Các bạn thân mến,
Những gì mình có về các Thánh của Giáo Hội Công Giáo chỉ có từng ấy, ước mong các bạn sẽ bổ sung thêm nhiều nữa để được đầy đủ hơn. Vì mình biết là ngày nào trong năm cũng có một vị Thánh bổn mạng hết, mà khả năng tìm biết của mình chỉ có vậy, tiếc quá...
Trong số 12 tông đồ, Chúa Giêsu đã chọn riêng ba ông Phêrô, Giacobe và Gioan là những tông đồ thân tín nhất của Người. Gioan là vị tông đồ trẻ tuổi nhất trong nhóm Mười Hai. Ngài và người anh của ngài là tông đồ Giacobe đã từng là môn đệ của thánh Gioan Tẩy Giả. Nhưng một ngày nọ, Chúa Giêsu thấy họ đang giúp cha mình vá lưới, Người gọi họ : “Hãy đi theo tôi!”, và từ đó về sau, họ gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh của họ. Chúa Giêsu gọi họ là “con của Sấm Sét” bởi vì hai anh em này đã muốn cho lửa từ trời xuống tàn phá ngôi làng đã không chịu đón tiếp Chúa Giêsu. Tuy không chấp nhận việc làm này, nhưng Người trân trọng lòng nhiệt thành của hai ông cho sứ vụ làm tông đồ của Người. Tại phòng Tiệc Ly, thánh Gioan đã tựa đầu vào vai Chúa Giêsu. Thánh nhân cũng ở với Chúa Giêsu trong những giờ phút Người chịu khổ hình đau thương và tử nạn, đặc biệt để an ủi Đức Mẹ. Chúa Giêsu đã trao phó người mẹ yêu dấu của mình cho thánh Gioan coi sóc. Trong nhiều năm, thánh Gioan rao giảng Tin Mừng cho người Palestin. Về sau, người bị cầm tù ở Roma. Thánh nhân còn bị ném vào trong một vạc dầu sôi, nhưng Thiên Chúa gìn giữ ngài được bình an vô sự. Khi đã 99 tuổi, thánh Gioan mới viết sách Tin Mừng của ngài, có ý minh chứng rằng Thiên Chúa đã làm một con người như chúng ta. Biểu tượng Tin Mừng của ngài là con chim phượng hoàng, vì tư tưởng của ngài về Thiên Chúa và về bản tính thần linh nơi Chúa Kitô thì vượt trên hết mọi vật trong thế gian này.
Lạy Cha, Cha đã dùng thánh Gioan tông đồ để mạc khải mầu nhiệm Ngôi Lời cho chúng con. Xin Cha thương mở lòng soi trí, để chúng con thấu hiểu những chân lý cao siêu thánh nhân đã truyền lại.
Các tông đồ xin các môn đệ chọn ra 7 người có cuộc sống thánh thiện để họ lo công việc giúp đỡ những người nghèo. Những vị này được gọi là các thầy phó tế và Stéphano là vị phó tế đầu tiên trong số họ. Các tông đồ truyền chức phó tế cho họ bằng việc cầu nguyện và đặt tay trên họ. Stéphano đầy can đảm và ơn thánh, đã làm bao việc lạ lùng trên dân chúng. Thế nhưng một số người Do Thái tố cáo rằng ngài đã chống lại Thiên Chúa và luật Môsê. Bị điệu ra trước tòa án của người Do Thái, Stéphano nói năng thật khôn ngoan. Những người chứng kiến xác nhận rằng họ đã thấy có một hào quang trên đầu ngài và khi ngài can đảm làm chứng về Chúa Giêsu Kitô, mặt Stéphano trông sáng như thiên thần. Những người Do Thái vô cùng căm phẫn, nhưng Stéphano thì đầy tràn Thánh Thần, nhìn lên trời và nói : “Tôi thấy trời mở ra và thấy Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa.” Dân chúng càng tức giận, lôi vị thánh phó tế này ra ngoài thành và ném đá cho đến khi ngài gục ngã. Dù thế, thánh nhân vẫn tha thứ cho mọi kẻ hành hạ và giết ngài. Lúc sắp tắt thở, ngài quỳ gối và kêu lớn tiếng : “Lạy Chúa, xin tha thứ tội lỗi cho họ.” Sau khi cầu xin : “Lạy Chúa, xin đón nhận linh hồn con”, thánh nhân trút hơi thở cuối cùng. Stéphano là vị thánh tử đạo đầu tiên.
Lạy Cha, thánh Stéphano, vị tử đạo đầu tiên đã biết cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình như Chúa Kitô dạy. Hôm nay mừng thánh nhân được rước về trời, chúng con nài xin Cha ban ơn để chúng con hằng noi gương thánh nhân để lại mà yêu thương ngay cả địch thù.
Phêrô sinh tại Hà Lan ngày 08 tháng 05 năm 1521. Sau khi tham dự những ngày tĩnh tâm do Chân Phước Phêrô Faber là môn đệ đầu tiên của thánh Inhaxio hướng dẫn, ngài quyết định trở thành một tu sĩ dòng Tên. Thánh nhân được nổi tiếng nhờ các bài giảng và những bài viết của ngài. Trong vòng 5 tháng, ngài luôn ở bên cạnh thánh Inhaxio. Vào ngày thánh nhân khấn trọn đời, lúc ngài quỳ tuyên đọc lời khấn, ngài được đặc ân thị kiến thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu. Kể từ thời gian đó, ngài không bao giờ bỏ việc dâng mình cũng như dâng mọi công việc cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh nhân được gởi sang Đức, và tại đó, ngài can đảm chống lại giáo lý sai lầm của những người muốn lập một Hội Thánh ly khai. Ngài viết cuốn giáo lý dự tòng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngài cũng lập một số trường đại học. Ngoài ra, thánh nhân còn trình bày tại Công Đồng Tridentino cho các nghị phụ về đề tài Bí tích Thánh Thể. Thánh Phêrô Canisio là vị đại tông đồ thứ hai của nước Đức. Thánh nhân qua đời tại Thụy Sĩ năm 1597. Đức Giáo Hoàng Pio XI đã phong Hiển Thánh cho ngài vào năm 1925 và công bố ngài là Tiến sĩ Hội Thánh. Ngài là một trong các đối thủ của phong trào cải cách bằng phương tiện rao giảng và xuất bản sách báo để bảo vệ đức tin Công Giáo.
Lạy Chúa, để bảo vệ đức tin của Hội Thánh Công Giáo, Chúa đã cho xuất hiện một linh mục đầy lòng dũng cảm và trí thông minh là thánh Phêrô Canisio. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho những ai đang tìm kiếm chân lý được phúc nhận biết Chúa là Thiên Chúa, và xin cho cộng đoàn tín hữu chúng con được trung thành giữ vững đức tin.
Thánh Gioan chào đời tại nước Tây Ban Nha năm 1542, cha mẹ ngài rất nghèo. Ngài đã từng làm kẻ hầu hạ những người nghèo tại bệnh viện Medina. Năm 21 tuổi, ngài trở thành thầy trợ sĩ tại một đan viện dòng Cát Minh, nơi đây ngài đã thực hành việc đền tội cách nghiêm ngặt. Các bề trên của thánh Gioan biết được tài năng của ngài, đã gởi ngài đến học tại Salamanca để ngài được thụ phong linh mục. Ngài gặp mẹ Têrêsa Avilla và mẹ thật vui mừng tìm được người cộng tác với mình trong việc canh tân dòng Cát Minh. Thánh Gioan trở thành người tiên phong trong dòng Camélio thuộc nhóm “đi chân trần” và ngài lấy tên là Gioan Thánh Giá. Một vài tu sĩ trong dòng phản đối kịch liệt việc canh tân của ngài và đã tống ngài vào tù. Sau 9 tháng chịu đau khổ, ngài được giải thoát. Hai lần khác nữa, thánh nhân lại bị nhục mạ cách công khai trước mặt mọi người. Thánh Gioan Thánh Giá đã viết ra những lời khuyên sau đây : “Hãy sống trên đời này như thể chỉ có Thiên Chúa và một mình bạn mà thôi, như thế, tâm hồn bạn sẽ chẳng bao giờ bị bất cứ một tạo vật nào trên thế gian này chiếm đoạt được.” Vì luôn kết hợp với Chúa bằng một tình yêu chân thật, thánh nhân đã kiên tâm đón nhận mọi khổ đau xảy đến với mình. Ngài giã từ cuộc đời năm 1591. Thánh Gioan Thánh Giá là một trong các nhà chiêm niệm vĩ đại nhất trong Giáo Hội. Ngài được phong tước hiệu Tiến sĩ Hội Thánh năm 1926 do Đức Thánh Cha Pio XI.
Lạy Cha, Cha đã ban cho thánh Gioan linh mục lòng nhiệt thành yêu mến Thánh Giá và hoàn toàn từ bỏ chính mình. Xin ban cho chúng con hằng biết noi gương sáng của người, để mai sau được chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển.
Thánh Lucia được phúc tử đạo năm 304. Người ta thường vẽ hình thánh nữ một tay cầm ngành lá vạn tuế để diễn tả chiến thắng vinh quang của thánh nữ, còn tay kia cầm một cái đĩa đựng 2 con mắt để nói lên nguyên do thánh nữ chịu tử đạo. Khi còn là người ngoại giáo, Lucia đã dẫn mẹ mình đến viếng mộ thánh Agatha Trinh nữ tử đạo để xin cho bà được qua khỏi cơn bệnh nặng. Thánh Agatha đã hiện ra với Lucia và cho biết chính nhờ đức tin của Lucia mà mẹ cô được chữa lành, nhưng cô thì phải chịu chết vì Đức Kitô. Sáng hôm sau, người mẹ của Lucia hoàn toàn bình phục. Lucia là cô gái người Ý xinh đẹp và rất giàu có. Để tỏ lòng biết ơn Chúa, cô đã dâng hết tiền bạc của mình cho người nghèo và hứa tận hiến cuộc đời cho Chúa. Có một thanh niên kia không tin Thiên Chúa đã đem lòng yêu thương Lucia. Anh ta muốn cưới Lucia làm vợ. Khi nghe biết Lucia đã chọn con đường theo Chúa, anh ta giận điên lên, đi tố cáo với quan trấn thủ, nhưng người con trai của vị quan này cũng bị thu hút bởi sắc đẹp của Lucia, đã xin cha tha chết cho Lucia, để anh ta được kết hôn với cô. Lucia không chấp nhận và khi biết anh quá say mê đôi mắt đẹp của mình, cô liền móc hai con mắt gửi đến cho anh với lời nhắn : “Mong anh được như ý thích và chính tôi cũng toại nguyện vì được trọn đời thuộc về Chúa.” Quá tức giận vì thua lòng can trường của một thiếu nữ, quan trấn thủ đã đưa ra nhiều khổ hình để trừng phạt Lucia, nhưng Thiên Chúa luôn bảo vệ cô. Sau cùng, một lưỡi gươm đâm thấu trái tim người trinh nữ, đem linh hồn cô về trời muôn đời hạnh phúc bên Đức Kitô.
Lạy Cha, hôm nay chúng con mừng kỷ niệm thánh nữ Lucia Đồng trinh tử đạo bước vào trời. Xin Cha nhận lời thánh nữ chuyển cầu mà khơi lửa yêu mến trong lòng chúng con, để mai sau chúng con được chiêm ngưỡng Cha vô cùng vinh hiển.
