cách sống ấy vì nó giúp ngài dễ dàng kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa. Ngài nhận thức được những điều sai trái, không phù hợp với đạo đức ở trong xã hội hơn những người bình thường. Đáng tiếc thay nhiều người đã không nhận biết đủ về Thiên Chúa và những quy luật của Gilda. Thậm chí họ không nhận ra tội lỗi đang hủy hoại tâm hồn họ. Đó là lý do nhiều người trong Giáo hội – các linh mục, giám mục và giáo dân – đã đến xin Gilda chỉ dạy về những vấn đề thiêng liêng. Về cuối đời, Gilda sống ẩn khuất trên một đảo nhỏ ở nước Anh. Các môn đệ của Gilda cũng theo ngài đến đó dù ngài muốn được ở riêng một mình để dọn tâm hồn về với Chúa. Gilda đã ân cần tiếp đón họ như một dấu chỉ Thiên Chúa muốn ngài chia sẻ những ân phúc thiêng liêng cho các linh hồn.
Thánh Gilda giống như “lương tâm” của xã hội. Đôi khi chúng ta không thích nghe nói về những điều xấu nhưng điều xấu lại hiện diện thật sự. Đôi khi chúng ta cũng bị cám dỗ làm điều xấu hoặc sống chểnh mảng thờ ơ. Những lúc như thế chúng ta hãy đơn sơ cầu nguyện cùng thánh Gilda. Hãy nài xin thánh nhân ban cho chúng ta nghị lực để dám thực hiện những điều tốt lành.
Câu chuyện bắt đầu vào khoảng năm 630. Một cô bé Công giáo người Anh rất hoảng hốt lo sợ không thể tưởng tượng được tương lai của mình sẽ ra thế nào. Điều cô biết được là cô đã bị bắt cóc và hiện đang ở trên một chiếc tàu của bọn cướp biển. Cô đang đi đâu? Cô có thể hỏi ai được? Sau cùng, tàu cập bến và cô bé nghe người ta nói là họ đang ở trên đất nước Pháp. Người ta đã nhanh chóng bán cô bé Batiđi như một nô lệ cho ông quản đốc lâu đài của vua Clôvít. Phần còn lại của câu chuyện thật giống hệt như câu chuyện thần tiên Xiđơren, ngoại trừ một điều là chuyện này có thực. Cô bé lặng lẽ để ý nghe những điều người ta cắt nghĩa cho cô. Ngày qua ngày, cô đã làm hết công việc này đến công việc nọ cách tốt đẹp. Cô có tính e thẹn và dịu dàng đến nỗi ngay cả vua Clôvít cũng bắt đầu để ý đến cô. Vua càng chú ý quan sát thì càng bị gây ấn tượng. Cô gái này sẽ là một người vợ đảm đang tuyệt vời, thậm chí sẽ là vợ của vua được chăng? Và vào năm 649, Clôvít đã kết hôn với Batiđi. Thật lạ lùng! Cô bé mới ngày nào là một nô lệ mà nay đã trở thành một bà hoàng! Họ có với nhau tất cả ba người con trai. Rồi Clôvít qua đời khi đứa con trai lớn nhất mới được 5 tuổi, vì thế Batiđi đã đứng ra cai trị nước Pháp cho tới khi các con của ngài khôn lớn. Dường như người ta đã phải hoàn toàn ngạc nhiên trước tài lãnh đạo khôn khéo của Batiđi. Ngài nhớ rất rõ về quãng đời nghèo khó của mình, những ngày bị bán làm nô lệ, một thứ “nô lệ rẻ tiền”. Batiđi muốn mọi người biết rằng họ thật quý giá chừng nào đối với Thiên Chúa. Với lòng yêu mến Chúa Giêsu và Giáo hội, Batiđi đã dùng địa vị của mình để giúp đỡ Giáo hội hết sức có thể. Ngài không yêu sách hay tự hào gì về điều đó. Hơn nữa, Batiđi quan tâm săn sóc những người nghèo khổ, Batiđi cũng bảo vệ cho người dân thoát khỏi cảnh bị bắt giữ hoặc bị xử tệ như những nô lệ. Batiđi đã cho xây nhiều bệnh viện trên nước Pháp. Ngài cũng thiết lập một chủng viện để đào tạo các linh mục và một tu viện dành cho các nữ tu. Sau cùng, chính hoàng hậu Batiđi cũng vào ẩn mình trong tu viện. Khi làm nữ tu, Batiđi đã bỏ qua một bên địa vị hoàng tộc của mình. Batiđi cố gắng trở nên một nữ tu thật khiêm tốn và vâng phục. Ngài không bao giờ đòi hỏi điều gì và cũng chẳng trông mong người khác phục vụ mình. Batiđi rất dịu dàng và tử tế với những người đau ốm. Khi yếu bệnh, Batiđi đã can đảm chịu đựng trong suốt quãng thời gian dài cho tới khi qua đời vào ngày 30/01/680.
Cuộc đời của hoàng hậu Batiđi cho chúng ta thấy mỗi ngày là một khởi đầu mới. Nó có thể đem đến những điều ngạc nhiên kỳ thú. Vì thế, khi e ngại không biết điều gì sẽ xảy ra, chúng ta hãy cầu xin thánh nữ Batiđi hướng dẫn cho biết cách thức tin cậy vào Thiên Chúa.