Gioanna là người con thứ hai của chủ tịch nghị viện nước Pháp miền Burgundy. Khi 20 tuổi, cô kết hôn với Baron Chantal, một sĩ quan quân đội của vua Henri IV. Người chồng của Gioanna bị nạn trong một chuyến đi săn và đã từ trần trong vòng tay của bà. Gioanna trở thành góa bụa với một người con trai và ba cô con gái khi bà mới 28 tuổi. Gioanna gặp được thánh Phanxico Sale và vị thánh này đã khuyên bà dâng hiến cuộc đời còn lại để phụng sự Thiên Chúa, trong khi bà vẫn chu cấp và dạy dỗ những đứa con của bà cách chu đáo. Với sự hướng dẫn của thánh Phanxico, bà sáng lập một hội dòng mới trong Giáo Hội là dòng Đức Mẹ Thăm Viếng ở Annecy năm 1610. Các tu viện của thánh Gioanna trở thành nơi nương náu cho những ai vì lý do sức khỏe hay tuổi tác mà không được chỗ nào khác đón nhận. Thánh VinhSơn Phaolô nói về thánh Gioanna Chantal như sau : “Đây là một phụ nữ có đức tin phi thường, bà luôn bị dằn vặt suốt cả đời mình. Vì sự trung thành với thánh ý Chúa, bà chẳng bao giờ có được điều gì thoải mái. Tôi coi bà là một trong những linh hồn thánh thiện nhất mà tôi chưa từng gặp trên trần gian này…” Thánh nữ Gioanna đi thăm hết 87 tu viện ngài đã thành lập trước khi ngài qua đời vào ngày 13 tháng 12 năm 1641, khi thánh nữ được 69 tuổi.
Lạy Chúa, Chúa đã làm rạng danh thánh nữ Gioanna Phanxica vì những công đức rực rỡ của người, trong đời sống gia đình cũng như đời sống tu viện. Nhờ lời thánh nữ cầu bầu, xin cho mỗi người chúng con biết sống trung thành với ơn Chúa kêu gọi, để mọi người nhìn thấy ánh sáng của Chúa trong những việc chúng con làm.
Thánh Ambrosio sinh tại Gaul khoảng năm 340. Ngài thuộc một dòng họ quý tộc và được hấp thụ một nền giáo dục hoàn hảo tại Roma, đồng thời ngài cũng là một nhà thơ và nhà hùng biện lừng danh. Khi Ambrosio dời về sống ở Milan, ngài được bổ nhiệm làm quan thống đốc thành phố này. Do tiếng thốt lên của một em bé “Ambrosio, Giám Mục” mà ngài được dân chúng đưa về Milan và xin cho ngài được phong làm giám mục của họ khi ngài mới 34 tuổi. Ambrosio trao hết tài sản của ngài cho Giáo Hội và người nghèo. Ngài ra sức nghiên cứu Kinh Thánh và các tác phẩm của Hội Thánh. Ngài đã từng bảo vệ Hội Thánh chống lại bè rối Ario vào thời của ngài. Thánh nhân cũng là người đã đưa hoàng đế Théodosio và hoàng hậu trở về với chính đạo. Chính thánh Augustino lúc còn trẻ đã nghe thánh Ambrosio giảng và nhờ những bài giảng của thánh nhân mà thánh Augustino đã được ơn hoán cải. Thánh Ambrosio là gương mẫu cho các mục tử về lòng nhiệt thành đối với các linh hồn. Tâm hồn ngài tràn đầy tình yêu nhân hậu đối với những người nghèo. Thánh Ambrosio qua đời năm 397. Ngài còn để lại nhiều tác phẩm bàn về những tín điều mà ngày nay người tín hữu chúng ta vẫn tuyên xưng. Giáo Hội đã tôn phong ngài là một vị giáo phụ và là một người bảo vệ đức tin vĩ đại nhất trong lịch sử. Đó là lý do người ta thường vẽ hình ngài cầm một ngôi thánh đường trên tay. Còn tổ ong thì để diễn tả sự khôn ngoan của vị thánh này.
Lạy Cha, Cha đã làm cho thánh Ambrosio giám mục trở nên bậc thầy giảng dạy đức tin Công Giáo, và là một tông đồ trung kiên mẫu mực. Xin cho Hội Thánh ngày nay được thêm nhiều mục tử vừa ý Cha, biết khôn ngoan và dũng cảm chăm sóc đoàn chiên.
(Bổn mạng các người làm bánh kẹo – Bổn mạng nước Nga)
Thánh Nicola sinh vào khoảng cuối thế kỷ thứ III. Sau khi thụ phong linh mục, ngài được bổ nhiệm làm viện phụ trông coi một đan viện. Ngài rất quảng đại đối với người nghèo khổ. Với những người vô tội nhưng phải chịu cảnh bất công, thánh nhân bênh vực họ cách đặc biệt. Một ngày kia, ngài nghe rằng có người đàn ông vì hoàn cảnh quá nghèo nên có ý định để mặc cho ba cô con gái của mình đi vào con đường tội lỗi. Thánh Nicola lên đường dù giữa ban đêm, đem theo một túi tiền vàng đến đặt tại cửa sổ nhà người đàn ông đáng thương này. Hôm sau, ông ta đến quỳ dưới chân thánh Nicola và thưa : “Cha Nicola ơi, cha là vị cứu tinh của con. Cha đã cứu thoát linh hồn con và linh hồn ba đứa con gái của con khỏi rơi vào địa ngục.” Thánh Nicola được nhìn nhận như vị bảo trợ đặc biệt của giớ thiếu nhi. Khắp nơi, dân chúng gọi ngài là “ông già Noel”. Ngài qua đời năm 342 tại Myra. Năm 540, hoàng đế Justin đã cho xây một ngôi thánh đường tại Constannopoli để tôn kính thánh Nicola. Đến năm 1807, hài cốt của ngài được đem về Bari nước Ý. Thánh nhân luôn được kính nhớ cách đặc biệt tại các thánh đường ở Hy Lạp và Latinh, nhưng ở Nga, người ta tôn kính ngài hơn các vị thánh khác. Thánh Nicola cũng chính là bổn mạng của nước Nga.
Lạy Cha, xin ghé mắt nhân từ nhìn đến chúng con, và vì lời chuyển cầu của thánh Nicola giám mục, xin gìn giữ chúng con khỏi mọi cơn hiểm nghèo, để chúng con được thảnh thơi tiến bước trên con đường cứu độ.
Thánh Barbara được nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường ngoại đạo. Là một phụ nữ rất xinh đẹp và trẻ trung, nên nhiều hoàng tử khắp nơi tìm đến xin với thân phụ Barbara cho họ được kết hôn với cô. Phần cô, cô từ chối việc lập gia đình. Còn người cha của cô, vì máu ghen tuông nhỏ mọn, đã cho xây một tháp cao để giam giữ người con gái của ông. Barbara tự tìm hiểu về Thiên Chúa và học biết cách cầu nguyện để cuối cùng cô được nhận Bí tích Thánh Tẩy cách bí mật. Khi người cha phát hiện ra cô đã trở thành một Kitô hữu, ông vô cùng giận dữ nên đã toan rút gươm giết cô. Thế nhưng chính Thiên Chúa đã giải thoát người con của Người. Lần khác, người cha của Barbara đưa cô đến một tòa án nhân dân. Quan tòa nói với cô trước mặt mọi người : “Hãy chọn đi : hoặc cô sẽ dâng hương cho thần ngoại hoặc cô sẽ chịu những cực hình tàn bạo cho đến chết mới thôi. “ Barbara trả lời : “Tôi đã hiến dâng đời tôi cho Chúa Giêsu là Thiên Chúa của tôi, Ngài là Đấng sáng tạo thành triờ đất và muôn loài muôn vật.” Sau khi Barbara bị đánh đập tàn nhẫn, Chúa đã hiện ra với cô trong một thị kiến để an ủi cô. Quan tòa ra lệnh dùng gươm để tra tấn cô. Nhưng người cha của Barbara xin đem cô lên một ngọn núi để ở đấy, chính ông đã chém đầu cô đang lúc cô cầu nguyện xin Chúa thương xót linh hồn người cha của mình. Bất thình lình có một ngọn lửa từ trời xuống đốt cháy tiêu tan người đàn ông này. Barbara được phúc tử đạo năm 235. Thánh nữ còn được kêu cầu để người ta khỏi bị sét đánh và hỏa hoạn.
Lạy Chúa, hàng năm Chúa cho chúng con niềm vui cử hành thánh lễ kính thánh nữ Barbara. Nhờ gương cam đảm và đức bác ái thánh nữ để lại cùng với lời chuyển cầu mạnh thế của người, xin Chúa phù giúp chúng con luôn trung thành phụng sự Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.
Phanxico chào đời năm 1506 tại Tây Ban Nha trong một dòng họ quý phái. Ngài được gởi vào học tại trường đại học thánh Barbara ở Paris và sau đó làm giáo sư tại đây. Ngài cùng với thánh Inhaxio Loyola và 4 bạn trẻ nữa khấn hứa cùng nhau làm công việc cải hóa các linh hồn. Các ngài thành lập hội dòng Chúa Giêsu. Trước khi thụ phong linh mục tại Venice, thánh nhân đã từng là người chăm sóc các bệnh nhân tại bệnh viện. Hoàng đế nước Bồ Đào Nha mong muốn 6 nhà truyền giáo đến rao giảng đức tin cho nước Ấn Độ. Một trong các vị này là thánh Phanxico. Ngài đặt chân đến Goa. Tại đây, lúc đầu, thánh nhân chỉ đến an ủi các người bệnh tật và rảo bộ qua các đường phố, rung chuông để kêu gọi trẻ em đến nhà thờ học giáo lý. Về sau, ngài công khai giảng dạy và chẳng bao lâu, cả thành phố này được ơn gia nhập đạo thánh Chúa. Tại Ấn Độ, hàng ngàn người dân ngoại đã trở thành Kitô hữu. Ngọn lửa bùng cháy từ trái tim của thánh nhân diễn tả tình yêu rực nóng của ngài dành cho các linh hồn. Quả địa cầu nhắc nhở chúng ta rằng thánh Phanxico đã bước chân tới những vùng xa xôi nhất để rao giảng Tin Mừng. Ngài là vị thánh bổn mạng của các nhà truyền giáo. Thánh Phanxico đã vượt đại dương đến nước Nhật vào năm 1549. Nhiều nhà truyền giáo khác cũng tháp tùng ngài đến đây. Ngài đã đem cả trăm ngàn người gia nhập Giáo Hội. Trên con tàu chở thánh nhân đến Trung Quốc, ngài ngã bệnh nặng bởi một cơn sốt cao. Tàu phải dừng lại tại một hòn đảo ở xa đất liền và vị thánh truyền giáo này đã tắt thở trên cabin một con tàu cũ kỹ. Hôm đó là ngày 02 tháng 12 năm 1552.
Lạy Cha, Cha đã sai thánh Phanxico đi rao giảng để kêu mời dân tộc Á châu đón nhận Tin Mừng. Xin cho các Kitô hữu được nhiệt thành truyền giáo như thánh nhân, và cho Hội Thánh được hân hoan đón nhận nhiều con cái.
Ngày nọ, thánh Gioan Tẩy Giả và hai người môn đệ của ngài, mà một người có tên là Anre, thấy Chúa Giêsu đang đi về phía mình. Thánh Gioan liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa!” Thế là cả hai ông liền đi theo Người. Họ cất tiếng hỏi : “Thưa Thầy, Thầy sống ở đâu?” Và Đức Giêsu đáp : “Hãy đến mà xem!” Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy. Sau đó, ông Anre nói với em mình là ông Phêrô : “Chúng tôi đã gặp được Đấng Messia.” Rồi ông dẫn em mình đến với Người. Một hôm, Đức Giêsu nói với hai ông Phêrô và Anre rằng : “Hãy thả lưới ở chỗ nước sâu.” Ông Phêrô thưa lại : “Suốt đêm chúng con đã đánh cá, nhưng chẳng bắt được con nào cả.” Nhưng ông vẫn vâng lời Thầy, họ thả lưới và bắt được nhiều cá đến nỗi ông Phêrô và Anre không tài nào kéo lưới lên nổi. Các ông phải gọi người khác đến giúp. Đức Giêsu nói với các ông : “Hãy theo Ta, Ta sẽ biến các bạn thành những người chài lưới đem các tâm hồn trở về.” Lập tức. các ông từ bỏ công việc đang làm mà đi theo Đức Giêsu. Thánh Anre rao giảng Tin Mừng tại Hy Lạp và tại cả nước Nga cũng như nước Ba Lan. Ngài bị đóng đinh và chết trên thập giá, nhưng là thập giá hình chữ X.
Lạy Cha, Cha đã ban cho thánh Anre, người ngư phủ được ơn tin nhận Đức Giêsu là Đấng Messia và mau mắn giới thiệu cho em mình. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu mà củng cố niềm tin của chúng con, để chúng con cùng chia sẻ niềm tin của mình cho những người chúng con gặp gỡ.
Gioan sinh năm 1599 tại Diest, một thị trấn nhỏ của vương quốc Bỉ. Gia đình cậu có 5 người con, trong đó 3 người là tu sĩ. Ở tuổi thiếu niên, Gioan rất sốt sắng dự thánh lễ và yêu thích lần hạt Mân Côi. Khi Gioan lên 9 tuổi, mẹ cậu mắc bệnh nặng. Ngoài những giờ học tập ở trường học và phải làm nhiều công việc khác nữa, cậu vẫn luôn tận tâm giúp đỡ người mẹ đau yếu bệnh tật của mình. Trong vòng 3 năm trời, cậu đến sống và giúp cho cha sở, hầu mong có cơ hội học hành và có thể tiến tới chức linh mục. Cậu vào tập viện ở Mechlin và về sau đi bộ đến tận Roma để tiếp tục việc học hành. Sau 3 năm học triết, thầy được các bề trên chọn cho tham dự vào các cuộc tranh luận công khai. Chưa hoàn tất công việc để có được kết quả thì thầy bị ngã bệnh. Vào buổi chiều ngày 12 tháng 08 năm 1621, thầy ôm chặt tràng chuỗi, tượng chịu nạn và cuốn luật dòng rồi tuyên bố : “Đây chính là 3 kho báu của tôi, với những kho tàng quý giá này, tôi sẽ ra đi về với Chúa trong hân hoan.” Ngày 13 tháng 08, thầy qua đời, đôi mắt dán chặt vào “những báu vật” của thầy. Năm 1888, Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã phong Thánh cho thầy.
Lạy Cha, Cha đã soi sáng cho thánh Gioan Berchmans biết nỗ lực sống đức bác ái trọn hảo và sau cuộc lữ hành trần thế, thánh nhân đã đạt tới hạnh phúc trọn vẹn trên Nước Trời. Nhờ lời thánh nhân chuyển cầu, xin Cha gia tăng sức mạnh của Cha cho chúng con để chúng con hân hoan bước đi trên con đường yêu thương của Cha.
Catarina sinh năm 1806 tại Burgudy nước Pháp. Cô là người con thứ 9 trong một gia đình có 11 người con. Cô đã chối từ nhiều người đến xin cầu hôn và nói với họ rằng : “Tôi đã có vị Hôn Phu của tôi từ ngày tôi được chịu lễ lần đầu rồi. Tôi hiến dâng đời tôi cho chỉ một mình Người mà thôi.” Một lần kia, Catarina đến thăm một bệnh viện do các chị dòng Nữ Tử Bác Ái trông coi. Tại hành lang bệnh viện, Catarina thấy hình thánh VinhSơn Phaolô và cô còn nghe được những lời này : “Hỡi con, chăm sóc người đau yếu bệnh tật là một việc vô cùng cao đẹp. Chúa đang trông đợi sự sẵn sàng của con.” Ít lâu sau, Catarina trở thành người Nữ Tử Bác Ái của thánh VinhSơn. Vào ngày 18 tháng 07 năm 1830, Catarina được một thị kiến thấy chân dung Đức Mẹ mà theo cô mô tả như là một tấm mề đay kỳ diệu. Ở một mặt, có hình Đức Mẹ với những lời sau : “Hỡi Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con là kẻ đang tìm đến kêu cầu Mẹ.” Còn ở mặt kia là hình Trái Tim Chúa Giêsu và Trái Tim Đức Maria. Đức Mẹ còn truyền cho thánh Catarina : “Hãy cho đúc các ảnh theo như mẫu này. Những ai mang ảnh này vào mình thì sẽ nhận được nhiều ơn thực lạ lùng.” Khi Catarina đang trong thời kỳ tập viện, vào tuổi 24, cô được Đức Mẹ hiện ra 3 lần. Việc sùng kính ảnh Đức Mẹ làm phép lạ trên đây được phổ biến nhanh chóng trên khắp thế giới. Thánh Catarina từ trần năm 1876.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa thực hài lòng khi tôn dương thánh Trinh nữ Catarina qua những lần hiện ra lạ lùng của Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội với thánh nữ. Nhờ gương sáng và lời cầu của thánh nữ, xin ban cho chúng con đạt tới niềm vui vĩnh cửu trên Thiên quốc mai sau.
Theo sử liệu, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có tới 130.000 tín hữu đã chết để minh chứng niềm tin vào Chúa trong thời kỳ đạo Chúa mới đến trên quê hương đất nước Việt Nam. Ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị lên bậc Hiển Thánh. Các ngài được gọi là Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong số này có 8 giám mục, 50 linh mục, 16 thầy giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân thuộc đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội. Có vị thánh tử đạo là một nông dân hay ngư phủ, có vị làm nghề y sĩ hay chỉ là một công nhân, có thánh là một thương gia và cũng có vị giữ chức lý trưởng hay ông trùm… Thế nhưng tất cả đều quyết một lòng trung thành với Chúa Kitô cho dù phải chấp nhận những khổ hình ghê rợn nhất. Các bạn có biết, có những vị thánh bị chặt chân tay trước khi chịu chém đầu, có những vị bị thiêu sống, bị chặt đầu, bị xử giảo bằng cách tròng dây qua cổ rồi kéo hai đầu dây cho đến chết. Ngoài ra còn có những vị chết rũ tù, hay chịu cắt da thịt cho đủ 100 miếng, gọi là “bá đao”. Các Thánh Tử Đạo đã chịu đựng được tất cả vì các ngài luôn kết hợp với Chúa, năng lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể. Là con cháu đã được các ngài sinh ra trong dòng máu và niềm tin, chúng ta luôn ghi nhớ công ơn và noi gương các ngài bằng cách sống trung thành với đức tin đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa Tội, làm chứng cho Chúa Kitô bằng đời sống bác ái yêu thương trong mọi hoàn cảnh.
Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo Hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại : luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.
Cecilia là thành viên của một dòng họ quý phái ở Roma và là người trung thành theo Chúa Kitô. Cha mẹ Cecilia ép nàng phải kết hôn với một thanh niên giàu có tên là Valerio. Vào buổi tối hôm tân hôn, nghe nhạc cưới vang lên bên tai, Cecilia lập lại lời nàng đã từng khấn hứa với Chúa là dâng hiến đức đồng trinh của mình cho Người. Cecilia nói với chồng : “Hãy để cho tâm hồn em luôn tinh tuyền, thân xác em mãi sạch trong, bởi vì em đã có một vị hôn phu mà anh không biết. Thiên thần của Chúa luôn che chở cuộc đời em.” Chính đây là lý do tại sao Cecilia được đặt làm bổn mạng các nhạc sĩ. Cecilia hoán cải người chồng trở lại với đức tin Kitô Giáo. Vì anh từng giúp Cecilia làm việc bác ái cho người nghèo, nên anh đã bị kết án tử hình. Còn Cecilia từ chối không chịu dâng hương tế thần. Quan tòa ra lệnh tống nàng vào trong lò hơi cho chết ngạt, nhưng Thiên Chúa đã giữ gìn thánh nữ không hề hấn gì. Sau đó quan tòa ra lệnh cho một tên lính tuốt gươm chém đầu Cecilia. Hắn chém thánh nữ tới ba lần, nhưng đầu ngài không đứt. cecilia gục xuống, đau đớn vì vết thương. Thánh nữ vẫn còn sống thêm được ba ngày nữa. Ngài trao hết tài sản của mình cho thánh Giám mục Urbano để ngài sử dụng trong Hội Thánh. Sau đó Cecilia nhận Mình Thánh Chúa rồi tắt thở. Việc đó xảy ra vào năm 117. Cecilia được chôn táng trong các hang toại đạo. Mộ của thánh nữ được tìm thấy vào năm 817 và xác của ngài được đem về đặt trong thánh đường kính thánh Cecilia ở Roma. Vào năm 1599, khi khai quật ngôi một thánh nữ lên, người ta thấy thân xác của thánh nữ vẫn còn nguyên vẹn.
Lạy Cha, xin nhận lời chúng con khẩn nguyện – Nhờ lời thánh nữ Cecilia chuyển cầu, xin Cha ban cho chúng con xứng đáng hát mừng Danh Thánh Cha.
Elisabeth là một công nương của nước Hungari. Khi lên 13 tuổi, cô đã kết hôn với hoàng tử Lu-y. Nơi ở của hoàng hậu là tòa lâu đài nằm trên một dốc đá cao, bà cho xây một bệnh viện ngay dưới chân núi. Tại đây, hàng ngày bà nuôi nấng những người nghèo, săn sóc những người bệnh, tự tay phục vụ cho những ai có nhu cầu. Mọi người đều mến thương hoàng hậu và thường gọi bà là “Dì thánh Elisabeth”. Khi các người phục vụ ngăn cản không cho bà giúp đỡ người nghèo nữa, bà liền nói : “Tôi đang chuẩn bị cho ngày phán xét sau này của tôi. Tôi muốn khi ấy tôi có thể nói với Chúa Giêsu rằng : Lạy Chúa, xin Ngài xử khoan dung và đón nhận con, vì khi Ngài đói, con đã cho ăn, khi Ngài mình trần, con đã cho mặc và khi Ngài đau yếu, con đã viếng thăm. Lúc đó, Chúa sẽ nói : Khi con làm những điều này cho người nghèo khổ bé nhỏ, là con đã làm cho chính Ta.” Một lần kia, khi Elisabeth mang bánh cho người nghèo, chồng bà bắt gặp, nhưng ông chỉ nhìn thấy toàn hoa hồng trong tay áo của bà. Người chồng từ trần, để lại cho bà nhiều khốn khó cùng với 4 người con phải nuôi dạy. Bà phân phát hết tiền bạc cho người nghèo, rồi tự tay làm việc để sinh sống. Elisabeth qua đời năm 1302 khi bà mới được 24 tuổi. Những lời cuối cùng của thánh nữ là : “Lạy Mẹ Maria, xin đến cứu thoát con.” Thánh nữ là vị thánh bảo trợ cho các bệnh viện.
Lạy Cha, Cha đã cho thánh nữ Elisabeth nhận ra và tôn kính Đức Kitô nơi người nghèo khổ. Xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu mà ban cho chúng con luôn hết lòng mến yêu phục vụ những ai đang lâm cảnh khốn cùng.
Frances Cabrini sinh tại nước Ý năm 1850 trong một gia đình có 13 người con. Khi lên 8 tuổi, do sức khỏe yếu, Cabrini đã không thể đạt được ước nguyện trở thành một nữ tu. Chị ở nhà giúp đỡ cha mẹ cho đến khi các ngài qua đời. Sau đó, chị làm việc trong một nông trại cùng với các anh chị của mình. Một vị linh mục xin chị dạy học tại trường dành cho các trẻ em nữ. Frances Cabrini ở đó trong 6 năm. Nhận lời thỉnh cầu của vị giám mục, chị bắt đầu công việc truyền giáo để tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu bằng cách chăm sóc trẻ em nghèo tại các bệnh viện và trường học. Chị Frances Cabrini viết thư cho Đức Giáo Hoàng Leo XIII và ngài truyền cho chị : “Con hãy đi đến nước Hoa Kỳ. Rất nhiều công việc đang chờ con tại đó.” Chị đến Hoa Kỳ cùng với 6 nữ tu năm 1889 và bắt đầu làm việc giữa những người Ý sống tại New York. Chị trở thành công dân Mỹ. Chị Frances Cabrini đã lên đường đi đến nhiều nơi. Chị thành lập nhiều viện mồ côi, trường học và bệnh viện không chỉ trên đất Mỹ mà còn trên khắp cả Âu châu nữa. Chị Cabrini là công dân Hoa Kỳ đầu tiên trở thành một vị thánh. Chị được Đức Giáo Hoàng Pio XIII phong lên hàng Hiển Thánh ngày 07 tháng 07 năm 1946.
Lạy Chúa, qua công việc của thánh Frances Cabrini, Chúa đã mang đến nguồn an ủi và tình thương yêu của Chúa cho những người di dân và những ai thiếu thốn. Xin cho những gương sáng và hoạt động của thánh nữ được tiếp tục nơi những người đang hiến dâng cuộc đời mình để phục vụ Chúa.
Martino chào đời khoảng năm 316 trong một gia đình ngoại giáo tại một lãnh thổ mà ngày nay là nước Hungari, nhưng ngài được giáo dục tại nước Ý. Là con của một sĩ quan La Mã, ngài bị buộc phải phục vụ trong quân đội khi mới 15 tuổi. Ngài gia nhập Kitô Giáo và lãnh Bí tích Rửa Tội vào năm 18 tuổi. Truyền thuyết kể lại rằng : Vào một ngày lạnh giá kia, Martino gặp một người nghèo đến nỗi không có quần áo che thân, đang ngồi run rẩy xin người qua đường bố thí. Martino không có gì ngoài thanh gươm và bộ đồ binh sĩ đang mặc. Ngài rút gươm cắt ngay chiếc áo choàng làm hai mảnh và trao cho người ăn xin một mảnh. Đêm hôm đó trong giấc ngủ, ngài thấy Chúa Giêsu hiện ra với mình, mặc chính vạt áo mà trong ngày ngài đã trao tặng người ăn xin. Martino còn nghe Chúa Giêsu nói : “Martino, chính anh đã đem cho Ta áo của anh đang mặc.” Năm 23 tuổi, Martino giã từ vũ khí và xin trở thành môn đệ của thánh Hilario thành Poitiers nước Pháp. Ngài được thụ phong linh mục và sau một thời gian ngắn phải lưu đày, ngài trở về Pháp sống khoảng 10 năm, quy tụ các đồ đệ và đi truyền đạo khắp nơi trong nước. Do thỉnh nguyện của dân chúng thành Tours, ngài trở thành vị giám mục của họ. Đức cha là vị mục tử tốt lành và gương mẫu, đã thành lập nhiều đan viện, đã luôn chú tâm vào việc đào tạo hàng giáo sĩ và truyền giảng Tin Mừng cho lương dân. Thánh nhân từ trần năm 397.
Lạy Cha, xưa thánh giám mục Martino đã làm vinh danh Cha khi còn sống cũng như lúc đã qua đời. Nay xin Cha cũng ban cho chúng con những hồng ân kỳ diệu, để dù sống dù chết, chúng con chẳng lìa xa tình thương Cha bao giờ.
Thánh Leo Cả sinh tại Tuscany nước Ý. Ngài trị vì trên ngôi Giáo Hoàng từ năm 440 đến năm 461. Dưới thời kỳ Attilla cai trị dân Hung Nô, người ta gọi đây là “cái roi của Thiên Chúa trừng phạt”, do bọn man di từ các bộ tộc đến xâm chiếm nước Ý. Sau 3 năm chiếm được và cai trị thành phố Aquila, vua hành quân về phía Roma. Thương tâm trước cảnh khổ đau của dân chúng, thánh Leo thân hành đến gặp Attilla. Ngài đã khuyên dụ Attilla để những kẻ xâm lăng này rời khỏi Roma mà không gây nên một thiệt hại nào cho Hội Thánh. Muốn biết về uy tín và đức khiêm nhường của vị Giáo Hoàng này ra sao khiến ngài có thể đổi được ý định của Attilla, chúng ta hãy nghe chính Attilla tuyên bố : “Trong khi Giáo Hoàng Leo nói chuyện với ta, ta thực sự sợ hãi trước cái nhìn nhân từ khiêm nhu của một con người không mang gươm giáo, chỉ mặc tu phục giáo sĩ đang đứng bên cạnh ta. Làm thế nào ta lại có thể bất tuân phục trước lệnh truyền của Giáo Hoàng Leo, người được đặt kế vị thánh Phêrô.” Về sau khi quân Genseric tiến vào Roma, sự thánh thiện và tài lợi khẩu của vị Giáo Hoàng này đã cứu thành khỏi bị tàn phá. Thấy trước tình trạng Hội Thánh sẽ bị bọn lạc giáo tấn công, đức Leo đã triệu tập Công Đồng Chanxêđôn để kết án bè rối này. Các nghị phụ trong Công Đồng đã tuyên bố : “Quả thực, thánh Phêrô đã nói bằng miệng lưỡi của Giáo Hoàng Leo.” Dưới triều Giáo Hoàng của ngài, nhiều thánh đường đã được xây dựng. Ngài còn để lại nhiều lá thư và tác phẩm rất có giá trị lịch sử. Do những thành quả ngài thực hiện được trong Giáo Hội, thánh Giáo Hoàng Leo có biệt danh là Leo Vĩ Đại hay Leo Cả. Ngài qua đời vào ngày 11 tháng 04 năm 461.
Lạy Chúa, Chúa đã xây dựng Hội Thánh Chúa trên nền tảng vững chắc là các Tông đồ, khiến cho sức mạnh của ác thần không tài nào thắng nổi. Xin nhận lời thánh Leo chuyển cầu mà cho Hội Thánh luôn giữ vững chân lý và được vui hưởng thái bình.
Charles Carolo xuất thân từ một gia đình quý phái thuộc dòng dõi Boromeo. Ngài chào đời ngày 02 tháng 10 năm 1538 trong một lâu đài xứ Aron. Năm 21 tuổi, ngài đã đậu bằng tiến sĩ luật. Đức Giáo Hoàng Pio VI đã nâng ngài lên chức Hồng Y và bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Milan, mặc dù ngài chỉ mới 22 tuổi. Carolo trở thành nhà cải cách vĩ đại nhất vào giai đoạn bấy giờ, và hơn bất cứ ai khác, ngài đã giúp rất nhiều cho Giáo Hội trong cơn bão táp vào thời cải Cách do Lutero gây nên. Hoạt động lừng danh của thánh nhân là điều khiển Công Đồng Trento và cho áp dụng những sắc lệnh của Công Đồng. Ngoài ra, ngài cũng thành lập các trường học cho giới nghèo, mở các khóa đào tạo cho hàng giáo sĩ và qua cộng đoàn Oblates, ngài đã huấn luyện cho nhiều linh mục sống cuộc đời thực thánh thiện. Ngài chỉ dạy cho thánh Alosio Gonzaga, đồng thời là cha giải tội và cho vị thánh trẻ này rước lễ lần đầu. Carolo cho mở nhiều bệnh viện và chính ngài đã tự tay phục vụ các bệnh nhân. Ngài nằm ngủ, khi thì trên một ổ rơm, khi thì trên một tấm ván, và ngài sống qua ngày với lương thực là bánh mì đen, hạt dẻ và trái sung khô. Người ta thường trông thấy ngài tham dự các cuộc rước công cộng ngoài đường, khoác vào cổ một sợi dây thừng để tỏ lòng ăn năn đền tội. Tất cả những gì ngài có, ngài đem cho đi và chỉ mặc một tấm áo choàng rách nát cũ kỹ. Trong thời kỳ dịch tả ghê gớm, ngài ngã bệnh và không thể vực dậy nổi. Thánh nhân qua đời vào năm 1548, lúc ấy ngài được 46 tuổi. Thánh Carolo là vị bảo trợ cho các chủng sinh và giáo lý viên.
Lạy Cha, xin hằng ban ơn Thánh Thần cho Hội Thánh như xưa Cha đã ban cho thánh giám mục Carolo, để Hội Thánh biết không ngừng canh tân theo đường lối Tin Mừng, nhờ đó thế giới sẽ tìm thấy hình ảnh trung thực của Đức Kitô.
Martino chào đời tại thành phố Lima nước Pérou vào năm 1579. Cha cậu là người Tây Ban Nha, còn mẹ là người da đen vùng Indian. Vì lớn lên trong cảnh túng nghèo, nên Martino cảm thông sâu xa và hết lòng yêu thương những người nghèo khổ. Khi còn rất trẻ, cậu từng làm thợ hớt tóc dạo. Thời gian này, cậu cũng học được nghề y tá, nhờ đó mà cậu biết cách băng bó vết thương và chăm sóc những người đau yếu. Khi được 15 tuổi, Martino vào sống trong một tu viện dòng thánh ĐaMinh tại Pérou như một người giúp việc. Về sau, Martino trở thành một thầy trợ sĩ. Thầy chu toàn mọi công việc thấp hèn nhất cách vui vẻ và quảng đại, từ việc làm bếp, giặt đồ cho đến việc gác cổng hay chăm sóc người bệnh. Ai ai cũng đều biết đến công việc bác ái của thầy như : cho kẻ đói ăn, nói lời động viên an ủi. Thầy yêu thương mọi loài Thiên Chúa sáng tạo, ngay cả những con chuột nhỏ bé ngoài đồng, dù cho đôi lần chúng mò vào cắn nát những tấm khăn trải giường trong tu viện. Được Chúa ban cho ơn chữa lành bệnh, một lần nọ, thầy Martino chữa cho Tổng Giám mục nước Mexico khỏi bệnh chỉ bằng việc thầy đến chạm nhẹ bàn tay vào ngài. Thầy Martino từ trần do một cơn sốt nặng vào năm 1639 và thầy được phong Chân Phước vào năm 1873. Ngày 06 tháng 05 năm 1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã phong Hiển Thánh cho thầy.
Lạy Cha, Cha đã dẫn đưa thánh tu sĩ Martino qua con đường khiêm nhu ẩn dật đến vinh quang Thiên quốc. Xin cho chúng con ngày nay biết noi gương người để mai sau được cùng người hưởng nhan thánh Cha.
Thánh Giuda Tadeo là cháu của Đức Mẹ và thánh Giuse. Và là bà con của Đức Giêsu. Ngài là anh của thánh tông đồ Giacobe Hậu. Cha của ngài là ông Cleopha, và mẹ của ngài cũng có tên là Maria. Bà này đã đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu lúc người chịu chết, rồi sau đó đã ra mồ đề xức xác Chúa bằng dầu thơm. Vào tuổi thiếu niên và thanh niên, hẳn thánh Giuda phải biết rõ về Đức Giêsu. Thánh nhân đã từ bỏ mọi sự để đi theo Đức Giêsu, Thầy mình. Đôi khi chúng ta thấy hình vẽ thánh Giuda với một tấm ảnh của Chúa, là bởi vì thánh nhân đã nhờ vào danh của Chúa Giêsu mà chữa cho vua Edessa khỏi bệnh phong cùi. Thiên Chúa đã ban cho thánh Giuda có được một năng lực đặc biệt. Có lần kia, ngài ra lệnh cho ma quỷ xuất khỏi những tượng thờ bụt thần, khiến chúng phải té nhào xuống đất, vỡ tan tành thành từng miếng vụn. Thánh Giuda và thánh Simon được phúc tử đạo tại Ba Tư, nơi các ngài đặt chân đến để truyền giáo. Thánh Giuda bị đánh đập tàn nhẫn bằng dùi cui cho đến khi gục chết. Sau đó ngài bị chặt đầu bằng một lưỡi rìu. Hài cốt của ngài hiện nay còn được lưu giữ để tôn kính trong đền thờ thánh Phêrô ở Roma. Thánh Giuda được người ta biết đến như vị bảo trợ cho những ai gặp khó khăn không thể giải quyết được.
Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời các thánh Tông đồ rao giảng để cho chúng con được nhận biết danh Chúa. Xin nhận lời hai thánh Tông đồ Simon và Giuda cầu nguyện mà cho Hội Thánh được phát triển không ngừng khắp nơi trên trần thế.
Antôn sinh tại Sallen nước Tây Ban Nha vào năm 1807. Ngài hoạt động như một nhà truyền giáo tại Catalonia và đảo Canary trong vòng 10 năm bằng việc rao giảng và giúp tĩnh tâm cho nhiều người. Lòng nhiệt thành của ngài đã thôi thúc nhiều linh mục khác dấn thân vào các hoạt động tông đồ do ngài khởi xướng. Vào năm 1849, ngài thành lập hội dòng Những Người Con Của Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Hội dòng này được người ta biết đến với chính tên của ngài là dòng “Claret”. Cha Claret được bổ nhiệm lên chức Tổng Giám mục Santiago nước Cuba. Hoạt động của ngài phục vụ cho Hội Thánh nhưng đã gặp chống đối kịch liệt đến nỗi nhiều lần ngài bị người ta ám sát. Thánh nhân vẫn tiếp tục hoạt động, ngài còn lập thêm dòng các nữ tu của Mẹ Vô Nhiễm chuyên việc giáo dục. Theo thỉnh cầu của Đức Giáo Hoàng Pio IX, ngài trở lại Tây Ban Nha và hiến thân cho việc truyền giáo, đồng thời quảng bá văn chương Kitô giáo. Trong suốt đời của ngài, người ta đã nghe thánh nhân giảng 10.000 bài giảng và ngài cũng đã cho xuất bản 200 cuốn sách hoặc những tuyển tập dành cho cả linh mục lẫn giáo dân. Thánh Claret rất nhiệt thành trong việc quảng bá lòng tôn sùng Bí tích Thánh Thể và Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ bằng lời rao giảng và các tác phẩm của ngài. Thiên Chúa ân thưởng cho sự kết hiệp mật thiết của thánh nhân với Người bằng cách ban cho thánh nhân nhiều đặc ân và ơn chữa lành bệnh tật. Thánh Antôn Claret qua đời trong dòng khổ tu Sito tại Pháp ngày 24 tháng 10 năm 1870, và đã được Đức Giáo Hoàng Pio XII nâng ngài lên bậc Hiển Thánh.
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Antôn Maria giám mục lòng yêu thương và nhẫn nại lạ lùng trong việc nhắc lại cho mọi giới những đòi hỏi của Tin Mừng. Vì lời thánh nhân cầu khẩn, xin cho chúng con biết tìm kiếm Nước Chúa, và nhiệt thành chinh phục anh em về cho Đức Kitô.
Phaolô chào đời tại Genoa ngày 03 tháng 01 năm 1694. Tuổi trẻ của ngài là những chuỗi ngày trong trắng và đạo hạnh. Ngày nọ, trong một thị kiến, thánh nhân được soi sáng cho biết ngài sẽ thành lập một hội dòng để tôn kính cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu Kitô. Ngài được Đức Giám mục truyền phải mặc y phục mà chính ngài đã nhìn thấy trong lúc được thị kiến. Bộ tu phục này các tu sĩ dòng Thương Khó ngày nay vẫn mặc. Thánh nhân chọn huy hiệu của hội dòng là một trái tim có ba lưỡi đinh để diễn tả những cực hình Chúa Giêsu đã phải chịu. Lúc đầu, thánh Phaolô đi rao truyền về cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu như một giáo dân. Ngài phải chịu rất nhiều Thánh Giá để thử thách ơn gọi của mình. Trừ người anh của ngài ra, còn tất cả những người bạn cùng chí hướng với ngài lúc ban đầu đều bỏ rơi ngài. Nhưng sau đó, vào năm 1741, luật dòng mà ngài soạn ra cũng đã được Đức Giáo Hoàng Benedito thứ XIV châu phê. Nhà đầu tiên của các tu sĩ dòng Thương Khó được mở tại Orbitenlo. Về sau, thánh nhân còn thiết lập các cộng đoàn tu lớn hơn tại Roma. Trong vòng 15 năm tại Ý, thánh nhân luôn là một nhà truyền giáo không biết mệt mỏi. Thiên Chúa đã ban cho ngài ơn thu phục được rất nhiều linh hồn, nhưng ngài lại có đời sống thực khắc khổ, luôn cho mình chỉ là tên đầy tớ vô dụng và là một người muôn vàn tội lỗi. Thánh nhân qua đời tại Roma vào năm 1775, đang lúc bài Thương Khó được cất lên đức ngài đi vào cõi vĩnh hằng, hưởng thọ 81 tuổi.
Lạy Cha, Cha đã ban cho thánh Phaolô linh mục lòng biết tha thiết yêu mến Thập giá Đức Kitô. Xin làm cho chúng con biết noi gương thánh nhân để lại mà can đảm vác thập giá của mình.
THÁNH ISAAC JOGUES
Chào đời tại Pháp vào năm 1607, khi lớn lên Isaac luôn ước muốn sau này mình sẽ trở thánh một nhà truyền giáo. Ngài vào dòng Tên Chúa Giêsu và được sai đến lãnh thổ được gọi là nước Canada ngày nay. Niềm vui thực khôn tả khi ngài đặt chân tời bờ biển của Tân Thế Giới. Bao năm qua, ngài từng mơ ước đưa dẫn những người da đỏ trở về nhận biết vương quyền của Đức Kitô. Cha Isaac và các bạn phải trải qua thật nhiều nỗi gian truân và luôn luôn trong tư thế sẵn sàng bị mất mạng khi dám dấn thân vào môi trường truyền giáo với đầy hiểm nguy và xa lạ này. Trong một chuyến viễn du đến Québec để cung cấp lương thực và thuốc men cho dân chúng, cha Isaac và bạn đồng hành đã bị một nhóm người Iroqois vây bắt. Họ là dân rất hiếu chiến thuộc các bộ tộc da đỏ. Các ngài bị họ bắt nhốt và đánh đập không một chút thương hại trong vòng nhiều tháng trời. Khi chính phủ nước Pháp đến mang lại cho người dân ở đây sự tự do, cha Isaac nói : “Trừ khi ý Chúa muốn là tôi phải ra đi, chứ tôi rất thích được ở lại chốn này, dù chỉ như một tù nhân.” Về sau cha buộc phải rời khỏi đây để trở về Pháp. Thế nhưng sau đó, cha Isaac lại tìm cách đến sống và truyền giáo cho những người da đỏ. Và một buổi chiều kia, cha bị bắt và dẫn vào lều trại của viên thủ lãnh người Iroqois. Tại đó, bọn người man rợ đã dùng búa của họ đập nát đầu nhà truyền giáo.
Lạy Cha, Cha đã sai thánh Isaac cùng các bạn đi rao giảng Tin Mừng và cuối cùng, các ngài đã hy sinh mạng sống để thánh hóa Giáo Hội miền bắc Mỹ châu ngay từ những bước đâu. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu cho Giáo Hội khắp mọi nơi luôn được mùa trên cánh đồng truyền giáo.
Thánh Luca sinh tại Antiokia xứ Syria. Ngài là người gốc Hy Lạp và cũng là một lương y chuyên nghiệp. Ngoài ra, thánh nhân còn có tài hội họa. Nhiều người Hy Lạp biết đến thánh nhân qua những bức họa vẽ về Chúa Giêsu và Đức Mẹ mà ngài còn để lại. Thánh Luca là một trong những người ngoại đón nhận đức tin vào Chúa sớm nhất. Về sau, thánh nhân trở thành người đồng hành với thánh Phaolô trong hành trình truyền giáo thứ hai và thứ ba. Thánh Luca ở với thánh Phaolô khi ông bị tù ở Cesare và Roma. Thánh Phaolô nhắc đến thánh Luca bằng cách gọi ngài là “vị thầy thuốc nhân ái” và là “người đồng lao cộng khổ”. Ngài vượt biển cùng với thánh Phaolô và Sila từ Troa đi đến Macedonia và sống tại Philipphe trong suốt 7 năm, chia sẻ với Phaolô khi phải đắm tàu và những lúc khốn khó trong hành trình đi đến Roma. Qua những thư mục vụ của thánh Phaolô, ta biết được rằng thánh Luca là người môn đệ trung thành của Chúa Giêsu cho đến cùng. Thánh Luca là tác giả của cuốn Tin Mừng thứ ba, được viết vào trước năm 63. Ngài cũng viết sách Công Vụ Tông Đồ. Biểu tượng của ngài là một con bò, tế vật hy sinh, bởi vì sách Tin Mừng của ngài bắt đầu với câu chuyện về tư tế Zacaria, người đã dâng lễ vật cho Thiên Chúa. Ngài viết về chức tư tế của Đức Kitô. Ngài cũng trình bày về những công việc diệu kỳ Thiên Chúa đã thực hiện lúc Hội Thánh khởi đầu và về các hoạt động của thánh Phaolô với những phép lạ kèm theo mà chính ngài là nhân chứng.
Lạy Chúa, Chúa đã chọn thánh Luca, sai đi rao giảng và viết sách Tin Mừng, để làm cho mọi người nhận biết Chúa đặc biệt yêu thương những kẻ khó nghèo. Xin cho những người manh danh Kitô hữu được đồng tâm nhất trí với nhau, hầu muôn dân được thấy ơn cứu độ.
Thánh Inhaxio sinh tại Syria, gia nhập Kitô Giáo và trở thành vị giám mục thành Antiokia. Vào năm 107, hoàng đế Trajan đến Antiokia và ép buộc các Kitô hữu ở đó chọn hoặc phải chết hoặc phải bỏ đạo. Thánh nhân dứt khoát không chối bỏ Chúa Kitô, nên ngài đã bị kết án tử hình tại Roma. Trên chuyến hành trình dài tiến về Roma, ngài đã viết 7 lá thư. Năm trong số 7 lá thư này được viết cho các Hội Thánh vùng Tiểu Á để thúc giục các Kitô hữu tại đây hãy sống trung thành với Thiên Chúa và phải luôn vâng lời các vị lãnh đạo tinh thần của họ. Lá thư thứ 6 thánh Inhaxio gởi cho Đức cha Policarpo, giám mục thành Smyrna để động viên ngài và về sau chính vị giám mục này cũng đã được phúc tử đạo để minh chứng niềm tin vào Thiên Chúa. Lá thư cuối cùng, thánh Inhaxio mời gọi các tín hữu ở Roma đừng ngần ngại chối từ hạnh phúc được hy sinh mạng sống vì Đức Tin. Ngài viết : “Chỉ một điều tôi xin anh chị em là cho phép tôi được đổ máu mình làm hiến tế dâng cho Thiên Chúa. Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa, ước chi tôi bị răng thú dữ nghiền nát để tôi trở nên tấm bánh tinh tuyền của Đức Kitô.” Vào năm 107, tại quảng trường Coliseum, thánh Inhaxio đã làm mồi ngon cho các con sư tử hung dữ. Nhờ tình yêu nồng nàn đối với Chúa, thánh Inhaxio đã chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt đến mối hiệp nhất trong Hội Thánh và lòng trung thành son sắt với Đức Kitô.
Lạy Cha, thánh Inhaxio tử đạo đã trở thành hạt lúa miến của Chúa Kitô cho thú dữ nghiền nát, và nhờ đó đã trở nên bánh tinh tuyền được Cha thương chấp nhận. Nay xin Cha cũng ghé mắt nhân từ nhìn đến của lễ chúng con dâng.
Gierado chào đời tại Muro nước Ý ngày 23 tháng 04 năm 1726. Cha ngài là một thợ may. Ông qua đời khi Gierado mới 12 tuổi nên gia đình phải sống trong cảnh hết sức túng quẫn. Vì sức khỏe không khả quan, Gierado không thể vào tu trong dòng Capuchino, thế nhưng được các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế chấp nhận vào hàng trợ sĩ. Thầy làm mọi việc để phục vụ : khi thì coi phòng Thánh, khi thì làm vườn hay bốc vác, có lúc làm y tá, có khi làm thợ may. Suốt cả cuộc đời, thầy Gierado được gọi là “người thợ tuyệt vời” là vì nhờ lời thầy khẩn cầu mà rất nhiều việc lạ lùng đã xảy ra. Thầy được ban cho một kiến thức rất đặc biệt. Nhờ có tinh thần khổ chế cách anh hùng, thầy thinh lặng chấp nhận mọi khổ đau. Có lần một phụ nữ với ý đồ xấu, đã tố giác thầy làm điều đồi bại với bà ta, nhưng về sau chính bà đã xưng thú tất cả. Có lẽ vì thế, hay vì có lần khác thánh nhân đã giúp đỡ cho một phụ nữ sắp sinh con, nên ngài được kêu cầu với danh hiệu “Vị bổn mạng của các bà mẹ đang mang thai”. Gierado từ trần vì bị bệnh lao vào năm 1755 khi thánh nhân mới 29 tuổi. Lời nói cuối cùng của ngài là : “Chính nơi đây, ý Chúa đã thành sự như Người muốn và Người muốn sao cũng được.” Đây cũng là hàng chữ ngài gắn tại cửa căn phòng làm việc của mình. Thầy Gierado được Đức Giáo Hoàng Pio X phong Hiển Thánh vào ngày 11 tháng 12 năm 1904.
Lạy Cha, với ơn Cha trợ giúp, thánh Gierado đã kiên trì noi gương Đức Kitô sống đời khiêm nhường nghèo khó. Nhờ lời thánh nhân cầu bầu, xin ban cho chúng con trung thành bước theo lời Cha mời gọi và đạt tới đức trọn lành mà Cha đã ban cho chúng con qua Con Một của Cha.
THÁNH MARGARITTA MARIA ALACOQUE
Thánh nữ Margaritta sinh năm 1647 tại nước Pháp. Ngài bị tàn tật nhưng được Đức Trinh Nữ Maria chữa lành. Để tỏ lòng biết ơn, thánh nữ hứa dâng hiến trọn đời mình cho Thiên Chúa. Năm 17 tuổi, thánh nữ được Chúa Giêsu hiện ra với ngài, thân hình Chúa Giêsu tan nát y như khi Người chịu đánh đòn. Sau đó, thánh nữ đã lập tức quyết định xin gia nhập dòng các nữ tu Thăm Viếng. Dì Margaritta rất yêu mến Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Chính Chúa Giêsu đã tỏ trái tim Người cho dì trong 4 lần thị kiến. Những tai sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu là biểu hiện tình yêu nồng cháy của Người dành cho chúng ta, đồng thời cũng diễn tả mong muốn của Người là chúng ta hãy biết đáp trả lại tình yêu của Người. Vòng gai bao quanh trái tim tượng trưng cho sự hy sinh Người chịu vì tội lỗi loài người. Chúa Giêsu đã hứa với thánh nữ ít nhất 12 điều. Trong các lời hứa này, có lời Chúa Giêsu hứa chúc phúc đặc biệt cho những ai làm việc tôn sùng Trái Tim Người, hay lời hứa sẽ ban cho họ mọi ơn cần thiết trong cuộc đời. Chúa Giêsu cũng hứa ban ơn được chết lành, nếu người ta rước lễ liên tục trong 9 ngày thứ Sáu đầu tháng. Chúa Giêsu phán với thánh nữ : “Hãy nhìn ngắm để biết Thánh Tâm yêu thương loài người đến dường nào, nhưng loài người lại không muốn đáp trả lại tình yêu ấy. Qua con, Ta ước muốn được mở rộng tình yêu trong trái tim thần linh của Ta cho mọi nơi trên toàn trái đất.”
Lạy Chúa, xin tuôn đổ vào lòng chúng con ơn Thánh Thần, như xưa Chúa đã rộng ban cho thánh nữ Margaritta Maria. Nhờ đó, chúng con sẽ hiểu biết tình thương của Đức Kitô là tình thương vượt quá sự hiểu biết của loài người, và chúng con sẽ được đầy tràn sức sống viên mãn của Chúa.
Têrêsa là con gái của một gia đình quý phái nước Tây Ban Nha. Lúc chỉ mới lên 7, Têrêsa và cậu em trai rất thích đọc những câu chuyện trong sách Hạnh Các Thánh. Một trong các trò chơi mà hai chị em ưa thích nhất là đóng vai các vị thánh ẩn tu trong khu vường của cha mình. Khi còn rất trẻ, Têrêsa đã bị bệnh và bị tàn tật đôi chân khiến cô không thể bước đi được dù chỉ nửa bước. Nhưng nhờ lời cầu nguyện tha thiết với thánh cả Giuse, Têrêsa đã được bình phục hoàn toàn. Têrêsa mồ côi mẹ khi lên 12 tuổi. Không còn mẹ ở trên trần gian, cô đã xin Mẹ Thiên Chúa ở trên trời làm người mẹ của mình. Sau khi mẹ mất được 5 năm, Têrêsa gia nhập dòng Cát Minh. Là tu sĩ của dòng, Têrêsa cho xây thêm nhiều tu viện mới. Bằng một đời sống liên lỉ nguyện cầu trong thanh vắng, thánh nữ đem về cho Chúa Giêsu rất nhiều linh hồn. Thánh Têrêsa cũng viết nhiều sách tu đức, trong đó người ta nhận ra tình yêu nồng cháy của thánh nữ đối với Chúa. Chính thánh Têrêsa viết ra những lời tuyệt đẹp sau đây : “Đừng để cho điều gì làm cho bạn phải lo lắng. “Không để sự gì khiến bạn phải sợ hãi. “Mọi sự rồi sẽ qua đi. “Thiên Chúa chẳng bao giờ thay đổi. “Lòng kiên nhẫn giúp bạn có được mọi sự. “Chỉ có Chúa mới cho bạn no thỏa.” Vào ngày 04 tháng 10 năm 1582, Chúa Giêsu cùng với nhiều vị thánh hiện ra với Têrêsa. Thánh nữ cầu xin Chúa cho mình được về với Chúa. Vừa cầu nguyện xong, linh hồn thánh nữ được bay thẳng về trời.
Lạy Chúa, Chúa đã ban ơn Thánh Thần soi sáng thánh nữ Têrêsa Giêsu, để người vạch ra cho Hội Thánh một con đường dẫn tới đỉnh cao hoàn thiện. Xin cho chúng con được hấp thụ giáo huấn của người, và luôn luôn khát khao sống cuộc đời lành thánh.
Thánh Maria Soledad là đấng sáng lập dòng Tôi Tớ Đức Maria, một hội dòng chuyên phục vụ các bệnh nhân. Ngài sinh ngày 02 tháng 12 năm 1826 tại thành phố Madrid, Tây Ban Nha. Thánh nữ gặp cha Miguel Martinez Sanz và được cha tỏ ý muốn thành lập một hội dòng dành cho giới phụ nữ. Hội dòng này sẽ tận hiến cho Đức Maria để chăm sóc các bệnh nhân, đặc biệt tại nhà của họ. Ngày 15 tháng 08 năm 1851, Maria Soledad và 6 phụ nữ trẻ khác khởi sự việc sống đời tu trì của họ. 5 năm sau khi thành lập hội dòng này, Maria Soledad được bổ nhiệm làm vị Bề trên tiên khởi và đã khéo léo tổ chức để hội dòng hoạt động thật hiệu quả. Cuộc sống của ngài cho thấy một đức ái hoàn hảo, lòng khiêm nhường thẳm sâu, tính hiền hậu và các nhân đức phi thường. Các đặc tính này đã tạo ra sức cuốn hút và tình thương mến chân thành của các nữ tu cũng như của dân chúng khắp nơi. Nhờ sống kết hợp mật thiết với Chúa, thánh Maria Soledad luôn làm mọi việc để tôn vinh Danh Thánh và đặt trọn niềm tin cậy vào sự trợ giúp của Chúa. Để mỗi ngày trở nên giống Chúa Kitô hơn, thánh nữ đã phải chịu đựng rất nhiều những hiểu lầm và nỗi cơ cực trong đời sống hàng ngày. Maria Soledad từ trần ngày 11 tháng 10 năm 1887 và được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phong Thánh ngày 25 tháng 01 năm 1970. Ngày nay con số nữ tu trong hội dòng thánh nữ sáng lập đã lên tới trên 2500 chị, và đang hoạt động tại hơn 20 quốc gia trên khắp thế giới.
Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa đã mời gọi thành nữ Maria Soledad sống đức ái hoàn hảo để ngài tìm thấy hạnh phúc Nước Trời ngay trên trần gian này. Nhờ lời thánh nữ chuyển cầu, xin ban cho chúng con ơn trợ giúp để chúng con can trường, lòng hân hoan bước đi theo con đường yêu thương của Chúa.
Khi còn trẻ, Phanxicô rất ham thích vui chơi. Gia đình của Phanxicô rất giàu có. Thế nhưng một ngày kia, khi phải một trận ốm nặng, Phanxicô nghe được tiếng Chúa mời gọi từ bỏ mọi sự thế gian để bước đi theo Người. Trước tiên, Phanxicô đến viếng thăm các bệnh viện và phục vụ các bệnh nhân. Thánh nhân thường nói : “Ai phục vụ người nghèo là phục vụ chính Chúa Kitô.” Về sau, Phanxicô mặc y phục của một người mục tử nghèo nàn và bắt đầu ra đi rao giảng cho người ta về sự bình an với Thiên Chúa, bình an với tha nhân và với chính mình. Thánh nhân nhìn thấy, không những trong mọi người mà trong cả mọi vật như là những người anh, chị, em của ngài, bởi vì tất cả được cùng một Thiên Chúa sáng tạo. Thánh Phanxicô cùng với 12 người bạn đi tới Roma để xin phép Đức Thánh Cha cho hội dòng của ngài được bắt đầu hoạt động, đó là dòng Thánh Phanxicô Khó Khăn. Thánh Phanxicô cũng giúp thánh Clara trong việc thành lập dòng nữ khó nghèo Clara. Trong một thị kiến, thánh Phanxicô thấy Chúa Giêsu treo mình trên Thánh Giá. Năm vết thương từ thân thể Chúa Giêsu in dấu lên đôi tay, đôi chân và cạnh sườn của thánh nhân và còn mãi trong suốt cả cuộc đời ngài. Khi thánh Phanxicô trở nên yếu sức, ngài cầu nguyện : “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã gởi đến cho con những cơn đau mà con đang phải chịu.” Thánh nhân từ trần vào ngày 04 tháng 10 năm 1226.
Lạy Chúa, Chúa đã soi sáng cho thánh Phanxicô chọn cuộc đời hèn mọn khó nghèo, để trở nên hình ảnh sống động của Đức Kitô. Xin cho chúng con hằng noi gương thánh nhân để lại mà thiết tha gắn bó cùng Chúa, và hăm hở bước theo Đức Kitô, lòng chan chứa an vui và đầy tràn yêu mến.
Lúc lên 8 tuổi, Têrêsa được chữa khỏi căn bệnh hiểm nghèo, nhờ một lần kia, tượng Đức Trinh Nữ Maria bỗng dưng nở một nụ cười với em. Khi Têrêsa còn thơ bé, em đã biết làm những việc tốt cho mọi người, dù chỉ là những việc nhỏ bé. Để chuẩn bị cho ngày rước lễ lần đầu, Têrêsa đã làm những việc hy sinh nhỏ. Em trở thành một người bạn rất thân tình của Chúa Giêsu. Có lần Têrêsa đã nói : “Từ lúc mới lên 3, em chưa bao giờ từ chối bất cứ điều gì với Chúa. Em chưa bao giờ dâng cho Chúa điều gì cả, ngoại trừ lòng yêu mến của em.” Têrêsa vào đan viện Cát Minh khi cô mới 15 tuổi. Cô mong muốn được cứu các linh hồn bằng lời cầu nguyện kèm theo những hy sinh cùng với những đau khổ âm thầm, cô giúp các linh mục trong việc đem ơn cứu rỗi đến cho các linh hồn. Con đường thơ ấu thiêng liêng của Têrêsa chính là lòng yêu mến Chúa và niềm tín thác trọn vẹn nơi Người. Thánh Têrêsa được gọi là Bông Hoa Nhỏ của Chúa Giêsu, bởi vì thánh nữ yêu mến Chúa Giêsu Hài Đồng và giống như Chúa Giêsu, thánh nữ thực thi những việc nhỏ bé để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Vào giờ phút hấp hối, thánh nữ Têrêsa ôm chặt tượng chịu nạn trong lòng, đôi mắt đăm đăm nhìn lên trời và nói : “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa. Con yêu Chúa, Chúa của con.” Thánh Têrêsa qua đời vào năm 1897, lúc thánh nữ được 24 tuổi.
Lạy Chúa là Cha nhân lành, Chúa mở cửa Nước Trời cho những ai bé mọn. Xin cho chúng con hàng ngày biết theo chân thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu bước đi trên con đường phó thác, để muôn đời được chiêm ngưỡng thánh nhan.
Thánh Hieronimo sinh tại Dalmatia và được gởi đi học tại Roma. Ngài đến viếng thăm nhiều thành phố tại nhiều quốc gia và dấn thân cho ngành khoa học, hùng biện, và sau cùng trở thành một luật sư. Đã có thời gian, ngài sống một cuộc đời rất thế tục, nhưng sau này tại Roma, ngài đã được rửa tội. Sau khi sang phương Đông du lịch và có cơ hội gặp gỡ nhiều người có cuộc sống thánh thiện, Hieronimo quyết định vào sống trong sa mạc Chalcis ở Syria. Tại đây, ngài trải qua 4 năm cầu nguyện, nghiên cứu và hãm mình. Ngài viết về chính mình như sau : “Phải mặc áo vải nhặm bằng bao bố, nên da của tôi trở nên khô đét. Vì sợ hỏa ngục, tôi phải lui về đây. Lấy hang rắn rết và thú hoang làm nơi cư ngụ.” Một lần kia, ngài đã rút cái gai ra khỏi chân một con sư tử, để tỏ lòng biết ơn vị ân nhân của nó, con thú này đã ở với ngài cho đến mãi về sau. Thánh Hieronimo trở thành vị linh mục tại Antiokia. Ngài sang Palestin gia nhập một đan viện ở Bethlem. Ở đó, ngài dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh và Hy Lạp. Đây là một công việc có ý nghĩa nhất trong cuộc đời ngài. Trong vòng 30 năm, ngài viết rất nhiều tác phẩm giá trị, đặc biệt là những bài viết liên quan đến Kinh Thánh. Thánh nhân qua đời vào năm 420 và được mai táng gần Bethlem. Sau này hài cốt của ngài được đưa về Roma.
Lạy Cha, Cha đã ban cho thánh linh mục Hieronimo trí thông hiểu và lòng yêu mến Kinh Thánh. Xin cho chúng con hằng thiết tha tìm đến lời Cha là nguồn mạch ban sức sống dồi dào.
(Vị bảo trợ các công nhân ngành thông tin liên lạc)
Theo như sách Ngôn sứ Daniel cho biết, chính Tổng lãnh Thiên thần Gabriel là đấng đã loan báo cho Daniel biết thời gian Đấng Messia ra đời. Như thánh sử Luca đã tường thuật, vị Tổng lãnh Thiên thần này cũng hiện ra với ông Zacaria, “đứng bên phải hương án”, để cho biết việc thánh Gioan Tẩy Giả sẽ chào đời. Vinh dự lớn nhất của Tổng lãnh Thiên thần Gabriel là được phái đến với Đức Maria ở Nazareth và loan báo cho Mẹ rằng Mẹ sẽ là Mẹ Thiên Chúa. Với lời “Xin Vâng” của Mẹ, “Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta”. Tên Gabriel có nghĩa là “sức mạnh của Thiên Chúa”. Tổng lãnh Thiên thần đóng vai vị sứ giả trong những công việc nào biểu hiện quyền năng và vinh quang Thiên Chúa. Một số vị Giáo Phụ của Hội Thánh Công Giáo cho rằng ngài đã ở với Đức Giêsu lúc Chúa cầu nguyện tại vườn Cây Dầu. Ngài là vị thiên sứ của mầu nhiệm nhập thể, của sự ủi an và lòng nhân từ. Qua nhiều thế kỷ, Tổng lãnh Thiên thần Gabriel rất được các tín hữu Kitô tôn kính. Đặc biệt, chúng ta thấy chân dung của ngài trong biến cố Đức Maria được truyền tin. Bởi vì Tổng lãnh Thiên thần Gabriel đã để lại cho chúng ta lời chào Đức Mẹ đầu tiên “kính mừng Maria”, chúng ta hãy xin ngài giúp chúng ta biết siêng năng đọc kinh Mân Côi với lòng thành kính.
Lạy Chúa, trong hàng ngũ các thiên thần, Chúa đã chọn Tổng lãnh Thiên thần Gabriel để loan báo về mầu nhiệm nhập thể của Con Chúa. Xin Chúa ban cho chúng con đang khi tôn kính người trong cuộc sống trần gian hôm nay cũng luôn cảm nghiệm được sự che chở đỡ nâng của người từ tòa cao Thiên quốc.
TỔNG LÃNH THIÊN THẦN
MICAE
(Bổn mạng ngành cảnh sát)
Thiên Chúa dựng nên các thiên thần. Đó là vô sồ những vị thần lành được tràn ngập ánh sáng và tình yêu, hầu cận quanh ngai tòa Thiên Chúa trên thiên đàng. Thiên Chúa ban cho các vị này những ân huệ tuyệt diệu đó là sự thánh thiện, vẻ đẹp và ơn khôn ngoan. Thiên Chúa còn thử xem họ có thực sự yêu mến phụng thờ Người hay không, trước khi họ được diện kiến thánh nhan Người trong vinh quang của nước trời. Một trong các vị thiên thần sáng giá nhất là Lucifer. Danh từ Lucifer có nghĩa là “người mang ánh sáng”. Lucifer kiêu hãnh vì hắn được ban cho đầy quyền năng. Để chứng tỏ sự bất phục tùng của hắn, hắn tuyên bố : “Ta nhất định sẽ không phụng thờ Thiên Chúa.” Thế nhưng, lại có một vị thiên thần vĩ đại khác chứng tỏ sự tùng phục trong yêu thương của mình trước uy quyền của Thiên Chúa với tên gọi “Micae : Ai bằng Thiên Chúa?”. Trong một trận ác chiến, các vị thần lành đã thắng trận và đẩy các thần dữ xuống hỏa ngục. Để thưởng công cho tình yêu và sự tùng phục của Micae, Thiên Chúa đã đặt ngài làm vị Tổng lãnh các Thiên thần. Ngay từ lúc khởi thủy, thánh Micae, Tổng lãnh Thiên thần đã che chở dẫn dắt dân được Chúa tuyển chọn. Vào thời Tân Ước, ngài là vị thiên thần bản mệnh và là vị bảo trợ Hội Thánh Công Giáo.
Lạy Cha là Đấng Thượng trí vô song, Cha đã muốn cho thiên thần và người thế cộng tác vào chương trình cứu độ. Xin cho các thiên thần đang phục vụ Cha trên trời cũng luôn phù hộ chúng con dưới thế.
TỔNG LÃNH THIÊN THẦN
RAPHAE
(Bổn mạng các du khách)
Raphae xuất hiện lần đầu tiên trong Kinh Thánh ở sách Tobia. Ngài tự xưng mình là Azaria. Lúc đó dưới hình hài của một con người, ngài bước đi song hành với một người thanh niên trẻ tên là Tobia trong chuyến đi của chàng tới Rages. Tobia đến thành phố xứ Medes để lấy lại số nợ về cho người cha của chàng. Thiên thần Raphae đã gìn giữ Tobia khỏi mọi hiểm nguy và đưa chàng an toàn trở về nhà cha của mình. Ngài cũng đã tìm cho người thanh niên trẻ này cô vợ rất ngoan hiền, đồng thời chữa cho người cha của chàng khỏi mù bằng mật cá lấy ra từ một con cá do chính tay Tobia bắt được. Vị thiên thần này đã tỏ cho người ta biết về ngài qua câu nói sau : “Ta là Tổng lãnh Thiên thần Raphae, một trong 7 vị thần đứng hầu cận trước ngai tòa Thiên Chúa.” Người ta thắc mắc tại sao Thiên Chúa lại gởi đến cho Tobia một vị thiên thần. Thiên thần Raphae cho biết : “Bởi vì anh ta luôn mến yêu kính thờ Chúa, anh đã chôn xác kẻ chết, đã đối xử tử tế với người nghèo và chịu đựng mọi thử thách cách dũng cảm, nên Thiên Chúa đã sai tôi đến với anh ấy. Chúc tụng Chúa tể trời đất đã tỏ lòng xót thương đến con cái loài người!” Tên Raphae có nghĩa là “Thiên Chúa chữa lành”. Thánh thiên thần Raphae là vị bảo trợ cho các du khách, các nhà vật lý. Riêng với các bạn trẻ, ngài giúp đỡ họ trong con đường họ đã chọn. Ngài được gọi là vị thiên sứ Tình Yêu và Niềm Vui.
Lạy Chúa, Chúa đã gởi Tổng lãnh Thiên thần Raphae đến với người tôi tớ Chúa là ông Tobia như người bạn thân trong hành trình của ông. Xin ban cho chúng con luôn được cánh tay người bảo trợ chở che và được sức mạnh của người thương yêu trợ giúp.
VinhSơn chào đời tại Pháp năm 1581. Khi còn là một linh mục trẻ, ngài đã bị bọn hải tặc người Thổ bắt và bán cho dân nô lệ. Suốt 2 năm trời, ngài phải làm việc cực nhọc cho ông chủ là người đã mua ngài về. Đến ông chủ cuối cùng, thánh nhân đã giúp ông ta theo đạo và sau đó ngài được trả tự do. Thánh VinhSơn được gởi đi phụ việc cho một xứ đạo gần Paris. Ngài là một người bạn thân thiết với những ai túng nghèo. Ngài tổ chức các nhóm để họ chăm lo cho các nhu cầu của người nghèo khổ. Các phụ nữ thì lo việc săn sóc kẻ đau yếu bệnh tật và nấu ăn cho họ. Cánh đàn ông thì lo kiếm công việc cho những người nghèo nào còn có thể đi làm, cung cấp thức ăn và quần áo cho những ai không thể đi làm được. Thánh VinhSơn cũng thành lập nhóm các Nữ Tử Bác Ái. Nhờ sự giúp đỡ của các nữ tu này, ngài thu gom tiền bạc để may quần áo và tìm của ăn cho người nghèo, cũng như để chăm sóc kẻ bệnh tật. Thánh nhân cũng xây nhà ở cho người nghèo, kẻ ốm đau, người già nua và trẻ em bị bỏ rơi. Thánh VinhSơn còn thành lập hội dòng Truyền Giáo hay còn gọi là thu hội La-gia-rít, một tu hội gồm các linh mục và các nhà truyền giáo. Ngài sống gần đến 80 tuổi thì qua đời tại Paris năm 1660. 50 năm sau khi chôn cất, thân xác của thánh nhân vẫn không bị hư nát. Thánh VinhSơn được mang danh là vị Tông đồ của các tổ chức bác ái. Tu hội thánh VinhSơn Truyền Giáo vẫn tiếp tục sự nghiệp của ngài trong công việc phục vụ người nghèo.
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh VinhSơn Phaolô, linh mục, mọi đức tính xứng bậc tông đồ, để thánh nhân phục vụ người cùng khốn và đào tạo hàng giáo sĩ. Xin cho chúng con biết nghe lời người dạy, bắt chước việc người làm mà xả thân vì bác ái.
Mattheo còn gọi là Levi, là con trai ông Anphe. Ngài sống ở Capharnaum, gần hồ Genesareth. Sách Tin Mừng thứ Nhất được Mattheo viết, trong đó, ngài kể về việc ngài được kêu gọi để trở thành tông đồ như thế nào. Một ngày kia, đang ngồi tại bàn thu thuế, Mattheo thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình, và khi Chúa Giêsu nói : “Hãy theo tôi!” Mattheo liền bỏ công việc đang làm và đi theo Thầy. Mọi người ai nấy đều rất ngạc nhiên khi thấy một người thu thuế của đế quốc Roma như Mattheo lại trở nên một trong những người bạn chí cốt và là một đồ đệ của Chúa Giêsu. Mattheo cũng kể cho chúng ta về bữa tiệc mà ngài đã khoản đãi Chúa Giêsu. Đây là bữa ăn từ giã công khai với các bạn bè cũ của ông. Có nhiều người thu thuế và tội lỗi đã đến ngồi ăn đồng bàn với Chúa Giêsu và các môn đệ khác. Chúa Giêsu tuyên bố : “Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính mà là kẻ tội lỗi.” Thánh Mattheo viết sách Tin Mừng để giúp người Do Thái xác tín rằng Đấng Messia đã đến trần gian trong con người của Chúa Giêsu Kitô. Biểu tượng ngài dùng là một người thanh niên, bởi vì ngài mở đầu Tin Mừng của mình với gia phả của Chúa Giêsu và ngài nhấn mạnh đến đặc tính nhân loại của Đức Kitô. Thánh nhân rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái trong vòng 15 năm. Ngài còn được gọi là vị Tông đồ của người Ethiopia. Ở Salenmo, miền nam nước Ý có ngôi đền thờ lớn kính thánh nhân.
Lạy Cha, Cha đã mở lượng từ bi khôn tả chọn một người thu thuế là thánh Mattheo làm Tông đồ rao giảng Tin Mừng. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương người, luôn hết tình gắn bó với Chúa Kitô.
Roberto sinh tại Ý vào năm 1542. Ngài vào nhà tập trong dòng Tên Chúa Giêsu. Sức khỏe không được khả quan của ngài là một thập giá ngài phải vác trong suốt cả cuộc đời. Sau khi thụ phong linh mục, cha Roberto trở nên một người bảo vệ thật anh dũng cho Giáo Hội để chống lại những người theo phe Thệ Phản Cải Cách. Cả giáo dân lẫn hàng giáo sĩ, tín hữu Công Giáo cũng như Tin Lành đều say mê đọc những cuốn sách ngài viết. Ngài đã sửa lại bản văn Kinh Thánh Latinh như chúng ta có hiện nay, và đã viết lời tựa cho cuốn sách này. Cha Roberto cũng từng là Viện trưởng Viện Đại học của dòng Tên, là Giám tỉnh của dòng ở Napoli, và là nhà thần học cố vấn cho Đức Giáo Hoàng Clemente thứ VIII. Cha viết 2 bộ giáo lý rất nổi tiếng. Đức Giáo Hoàng đã đặt ngài làm Tổng Giám mục Capua, từ đó ngài thôi việc viết sách và bắt đầu công cuộc rao giảng cho dân chúng, dạy giáo lý cho trẻ em, thăm viếng bệnh nhân và giúp đỡ người nghèo. Nhưng 3 năm sau đó, Đức Giáo Hoàng Phaolô thứ V còn nâng ngài lên chức Hồng Y để có ngài làm việc ở bên cạnh. Từ thời gian này về sau, ngài làm Trưởng thư viện Vatican. Được giữ các chức vụ quan trọng của Tòa Thánh, nhưng cha Roberto luôn muốn là một thành viên của dòng Tên. Thánh nhân qua đời vào năm 1621 khi ngài được 79 tuổi.
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh giám mục Roberto Belamino trí thông minh và lòng dũng cảm tuyệt vời để làm người bảo vệ của Hội Thánh. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho dân Chúa luôn giữ đức tin ấy được vẹn toàn.
(Vị bảo trợ cho việc truyền giáo cho người da đen)
Phêrô Claver là một tu sĩ dòng Tên người Tây Ban Nha. Thánh nhân được sai đến Cartagena – Nam Mỹ, và ở đây, ngài đã sống và truyền giáo suốt 40 năm ròng rã cho ơn cứu rỗi của những người dân vùng Phi châu. Ngài khấn hứa sẽ dâng cuộc đời mình để phục vụ cho việc cứu rỗi những người thất học và cùng khốn nhất. Thánh Phêrô Claver tự cho mình là người nô lệ của dân nô lệ. Ngài là vị tông đồ của họ, đồng thời cũng là người cha, là thầy thuốc và là người bạn của họ. Khi hay tin có một chiếc tàu chở nô lệ sắp cặp bến, ngài lập tức đến cảng tìm cách giúp đỡ họ như là những người bạn thân nhất của mình dù họ là những người bệnh tật tanh hôi. Ngài cho họ được mặc quần áo đẹp, được ăn thức ăn ngon và săn sóc họ với sự dịu dàng thương mến. Chúng ta biết được rằng đã có tới 40.000 người nô lệ da đen được thánh nhân rửa tội cho trước khi ngài về hưởng nhan Chúa vào năm 1654. Thánh Phêrô Claver thường nói : “Chúng ta phải nói với họ, nghĩa là với người nô lệ bằng đôi tay trao ban, trước khi nói với họ bằng môi miệng của chúng ta.” Thánh nhân tổ chức những hội từ thiện cho dân Tây Ban Nha tại Cartagena giống như thánh VinhSơn Phaolô đã làm tại Paris, nước Pháp.
Lạy Cha, Cha đã kêu gọi thánh Phêrô Claver làm người phục vụ những người nô lệ và nêu gương bác ái kiên trì đến mức anh hùng. Nhờ lời ngài cầu khẩn, xin cho chúng con tìm kiếm những gì thuộc về Đức Kitô, và yêu mến tha nhân, không chỉ bằng lời nói nhưng bằng cả cuộc sống nữa.
Không biết là ở trong gia đình Thiếu Nhi của chúng ta đã có “Truyện Các Thánh” không? Nhưng mình vẫn mạnh dạn để từ hôm nay chép lại và gửi vô gia đình của chúng ta những sơ lược, tóm tắt về các Thánh của Hội Thánh Công Giáo trong năm, chắc chắn là sẽ không đủ vì khả năng sưu tầm của mình còn hạn chế, và tài liệu mà mình hiện có chỉ nhắc đến các thánh có lễ "Kính" mà thôi... Rất mong các bạn vào đọc và bổ sung thêm giùm mình những thiếu sót chắc chắn phải có... Chân thành cám ơn và cầu xin Thiên Chúa, qua lời bầu cử của các Thánh nhân, ban cho gia đình Thiếu Nhi của chúng ta ơn sốt mến học hỏi, chăm ngoan và luôn cậy tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi.
-----------------------------
Ngày 01 tháng Giêng
ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA
Ngày 22 tháng Tám
NỮ VƯƠNG CÁC THÁNH
Sau cuộc sống và cái chết vô cùng thánh thiện, Đức Trinh Nữ Maria được vinh quang tiến về trời cả hốn lẫn xác và được Con Mẹ tôn phong làm Nữ Vương trên trời. Đức Maria là Nữ Vương bởi vì Con Mẹ là Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi làm người, là Vua và là Chúa muôn loài thọ tạo. Đức Giêsu là Vua của chúng ta vì Người đã cứu chuộc chúng ta. Đức Trinh Nữ Maria là Nữ Vương chúng ta vì Mẹ đã góp phần cách đặc biệt vào việc cứu chuộc chúng ta, vào cuộc chiến cũng như vào vinh quang mà người con của Mẹ đã chiến thắng trên kẻ thù là tội lỗi và ma quỷ. Chính vì thế, Mẹ đáng được chia sẻ vương quyền với con mình. Do đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa và vì những đau khổ Mẹ gánh chịu khi đứng dưới chân thập giá, Đức Maria đã thông phần vào mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc của Con Mẹ. Vì thế, giờ đây, Mẹ phù giúp con cái loài người bằng việc trao ban những ân sủng nhận được từ Con của mình. Thánh Bênađô quả quyết : “Do ý muốn của Thiên Chúa mà chúng ta nhận được mọi ơn lành qua Đức Maria.” Các thánh cũng đã nhận được những ân sủng cần thiết để có thể sống một cuộc đời thánh thiện qua lời chuyển cầu của Đức Maria. Tất cả các nhân đức các thánh tập luyện được đều đến từ Đức Mẹ bằng một phương thế rất kỳ diệu. Mẹ quả là Nữ Vương Các Thánh va là Nữ Vương người thế chúng ta.
Lạy Chúa, Chúa đã đặt Thánh Mẫu của Đức Kitô Con Chúa làm Thánh Mẫu và Nữ Vương chúng con. Xin nhận lời Đức Nữ Vương chuyển cầu mà cho chúng con đạt tới phúc vinh quang Chúa dành sẵn trên trời cho con cái Chúa.
(Truyện các Thánh – Tủ sách Thánh Thể)
thay đổi nội dung bởi: augustino.nghia, 20-06-2011 lúc 08:34 AM